Pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước, kinh nghiệm và khả năng áp dụng ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ ĐÔNG ANH PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ CỦA MỘT
SỐ NƯỚC, KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG ÁP
DỤNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2009


HÀ NỘI - 2009

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ
7
1.1.
Khái niệm và những đặc điểm của mua sắm công
7
1.1.1.
Mua sắm từ nguồn vốn không phải của Nhà nước

19
1.4.2.
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu mua sắm
19
1.5.
Vai trò, tầm quan trọng và mục tiêu của đấu thầu
20
1.5.1.
Vai trò của đấu thầu
22
1.5.2.
Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế
23
1.5.3.
Mục tiêu của đấu thầu
25
1.6.
Các mục tiêu chung của hệ thống pháp luật về đấu thầu
27

1.6.1.
Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng vốn nhà nước
27
1.6.2.
Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu
28
1.6.3.
Công khai, minh bạch trong đấu thầu
29

Chính phủ trong quản lý chi tiêu công
35

Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ
NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
38
2.1.
Pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước
38
2.1.1.
Luật mẫu và Công ước của Liên hợp quốc
39
2.1.1.1.
Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996
39
2.1.1.2.
Luật mẫu của UNCITRAL về chữ ký điện tử năm 2001
42
2.1.1.3.
Công ước của Liên hợp quốc về sử dụng giao dịch điện tử
trong hợp đồng quốc tế năm 2005
43
2.1.2.
Pháp luật về đấu thầu điện tử của Vương quốc Anh
46
2.1.2.1.
Luật về quyền tự do thông tin năm 2000 (Freedom of
Information Act 2000)
47

53
2.1.3.2.
Nghị định hướng dẫn thi hành Luật mua sắm chính phủ
(Enforcement Decree of Act on Government Procurement)
53
2.1.3.3.
Luật giao dịch điện tử (Electronic Transactions Act)
54
2.1.3.4.
Luật chữ ký điện tử (Electronic Signature Act)
54
2.1.3.5.
Luật tăng cường sử dụng mạng thông tin và bảo đảm thông tin
(Act for reinforcement of using Internet and Information secutity)
55
2.1.4.
Pháp luật về đấu thầu điện tử của Philippin
56
2.1.4.1.
Luật về thương mại điện tử năm 2000 (Electronic Trade Act 2000)
56
2.1.4.2.
Luật về cải cách mua sắm chính phủ (Reform Public
Procurement 2003)
57
2.2.
Hệ thống pháp luật về đấu thầu điện tử (xét trên khía cạnh
thương mại điện tử) và thực trạng đấu thầu điện tử ở Việt Nam
59
2.2.1.

Hệ thống mua sắm chính phủ điện tử thử nghiệm
71

Chương 3: KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẤU THẦU
ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN
Ở VIỆT NAM
76
3.1.
Một số kinh nghiệm của hàn quốc và philippin trong xây
dựng hệ thống đấu thầu điện tử
76
3.1.1.
Hàn Quốc
76
3.1.2.
Philippin
79
3.2.
Thách thức đối với việt nam khi xây dựng hệ thống đấu thầu
điện tử
82
3.3.
Bài học đối với Việt Nam khi xây dựng hệ thống đấu thầu
điện tử
84
3.3.1.
Vai trò của Chính phủ
84
3.3.2.

3.5.1.1.
Đảm bảo tính an toàn và bảo mật thông tin
90
3.5.1.2.
Tạo cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
91
3.5.1.3.
Đảm bảo tính thống nhất của quy trình đấu thầu điện tử
91
3.5.1.4.
Đơn giản hóa các quy định về thủ tục hành chính
91
3.5.2.
Giải pháp thực hiện
91
3.5.2.1.
Về phía Nhà nước
92
3.5.2.2.
Về phía Hiệp hội nhà thầu
93
3.5.2.3.
Về phía các chủ đầu tư và nhà thầu (doanh nghiệp)
93

