3
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTCK : Thị trƣờng chứng khoán
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, TTCK có vai trò quan trọng, khơi thông
các nguồn vốn trong xã hội và phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn vốn
này vào những dự án đầu tƣ mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời đem lại
lợi nhuận cho những ngƣời đầu tƣ. Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm
khác nhau về việc làm thế nào để tổ chức và quản lý TTCK một cách tối ƣu,
tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất là các ngƣời đầu tƣ luôn phải đƣợc
coi là trọng tâm của thị trƣờng. TTCK sẽ phát huy vai trò là trung tâm huy
động và phân bổ vốn có hiệu quả của nền kinh tế khi các ngƣời đầu tƣ có
niềm tin vào thị trƣờng, quyền lợi của họ đƣợc tôn trọng và bảo vệ.
TTCK Việt Nam hoạt động đã mở ra một kênh huy động vốn mới cho
nền kinh tế. Sau hơn 5 năm hoạt động, tuy quy mô còn nhỏ bé, vai trò tác
động đến nền kinh tế còn chƣa lớn, nhƣng TTCK Việt Nam đã bƣớc đầu thể
và lợi ích hợp pháp của ngƣời đầu tƣ trên TTCK nói chung và nhất là TTCK
tập trung nói riêng.
Uy tín của thị trƣờng đƣợc xây dựng bởi chính những lợi ích mà thị
trƣờng có thể đem lại cho ngƣời đầu tƣ. Để có một môi trƣờng đầu tƣ lành
mạnh, an toàn và hiệu quả, đòi hỏi phải có những cải cách toàn diện từ các
quy định pháp luật công ty, pháp luật kiểm toán, pháp luật về ngân hàng và
các định chế tài chính tới pháp luật về chứng khoán và TTCK, pháp luật bảo
vệ ngƣời đầu tƣ đến tăng cƣờng hiệu lực quản lý của bộ máy quản lý thị
trƣờng, các thiết chế toà án, thi hành án để nhà đầu tƣ có thể sử dụng bảo
vệ mình. Những quy định này sẽ tạo thành một hệ thống đồng bộ, nền tảng
các đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đầu tƣ.
Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Những đảm bảo
pháp lý cho người đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt
6
Nam" để làm Luận văn Thạc sĩ Luật học trong thời điểm hiện nay là rất có ý
nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, đồng thời mang tính cấp thiết cao.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.
Ở Việt Nam, những năm qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về pháp luật
chứng khoán và TTCK, từ các nghiên cứu tổng hợp nhƣ xây dựng khung pháp
lý TTCK Việt Nam đến các nghiên cứu cụ thể nhƣ: hoàn thiện hệ thống công
bố thông tin hay nâng cao hoạt động giám sát thị trƣờng. Trong đó có chứa
đựng những nội dung về bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời đầu tƣ. Đối với
lĩnh vực bảo vệ ngƣời đầu tƣ trên TTCK tập trung, đã có một số đề tài nghiên
cứu trong từng hoạt động cụ thể của TTCK, ví dụ nhƣ đề tài "Khung pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong giao dịch trên thị
trƣờng chứng khoán tập trung" - Mã số: CS.02.05, Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ
Lê Vũ Nam - Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc năm 2002. Các nghiên cứu này
so sánh để giải quyết các vấn đề đặt ra.
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các Nghị quyết
các kỳ Đại hội đảng, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật.
6. ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN.
Những điểm mới của Luận văn thể hiện ở những điểm sau:
- Đây là Luận văn nghiên cứu tổng hợp các đảm bảo về mặt pháp lý để
bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời đầu tƣ trên TTCK tập trung ở Việt Nam.
- Nghiên cứu một cách hệ thống về bản chất, nội dung các biện pháp
pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời đầu tƣ trên TTCK tập trung.
- Căn cứ trên tình hình thực tế các quy định pháp luật điều chỉnh và
thực tế quá trình áp dụng pháp luật. Luận văn chỉ ra những kiến nghị nhằm
hoàn thiện quy định pháp luật và quá trình áp dụng pháp luật cho phù hợp với
8
bản chất của việc bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời đầu tƣ trên TTCK tập
trung.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng với 14 mục.