KẾT LUẬN
95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
97

thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí" (Nghị quyết 2
số 04-NQ/TW ngày 21 tháng 8 năm 2006). Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống
tham nhũng được Quốc hội ban hành tháng 11/2005 cũng là một trong những
cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phòng, chống tham nhũng. Ngoài ra,
Việt Nam cũng tích cực tham gia các sáng kiến quốc tế và khu vực để góp
phần vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng. Mới đây, vào ngày 12/5/2009, Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 21/NQ-CP về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng
đến năm 2020.
Cuối năm 2008, sau sự kiện PCI (Công ty tư vấn Thái Bình Dương -
Nhật Bản bị cáo buộc hối lộ trong dự án xây dựng Đại lộ Đông - Tây Thành
phố Hồ Chí Minh - dự án sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản), Chính phủ Việt
Nam và Nhật Bản đã nhất trí thành lập Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản
phòng chống tham nhũng liên quan tới ODA Nhật Bản với mục tiêu phối hợp
thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng, chống tham nhũng liên quan tới
ODA của Nhật Bản cho Việt Nam. Vào tháng 12/2008, Ủy ban đã công bố
cam kết về các biện pháp mà phía Việt Nam và Nhật Bản cần thực hiện nhằm
phòng chống các vụ việc tương tự tái diễn. Theo đó, một trong các biện pháp
phòng, chống tham nhũng liên quan đến ODA được phía Chính phủ Việt Nam
cam kết thực hiện là xây dựng và triển khai ứng dụng hệ thống đấu thầu điện
tử trong mua sắm chính phủ.
Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê từ các cuộc khảo sát, nghiên cứu
thì chi tiêu chính phủ hàng năm của các nước trên thế giới chiếm từ 10% -
20% GDP của mỗi nước. Chi phí mua sắm chính phủ của EU chiếm khoảng
16% GDP, Ý khoảng 11,9%, trong khi, Hà Lan khoảng 21,5%. Việt Nam, do
mới là nước đang phát triển nên hàng năm dành khoảng 40% GDP để đầu tư

thành phố lớn phải từng bước tiến hành giao kết hợp đồng mua sắm chính phủ
trên mạng". Bên cạnh đó, Luật Đấu thầu ban hành năm 2005 với những quy
định mang tính nguyên tắc tại Điều 5 (đăng tải thông tin đấu thầu trên tờ báo
về đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu) và tại Điều 30 (đấu thầu 4
điện tử) đã tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển đấu thầu điện tử trong
mua sắm chính phủ ở Việt Nam.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm "đấu thầu điện tử" hay "mua sắm
chính phủ điện tử" có lẽ vẫn còn là một khái niệm mới đối với người mua,
người bán và ngay cả các nhà quản lý. Luật Đấu thầu năm 2005 mới chỉ có
một điều luật duy nhất về đấu thầu điện tử (Điều 30). Trong quá trình hội
nhập với khu vực và quốc tế, đặc biệt là khi đã trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đứng trước những đòi hỏi cao
hơn về bảo đảm cạnh tranh, công bằng và minh bạch, khắc phục những tồn tại,
tiêu cực, kéo dài thời gian, khép kín trong đấu thầu, đồng thời nâng cao hiệu
quả quản lý mua sắm công, Việt Nam cần thiết phải xây dựng và triển khai
thực hiện đấu thầu điện tử. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản hệ
thống pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra
những kinh nghiệm trong xây dựng hệ thống pháp luật và triển khai đấu thầu
điện tử ở Việt Nam là điều hết sức cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh Việt
Nam đang từng bước xây dựng mô hình Chính phủ điện tử nói chung và hệ
thống đấu thầu điện tử nói riêng.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, đưa ra các định hướng và giải pháp
xây dựng, hoàn thiện pháp luật về đấu thầu điện tử ở Việt Nam trong thời gian
tới trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp luật và triển khai thực
hiện đấu thầu điện tử của một số nước, tác giả chọn đề tài "Pháp luật về đấu
thầu điện tử của một số nước, kinh nghiệm và khả năng áp dụng ở Việt
Nam" để làm luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế.

với các quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam nhằm tìm ra những
điểm tương đồng và khác biệt, đánh giá vai trò, lợi ích của đấu thầu điện tử.
Sử dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích để 6
nghiên cứu và giải quyết các vấn đề. Dùng phương pháp suy luận và tư duy
biện chứng để đưa ra các đề xuất mang tính định hướng để xây dựng hệ thống
pháp luật về đấu thầu điện tử của Việt Nam.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cũng như thế giới có những
biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc, trong xu thế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
khu vực và thế giới, đấu thầu điện tử là lĩnh vực thật sự cần được quan tâm
bởi những hiệu quả và lợi ích cho Nhà nước mà nó đem lại trong khi hệ thống
pháp luật có liên quan lại chưa có sự điều chỉnh kịp thời. Đề tài là công trình
khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Kết quả nghiên cứu sẽ là những bổ sung
vào lý luận về pháp luật liên quan đến đấu thầu điện tử ở Việt Nam trong giai
đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Các nội dung đề xuất, giải pháp của đề tài
cũng có thể được áp dụng để giải quyết được phần nào những vấn đề bất cập
liên quan đã và đang đặt ra trong thực tiễn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đấu thầu và đấu thầu điện tử
Chương 2: Pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước và thực
trạng hệ thống pháp luật đấu thầu điện tử ở Việt Nam.
Chương 3: Kinh nghiệm xây dựng hệ thống đấu thầu điện tử của một
số nước và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan ở Việt Nam.
Nhà nước quản lý theo pháp luật. Dạng phổ biến nhất của nguồn vốn này là
vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh. Chính đặc
điểm cơ bản này là cơ sở để hình thành các quy định pháp luật về đấu thầu
trong mua sắm công với mục đích đảm bảo việc sử dụng, chi tiêu các nguồn
tiền của Nhà nước là hiệu quả, tránh thất thoát, tiêu cực. Đối tượng mua sắm
để đáp ứng các nhu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ cũng như của
nhân dân được coi là các nhu cầu chung và vì vậy việc mua sắm sử dụng vốn
Nhà nước thường được gọi là mua sắm công (Public Procurement).
1.1.3. Những đặc điểm chung của mua sắm công
Mua sắm công (mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước) có những
đặc điểm chung sau đây:
- Mục tiêu, nội dung mua sắm rõ ràng
Do nguồn vốn phục vụ cho việc thực hiện việc mua sắm là vốn nhà
nước (vốn thuộc sở hữu toàn dân) nên việc mua sắm phải có mục tiêu rõ ràng.
Cả bên mời thầu (bên mua) và nhà thầu (bên bán) đều được cung cấp các
thông tin cần thiết để thấy rõ mục tiêu, nội dung của việc mua sắm.
Mục tiêu của việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ hay công trình là gì?
phục vụ ai? đối tượng nào? nội dung của việc mua sắm là cái gì? số lượng bao
nhiêu? tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng thế nào? khi nào cung cấp? Những
thông tin trên phải được công khai để mọi cá nhân, tổ chức (nhà thầu) có năng
lực và kinh nghiệm, có mong muốn tham gia cung cấp có cơ hội được cung
cấp. Chính vì lý do đó mà hoạt động mua sắm công cần phải có Luật Đấu thầu
với những quy định cụ thể nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch trong
thông tin về việc mua sắm từ các nguồn vốn nhà nước (ngân sách nhà nước,
vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do
Nhà nước quản lý). 9

thầu phải tạo điều kiện cho mọi nhà thầu có cơ hội như nhau trong việc thỏa
mãn nhu cầu công. Việc làm rõ, sửa đổi hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu cũng
phải đảm bảo tính công bằng giữa các nhà thầu. Do đó, bên mời thầu phải cân
nhắc sử dụng các chuyên gia đủ kiến thức, năng lực và kinh nghiệm để xây
dựng hồ sơ mời thầu, đánh giá các hồ sơ dự thầu và xếp hạng nhà thầu.
+ Bình đẳng: Điều này yêu cầu những người tổ chức đấu thầu phải
đảm bảo không để xảy ra hiện tượng coi trọng người, hàng hóa, công trình,
dịch vụ của ai đó mà xem nhẹ hay hạ thấp vai trò, hàng hóa, công trình, dịch
vụ của người khác. Vì vậy vai trò thẩm định kết quả đấu thầu của chuyên gia
là rất cần thiết.
+ Minh bạch: Việc quyết định lựa chọn nhà thầu trúng thầu trên cơ sở
hồ sơ dự thầu được đánh giá là đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu (trong
trường hợp mua sắm hàng hóa và xây lắp còn yêu cầu phải có chi phí thấp nhất)
và trao thầu cho các nhà thầu trúng thầu phải đảm bảo sự chính xác, khách quan
không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố tình cảm hay tác động vật chất nào.
- Xử lý một cách nghiêm minh các hành vi gian lận, các tranh chấp
phát sinh trong quá trình đấu thầu, đảm bảo nâng cao chất lượng công tác
đấu thầu, nâng cao chất lượng, tiến độ và hiệu quả thực hiện các công trình
xây lắp, chất lượng, tiến độ cung cấp hàng hóa và dịch vụ
Trong quá trình tổ chức đấu thầu bằng nguồn vốn công thường rất dễ
nảy sinh những tiêu cực từ cả hai phía: người mua (bên mời thầu) và người
bán (nhà thầu). Vì lợi ích, do không phải là nguồn tiền cá nhân nên bên mời
thầu có thể chủ động thông đồng với nhà thầu để được hưởng lợi từ cuộc đấu
thầu. Nhà thầu, để thắng thầu gói thầu có nguồn vốn công, không của riêng ai,
nên có thể không từ một thủ đoạn nào, miễn là mình thắng thầu. Những tranh
chấp phát sinh, những tiêu cực phát sinh cần phải được xem xét và xử lý
nghiêm minh, nghiêm khắc theo đúng các quy định của pháp luật. 11