9
CHƢƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ NGƢỜI ĐẦU TƢ TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM
giao dịch và thị trƣờng phi tập trung [45, tr.288]. Cách giải thích này nhấn
mạnh TTCK với tƣ cách là nơi trao đổi loại hàng hoá đặc biệt nhƣ cổ phiếu,
trái phiếu và công cụ tài chính phái sinh.
TTCK còn đƣợc định nghĩa là nơi các chứng khoán đƣợc phát hành và
trao đổi. TTCK là một bộ phận của thị trƣờng vốn do đặc tính của chứng
khoán trong việc huy động vốn dài hạn" [39, tr.10].
Qua nghiên cứu những định nghĩa về TTCK, chúng tôi đồng ý với quan
điểm: "TTCK là một thị trƣờng mà ở đó ngƣời ta mua, bán, chuyển nhƣợng,
trao đổi chứng khoán theo quy định nhằm mục đích kiếm lời" [36, tr.12].
Những quan điểm khác nhau nêu trên cho thấy có nhiều cách nhìn nhận
về TTCK. Về cơ bản, một thị trƣờng nói chung bao giờ cũng diễn ra các hoạt
động mua, bán, trao đổi hàng hoá, do đó TTCK tất nhiên phải có các hoạt
động này. TTCK có hàng hoá là chứng khoán, giá cả của loại hàng hoá này,
cũng nhƣ hàng hoá thông thƣờng khác, đƣợc hình thành trên cơ sở cung cầu
theo quy luật của thị trƣờng. TTCK đƣợc xem xét ở các khía cạch gồm: các
yếu tố của thị trƣờng nhƣ cung, cầu hàng hoá, giá cả, chỉ số, dịch vụ trung
gian (môi giới, tƣ vấn, bảo lãnh, tạo lập thị trƣờng), dịch vụ hỗ trợ (thanh
toán, bù trừ, lƣu ký, kiểm toán, định mức tín nhiệm ), quản lý; các chủ thể
tham gia thị trƣờng: ngƣời đầu tƣ, các trung gian kinh doanh chứng khoán,
đối tƣợng hỗ trợ cung cấp dịch vụ, tổ chức cung cấp phƣơng tiện giao dịch,
các tổ chức cung cấp hàng hoá và các tổ chức quản lý thị trƣờng. Nhƣ vậy,
TTCK là một hệ thống các yếu tố và mối quan hệ của các chủ thể nói trên.
TTCK có những đặc điểm đặc thù khác biệt với thị trƣờng hàng hoá
thông thƣờng. Về bản chất thì TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn
vốn tiết kiệm cho đầu tƣ; về nguyên tắc hoạt động các giao dịch chứng khoán
diễn ra trên TTCK phải có sự tham gia của các trung gian tài chính làm môi
11
12
Để hiểu đƣợc bản chất của TTCK, cần nghiên cứu "chứng khoán" -
hàng hoá của thị trƣờng này. "Chứng khoán" là khái niệm phức tạp nên có
nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau.
Theo quan điểm truyền thống "chứng khoán là phƣơng tiện xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc
vốn của tổ chức phát hành" [35, tr.9].
Chứng khoán còn đƣợc định nghĩa là "chứng chỉ ghi rõ quyền tài sản
thể hiện quyền chủ nợ và quyền sở hữu và trên cơ sở xác nhận đó có thể thực
hiện việc chuyển giao hoặc thực hiện quyền đối với tài sản" [36, tr.144]
Theo quy định của pháp luật Việt Nam: "Chứng khoán là chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở
hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ chứng khoán, các loại chứng khoán
khác theo quy định của pháp luật" [16, Điều 3]. Về bản chất, chứng khoán có
đặc trƣng là xác nhận quyền chủ nợ hoặc quyền sở hữu đối với chủ thể phát
hành nó.