12
Cần phân biệt hai khái niệm "đấu thầu" và "đấu giá" vì chúng có nhiều
nét tương đồng nhau, nhưng có lúc bị hiểu lẫn lộn như nhau. Có người nói
rằng "địa phương tôi đang tiến hành đấu thầu khu đầm nuôi tôm X" hoặc "trên
Internet hiện đang tiến hành đấu thầu gói thầu mua 200 chiếc máy tính văn
phòng". Nói như vậy là chưa chuẩn xác. Hai ví dụ nêu trên xét về bản chất là
hoạt động đấu giá và đấu thầu riêng biệt, nhưng lại được sử dụng ngôn ngữ
đấu thầu trong thông báo. Hoạt động thứ nhất không phải là hoạt động đấu
thầu vì người bán lại chính là người có khu đầm nuôi tôm. Đây chính là hoạt
động đấu giá. Họ sẽ chọn người nào (bên mua) chào giá cao nhất (ngược với
hoạt động đấu thầu). Hoạt động thứ hai mới là hoạt động đấu thầu. Người
mua sẽ chọn được người bán máy tính đảm bảo các tính năng kỹ thuật theo
yêu cầu và có chi phí trên một mặt bằng thấp nhất. Sau đây là một số điểm
lưu ý giúp ta phân biệt khái niệm đấu thầu và đấu giá.
1.2.1. Hoạt động mua hay bán
Xét trên giác độ quan hệ mua - bán của chủ thể là Nhà nước, các cơ
quan, tổ chức đại diện cho Nhà nước (bên chủ động tiến hành, tổ chức hoạt
động đấu thầu hay đấu giá), có thể nói đấu thầu là hoạt động mua, ngược lại
đấu giá là hoạt động bán. Trong đấu thầu, bên chủ động tổ chức cuộc thầu
(bên mời thầu) là người mua hàng hóa, dịch vụ, công trình từ các nhà thầu.
Bên mời thầu chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm mua được hàng hóa,
dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả thấp nhất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật,
chất lượng và tiến độ đề ra. Trong đấu giá, bên chủ động tổ chức phiên đấu
giá nhằm bán được hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cao nhất có thể.
1.2.2. Về đối tƣợng mua và bán
Trong đấu giá, đối tượng bán là rõ ràng, người mua có thể kiểm tra,
đánh giá trước khi đưa ra giá. Nhưng ngược lại, trong đấu thầu, đối tượng
chào bán của nhà thầu chỉ có trên hồ sơ dự thầu và bên mời thầu chỉ có được
sản phẩm định mua sau khi nhà thầu thực hiện xong hợp đồng đã ký.