Mặc dù có nhiều loại chứng khoán và hình thức thể hiện ngày càng đa
dạng nhƣng chứng khoán có một số đặc tính cơ bản sau:
- Tính giá trị: Chứng khoán thể hiện quyền tài sản hay lợi ích tài sản
của ngƣời sở hữu nó đối với chủ thể phát hành. Chứng khoán xác nhận quyền
chủ nợ hoặc quyền sở hữu phần tài sản của chủ thể phát hành nên nó luôn có
những giá trị nhất định. Giá trị của chứng khoán đƣợc thực hiện khi bán các
chứng khoán và khi nhận các khoản thanh toán khi đến hạn đối với các chứng
khoán nợ. Ngoài ra, chứng khoán còn có thể đƣợc sử dụng nhƣ tài sản bảo
đảm trong các giao dịch kinh tế, dân sự. Trong một số trƣờng hợp cũng có
những chứng khoán không có giá trị khi công ty phát hành đã bị phá sản.
- Tính sinh lợi: Thể hiện ở việc ngƣời phát hành ra chúng phải trả cho
ngƣời sở hữu chứng khoán một khoản lợi tức trong tƣơng lai để nhận về mình
quyền hƣởng lợi của ngƣời đầu tƣ đối với quỹ. Trái phiếu, là phƣơng tiện vay
nợ, theo đó, chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào một
thời gian nhất định trong tƣơng lai cho ngƣời sở hữu trái phiếu. Ngoài ra còn
14
có những loại chứng khoán khác nhƣ chứng quyền cho phép ngƣời nắm giữ
nó có quyền mua một khối lƣợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá
đã đƣợc xác định trƣớc trong thời kỳ nhất định [16, Khoản 2 Điều 3]; hợp
đồng lựa chọn là một bản hợp đồng đƣợc soạn ra giữa hai ngƣời xác định cho
ngƣời mua "quyền mua" đƣợc mua một loại chứng khoán với số lƣợng và giá
cả đã đƣợc ấn định trong một thời gian nhất định, và ngƣời mua "quyền bán"
đƣợc bán một loại chứng khoán với số lƣợng, giá cả và thời gian đã ấn định,
hợp đồng giao sau thƣờng chỉ đƣợc giao dịch ở các thị trƣờng phát triển.
1.1.2. Chức năng, vai trò và ảnh hƣởng của thị trƣờng chứng
khoán đối với nền kinh tế
TTCK có chức năng, vai trò to lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc gia
có nền kinh tế thị trƣờng, kể cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đang
phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, TTCK còn đƣợc coi là biểu tƣợng của
nền kinh tế hiện đại.
* Chức năng của TTCK:
- TTCK là kênh dẫn vốn trực tiếp từ những chủ thể có khả năng cung
vốn đến chủ thể cần vốn. TTCK giúp cho cung cầu vốn gặp nhau thông qua
hoạt động mua bán chứng khoán, đồng thời TTCK cung cấp môi trƣờng đầu
tƣ cho công chúng.
- TTCK cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán vì nó là
nơi các chứng khoán đƣợc mua bán, trao đổi. Chức năng này là một trong
những yếu tố quyết định tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tƣ và
bảo đảm cho TTCK hoạt động năng động và có hiệu quả.
TTCK biến các khoản vốn ngắn hạn thành các khoản vốn trung và dài hạn
cho đầu tƣ, một ƣu thế mà không có hình thức huy động vốn nào có thể làm
đƣợc. Ngay cả ngƣời có tiền vốn nhàn rỗi tạm thời cũng có thể tham gia
TTCK để tài trợ cho các doanh nghiệp đầu tƣ dài hạn mà không lo bị đọng
vốn vì tính thanh khoản của chứng khoán. Mặt khác, sự xuất hiện của các quỹ
đầu tƣ với vai trò làm trung gian đầu tƣ chứng khoán, thu hút từng nguồn vốn
tiết kiệm nhỏ nhất tập trung lại để kinh doanh chứng khoán với nguồn vốn lớn
16
làm giảm tối đa chi phí giao dịch trên TTCK đã giúp ngay cả ngƣời dân có
khoản tiền rất nhỏ cũng có thể tham gia đầu tƣ sinh lời trên TTCK. Nhờ vai
trò này mà vốn trong nền kinh tế quốc dân đƣợc tích tụ lại đầu tƣ cho các dự
án lớn, dài hạn để phát triển, cũng nhƣ tạo ra các doanh nghiệp có quy mô vốn
lớn với sức cạnh tranh trên thị trƣờng rất cao. Nếu TTCK hoạt động an toàn,
hiệu quả nó sẽ giảm bớt nhu cầu tiêu dùng và dành vốn cho đầu tƣ phát triển.
- Nhờ vào trào lƣu quốc tế hoá TTCK quốc gia cho nên TTCK có vai
trò nhƣ là công cụ thu hút vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc:
Sự hiện diện của TTCK tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có
nguồn vốn nhàn rỗi có thể đầu tƣ vào chứng khoán một cách dễ dàng. Từ đó
nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc chuyển vào trong nƣớc mà không cần phải
có thủ tục phức tạp và không cần số vốn lớn nhƣ các hình thức đầu tƣ trực
tiếp. TTCK minh bạch còn giúp cho ngƣời đầu tƣ nƣớc ngoài theo dõi nhận
định hoạt động của các ngành, các doanh nghiệp trong nƣớc, từ đó có định
hƣớng đầu tƣ đúng đắn.
- TTCK có vai trò thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, điều
tiết vốn từ nơi sử dụng vốn không có hiệu quả sang nơi có hiệu quả. Nó là
một trong những tác nhân thúc đẩy nền tài chính minh bạch.
Nhà nƣớc chỉ cho phép những doanh nghiệp có đủ các điều kiện nhƣ
sở quan trọng để TTCK ổn định và phát triển. TTCK cũng tác động trở lại với
những tính chất tích cực và tiêu cực nhất định. Trong đó, đáng lƣu ý là các
hiện tƣợng tiêu cực làm ảnh hƣởng đến ngƣời đầu tƣ, nền kinh tế và cả xã hội
nhƣ: thông tin sai sự thật, tạo cung cầu giả về chứng khoán; sử dụng thông tin
nội bộ của nhà phát hành, của công ty niêm yết để giành lợi thế trong mua bán
chứng khoán nhằm kiếm lời bất chính …
1.2. BẢO VỆ NGƢỜI ĐẦU TƢ - VẤN ĐỀ CỐT YẾU TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm ngƣời đầu tƣ chứng khoán
18
Tham gia hoạt động trên TTCK có rất nhiều chủ thể nhƣ: tổ chức phát
hành; ngƣời đầu tƣ chứng khoán; các tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh,
dịch vụ trên TTCK nhƣ các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân
hàng; cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với TTCK; các tổ chức khác tham gia
TTCK nhƣ SGDCK, TTGDCK, tổ chức lƣu ký chứng khoán và thanh toán ,
trong đó "ngƣời đầu tƣ chứng khoán" luôn đƣợc coi là chủ thể trung tâm của
thị trƣờng.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành chƣa có một quy định nào giải
thích cụ thể khái niệm "ngƣời đầu tƣ chứng khoán" (hay còn gọi là nhà đầu
tƣ). Hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau về ngƣời đầu tƣ chứng khoán.
Có quan điểm cho rằng "nhà đầu tƣ chứng khoán là những ngƣời thực
sự mua và bán chứng khoán trên TTCK" [46].
Cũng lại có quan điểm cho rằng: "nhà đầu tƣ là những chủ thể có nhu
cầu đầu tƣ bằng cách mua các loại chứng khoán trên TTCK" [35, tr.21].
Trƣớc đây, khoản 22, điều 2, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng
khoán và TTCK đã quy định "ngƣời đầu tƣ là ngƣời sở hữu chứng khoán,
đầu tƣ cá nhân để đầu tƣ chứng khoán; các tổ chức tài chính nhƣ công ty bảo
hiểm, các tổ chức tín dụng, các quĩ hƣu trí và quĩ bảo hiểm xã hội, đây là
những tổ chức có tiềm lực tài chính và có thể tham gia với khối lƣợng vốn
lớn.