14
Sử dụng vốn nhà nước bao gồm việc chi tiêu bằng vốn nhà nước theo các
hình thức mua, thuê, thuê mua (khoản 1 Điều 2 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP).
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên
mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật
Đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu
quả kinh tế [22]. Thực chất công tác đấu thầu của Việt Nam là hoạt động chi
tiêu, sử dụng vốn nhà nước và vì vậy tuy gọi là Luật Đấu thầu song cần hiểu
theo nghĩa ước lệ với bản chất là hoạt động mua sắm công hay mua sắm chính
phủ. Hoạt động này bao gồm 7 hình thức lựa chọn nhà thầu để thực hiện các
gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 Luật Đấu thầu.
Trình tự thực hiện đấu thầu gồm các bước chuẩn bị đấu thầu, tổ chức
đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu,
thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp
đồng [22].
Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu
cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước [22].
Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu
của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu
trong nước [22].
Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất
định dựa trên nguồn vốn xác định [22].
Người có thẩm quyền là người được quyền quyết định dự án theo quy
định của pháp luật. Đối với các dự án có sự tham gia vốn nhà nước của doanh
nghiệp nhà nước từ 30% trở lên, trừ các dự án sử dụng 100% vốn nhà nước,
thì người có thẩm quyền là Hội đồng quản trị hoặc đại diện có thẩm quyền
của các bên tham gia góp vốn [22].



16
Hồ sơ mời sơ tuyển là toàn bộ tài liệu bao gồm các yêu cầu về năng
lực và kinh nghiệm đối với nhà thầu làm căn cứ pháp lý để bên mời thầu lựa
chọn danh sách nhà thầu mời tham gia đấu thầu [22].
Hồ sơ dự sơ tuyển là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của
hồ sơ mời sơ tuyển [22].
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc
đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý
để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu
nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn
thiện và ký kết hợp đồng [22].
Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ
sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời
thầu [22].
Hồ sơ yêu cầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu,
chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp
đặc biệt bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu
chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ đề xuất nhằm lựa chọn
nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ yêu cầu; là căn cứ cho việc thương thảo,
hoàn thiện và ký kết hợp đồng. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết định nội
dung của hồ sơ yêu cầu (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 85/209/NĐ-CP).
Hồ sơ đề xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thầu chuẩn bị và nộp theo yêu
cầu của hồ sơ yêu cầu (khoản 3 Điều 2 Nghị định số 85/209/NĐ-CP).
Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu
trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy
định hiện hành [22].
Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu.
Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá [22].



18
b) Dịch vụ tư vấn thực hiện dự án gồm có khảo sát, lập thiết kế, tổng
dự toán và dự toán, lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám sát thi
công xây dựng và lắp đặt thiết bị;
c) Dịch vụ tư vấn điều hành quản lý dự án, thu xếp tài chính, đào tạo,
chuyển giao công nghệ và các dịch vụ tư vấn khác [22].
Hàng hóa gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng và các dịch vụ không phải là dịch vụ tư vấn [22].
Xây lắp gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt
thiết bị các công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn [22].
Kiến nghị trong đấu thầu là việc nhà thầu tham gia đấu thầu đề nghị
xem xét lại kết quả lựa chọn nhà thầu và những vấn đề liên quan đến quá trình
đấu thầu khi thấy quyền, lợi ích của mình bị ảnh hưởng [22].
Vi phạm pháp luật về đấu thầu là hành vi không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu thầu.
Thẩm định đấu thầu là việc kiểm tra, đánh giá của cơ quan, tổ chức có
chức năng thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn
nhà thầu để làm cơ sở cho người có thẩm quyền hoặc chủ đầu tư xem xét,
quyết định theo quy định của Luật Đấu thầu. Việc thẩm định kết quả lựa chọn
nhà thầu không phải là đánh giá lại hồ sơ dự thầu (khoản 1 Điều 2 Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản).
1.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤU THẦU
Bản chất của hoạt động đấu thầu là việc bỏ tiền để đạt được mục tiêu
nhất định trong một thời gian xác định. Theo đó, hoạt động đấu thầu bằng tiền
của Nhà nước được gọi là "mua sắm công" hay "mua sắm chính phủ". Các
quy định để thực hiện các hành vi mua sắm thông qua đấu thầu được chi phối,
điều tiết bởi người sở hữu nguồn tiền sử dụng cho việc mua sắm. Tùy thuộc

Trích đoạn Luật Truyền thông năm 2003 (Communications Act 2003), Pháp luật về đấu thầu điện tử của Philippin Luật về cải cách mua sắm chính phủ (Reform Public Procurement 2003) Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/9/2005 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 Luật Công nghệ thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status