Đối với mỗi loại ngƣời đầu tƣ, do có những đặc thù khác nhau, dẫn đến
có lợi ích, khả năng bị xâm hại lợi ích, khả năng tự bảo vệ cũng sẽ khác
nhau, nên việc nghiên cứu chính xác, phân loại khoa học sẽ giúp cho việc đƣa
ra các quy định điều chỉnh, nhất là có những cách thức bảo vệ riêng, phù hợp
cho từng loại. Ví dụ: đối với ngƣời đầu tƣ chuyên nghiệp, có tổ chức thì mức
độ bảo vệ ít hơn so với ngƣời đầu tƣ không chuyên nghiệp, cá nhân vì họ hiểu
biết và có khả năng chuyên nghiệp hơn trong việc tự bảo vệ lợi ích của mình.
1.2.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi ngƣời đầu tƣ trên thị
trƣờng chứng khoán tập trung ở Việt Nam
1.2.2.1. Sự cần thiết phải bảo vệ người đầu tư
20
Nhƣ đã nêu trên, tham gia hoạt động trên TTCK có rất nhiều loại chủ
thể khác nhau, nhƣng xét cho đến cùng thì các quan hệ chính phát sinh trên
TTCK là quan hệ mua bán chứng khoán giữa tổ chức phát hành với ngƣời đầu
tƣ và giữa ngƣời đầu tƣ với nhau. Để cho các quan hệ mua bán chứng khoán
trên đƣợc thực hiện một cách thuận lợi cần có sự tham gia của các tổ chức hỗ
trợ nhƣ các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng, SGDCK,
tổ chức lƣu ký chứng khoán và thanh toán. Nhƣ vậy, có thể nói, trong các loại
chủ thể tham gia TTCK thì ngƣời đầu tƣ chứng khoán là loại chủ thể trung
tâm, là nhân vật chính của thị trƣờng, nếu không có ngƣời đầu tƣ thì sẽ không
thể có TTCK. Đó là loại chủ thể có số lƣợng tham gia đông đảo nhất và cũng
chính họ là đối tƣợng có nguy cơ gặp phải rủi ro cao nhất. Sở dĩ có thể khẳng
định nhƣ vậy là vì lợi ích của họ dễ bị các chủ thể khác xâm hại, xuất phát từ
khi giá cả trên thị trƣờng có khả năng biến đổi do chênh lệch trong quan hệ
cung cầu hay do tác động của các yếu tố tâm lý, tin đồn thất thiệt, hành vi
lũng đoạn, mua bán nội gián Từ đó, thị trƣờng có thể xảy ra hai xu hƣớng
với hai khả năng rủi ro khác nhau: Thứ nhất, giá chứng khoán tăng nhanh và
liên tục trong thời gian dài, vƣợt xa giá trị thực của nó. Hiện tƣợng này
thƣờng đƣợc gọi là "bong bóng chứng khoán". Thứ hai, khi giá chứng khoán
xuống, ngƣời đầu tƣ thi nhau bán tháo đi làm cho chứng khoán sụt giá nhanh
và dƣới mức giá trị của nó khiến thị trƣờng bị chao đảo.
+ Rủi ro về thông tin: thông tin là yếu tố quan trọng luôn ảnh hƣởng
đến giá và khối lƣợng giao dịch của các chứng khoán. Khi có thông tin, tin
đồn tốt về một loại chứng khoán nào đó thì ngƣời ta mua chứng khoán đó vào
và ngƣợc lại thì bán ra. Ngoài ra, các thông tin liên quan đến tình hình tài
chính, hoạt động kinh doanh của công ty, ngƣời đầu tƣ nhất thiết phải có đƣợc
để có quyết định đầu tƣ đúng đắn.
Hàng hoá thông thƣờng sau khi sản xuất ra, qua khâu lƣu thông đến
ngƣời tiêu dùng, chỉ tồn tại trên thị trƣờng trong thời gian ngắn. Nhƣng đối
với chứng khoán, sau khi đƣợc phát hành và đƣợc bán cho ngƣời đầu tƣ, vẫn
tiếp tục tồn tại trên thị trƣờng và sẵn sàng tham gia vào lƣu thông. Ngƣời đầu
22
tƣ mua chứng khoán không phải để khai thác giá trị sử dụng, không phải để
tiêu dùng mà để hƣởng lợi tức từ chứng khoán đem lại, thậm chí chỉ đơn
thuần nhằm bán lại chứng khoán đó để kiếm lời. Chứng khoán tồn tại trên thị
trƣờng lâu dài và nó đƣợc mua đi, bán lại nhiều lần. Vì vậy, mỗi lần mua, bán
chứng khoán ngƣời đầu từ cần phải có đủ thông tin để xác định giá trị chứng
khoán, có nhƣ thế lợi ích từ việc mua bán chứng khoán của họ mới đƣợc bảo
đảm. Nhƣ vậy, phải đảm bảo dòng thông tin tin cậy về tình hình kinh doanh -
tài chính và nhân sự đã, đang diễn ra tại các tổ chức phát hành, các công ty
bình thƣờng thì việc này là quá sức của họ, vì thế cần một chủ thể trung gian
có đội ngũ chuyên gia làm công việc lƣu giữ, cập nhật thông tin về các tổ
chức phát hành, đồng thời thực hiện việc xử lý, cung cấp thông tin cho ngƣời
đầu tƣ. Họ là những ngƣời tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán, ngƣời môi giới chứng
khoán, thiếu họ thì TTCK không thể vận hành đƣợc. Những lời tƣ vấn hoặc
những thông tin họ cung cấp cho ngƣời đầu tƣ ảnh hƣởng lớn đến quyết định
đầu tƣ của ngƣời đầu tƣ và đến cung cầu chứng khoán trên thị trƣờng. Nếu
nhƣ công ty chứng khoán không trung thực sẽ gây hại rất lớn cho ngƣời đầu
tƣ. Hơn nữa trong nhiều trƣờng hợp công ty chứng khoán và ngƣời đầu tƣ ở
vào thế xung đột lợi ích nên công ty thƣờng đặt lợi ích của mình lên trên lợi
ích của khách hàng. Vậy cần phải đảm bảo tính trung thực, đạo đức nghề
nghiệp, ràng buộc trách nhiệm, ngăn chặn những hành vi tiêu cực có thể xảy
ra từ phía các công ty chứng khoán, làm tổn hại tới ngƣời đầu tƣ.
Nhƣ vậy, đầu tƣ vào chứng khoán là một hình thức đầu tƣ có thể đem
lại nhiều lợi nhuận nhƣng mặt khác cũng có thể mang lại rủi ro cho ngƣời đầu
tƣ. Ngƣời đầu tƣ bỏ ra một tài sản có thực là tiền để đổi lấy một tờ giấy cam
kết mà giá trị của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố rủi ro, có thể làm cho nó
trở thành không có chút giá trị nào, nhƣng cũng có thể có giá trị rất lớn. Vì
thế, khi tham gia đầu tƣ trên TTCK, ngƣời đầu tƣ phải đặc biệt quan tâm chú
ý, cân nhắc cẩn thận để mua chứng khoán phù hợp với chiến lƣợc đầu tƣ và
khả năng tài chính của mình. Những rủi ro trong đầu tƣ chứng khoán rất đa
24
dạng, phức tạp, nhƣng theo các chuyên gia về kinh doanh chứng khoán, có thể
nêu một số rủi ro phổ biến sau đây:
+ Rủi ro thanh toán: là nguy cơ mất toàn bộ hay một phần vốn đầu tƣ
do tổ chức phát hành chứng khoán không có khả năng thanh toán lại nếu làm
ăn thua lỗ hoặc lâm vào tình trạng giải thể, phá sản mỗi chứng khoán có
chế quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm có hiệu quả và phƣơng tiện
giảm thiểu những rủi ro kể trên, có thể làm tiêu huỷ lòng tin của ngƣời đầu tƣ.
Ngƣời đầu tƣ chỉ có thể bỏ tiền vào thị trƣờng khi anh ta thấy rằng đang tham
gia vào một cuộc chơi công bằng, minh bạch và lợi ích đƣợc hƣởng đƣợc đảm
bảo. TTCK luôn phát triển trong quá trình không ngừng hoàn thiện cơ chế bảo
vệ lợi ích của ngƣời đầu tƣ, đó là cơ chế mang tính sống còn để thị trƣờng tồn
tại và phát triển. "Trọng tâm của pháp luật và thể chế cần thiết cho một thị
trƣờng chứng khoán, suy cho cùng, là nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi
ích của cổ đông thiểu số trƣớc những luồng thông tin bất cân xứng; thiếu
những thiết chế đó thì không ai dám "chung voi với nhà chúa""[18, tr.332].
1.2.2.2. Những quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của người đầu tư
trên thị trường chứng khoán
- Quyền đƣợc quyết định mua hoặc bán chứng khoán: Đây là một trong
những quyền cơ bản của ngƣời đầu tƣ đƣợc quy định trong các văn bản pháp
luật. Quyền này xuất phát từ quyền tự do kinh doanh của mọi công dân đƣợc
ghi nhận tại điều 57 Hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Luật Doanh nghiệp năm 1999 có quy
định cho phép các tổ chức, cá nhân đƣợc tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh trong những lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật không cấm [11]. Xét về
bản chất, việc mua bán chứng khoán là một hành vi kinh doanh vì mục đích
chủ yếu mà ngƣời đầu tƣ hƣớng tới là lợi nhuận. Việc mua, bán chứng khoán
đƣợc hiểu là một quyền, do ngƣời đầu tƣ tự quyết định.
- Quyền nhận và đƣợc cung cấp thông tin: Công bố và công khai hoá
các thông tin là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản, là tiêu chí để
xác định tính hiệu quả của TTCK. Việc công bố thông tin tác động trực tiếp
26
đến lợi ích của ngƣời đầu tƣ, vì nhƣ đã phân tích, ngƣời đầu tƣ căn cứ vào
27
- Quyền đƣợc yêu cầu các cơ quan chức năng bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình: Hoạt động mua, bán, đầu tƣ chứng khoán là các hoạt
động phức tạp, dễ phát sinh tranh chấp do những hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của các chủ thể trên thị trƣờng. Các hành
vi vi phạm pháp luật ảnh hƣởng, thiệt hại đến các chủ thể trong đó phổ biến là
ngƣời đầu tƣ. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đầu tƣ,
pháp luật cho phép họ có toàn quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can
thiệp đối với những hành vi vi phạm bằng việc khiếu nại, tố cáo, yêu cầu xem
xét lại quyết định hay khởi kiện ra toà án để xét xử theo quy định của pháp
luật.
1.2.2.3. Các cơ chế xâm hại quyền lợi của người đầu tư trên thị
trường chứng khoán
Để đƣa ra đƣợc những biện pháp, cơ chế bảo vệ lợi ích của ngƣời đầu
tƣ trên TTCK, trƣớc hết cần phải hiểu đƣợc những cơ chế xâm hại lợi ích
ngƣời đầu tƣ xảy ra trên TTCK. Thông thƣờng, việc xâm hại lợi ích có nguồn
gốc từ những mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trƣờng
nhƣ giữa những ngƣời đầu tƣ với nhau, giữa ngƣời đầu tƣ với các tổ chức
phát hành, tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian Trên TTCK tập trung hiện
nay thƣờng diễn ra một số cơ chế xâm hại lợi ích ngƣời đầu tƣ nhƣ sau:
- Lợi ích bị xâm hại từ các tổ chức phát hành: Khi ngƣời đầu tƣ mua
chứng khoán của một tổ chức phát hành, anh ta là chủ sở hữu hoặc là chủ nợ
của tổ chức đó, nên anh ta có đƣợc các quyền làm chủ sở hữu, chủ nợ trực
tiếp hoặc gián tiếp. Có rất nhiều cách thức mà nếu không đƣợc lƣu ý thì các
quyền và lợi ích của ngƣời đầu tƣ sẽ bị xâm phạm nhƣ hiện tƣợng mất lợi thế
thông tin của ngƣời đầu tƣ thiểu số, giao dịch nội gián
- Xâm phạm từ phía các tổ chức trung gian thị trƣờng: Khi các tổ chức
hành nghề môi giới, tƣ vấn đầu tƣ, quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tƣ và
bảo lãnh phát hành thực hiện việc cung cấp thông tin, tƣ vấn, tổ chức mua bán