MỤC LỤC
!"#$%&'"()*)+, /)!"#$%&'"(
012,",34)!"#$%&'"(
567&,8479+)!"#$%&'"(:
1;"#<=,)!"#$%&'"(>
:+, /79+)!"#$%&'"(>
51%7?%)!"#$%&'"(@
5A7?"-1,B-C1D,E27&F"1"1%7?%)!"#$%&'"(@
55 1$G"(C12CE27&F"1"1%7?%)!"#$%&'"(H
I%D"#J)!"#$%&'"(K
:,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(Q
:27R12,",341,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(Q
:52771STU%&2"1(,21,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(
:27"1;"-!D"11$V"(-W,1,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(
H
XYXZ[X\X\]^_`X[aX]b
]H
X[XcH
5012,L%2-)de"(-f7gC1?"4+f)*-1$G"(4=,X,U"hH
5I%2 i"11i"1-1*"1)*C12- ,8"79+e"(-f7gC1?"4+f)*-1$G"(4=,X,U"hH
551j7"k"()*"1,34)P79+e"(-fH
5G7l%-g71j779+e"(-f7gC1?"4+f)*-1$G"(4=,X,U"hm
5:G7l%-g71j779+n'C1o"-*,71p"1RB-<2"5Q
5>67&,841<=-&'"(MD"E%l-R,"1O<+"179+e"(-f7gC1?"4+f)*-1$G"(4=,X,U"
h55
55X1A7 ="(L%D"#JMNOP"()!"#$%&'"(5
5567&,84R,"1-BqRr-1%o-D"11$V"(-W,7e"(-27L%D"#J)!"#$%&'"(-=,e"(-f7g
TSLĐ : Tài sản lưu động ĐVT : Đơn vị tính
WTO : Tổ chức kinh tế thế giới CNV : Công nhân viên
BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
SƠ ĐỒ
!"#$%&'"()*)+, /)!"#$%&'"(
012,",34)!"#$%&'"(
567&,8479+)!"#$%&'"(:
1;"#<=,)!"#$%&'"(>
1;"#<=,-1€<)+, /-}"(#<=,)!"#$%&'"(>
5k"7j-1€<1i"1-12,n,8%1,3"79+)!"#$%&'"(>
:+, /79+)!"#$%&'"(>
51%7?%)!"#$%&'"(@
5A7?"-1,B-C1D,E27&F"1"1%7?%)!"#$%&'"(@
55 1$G"(C12CE27&F"1"1%7?%)!"#$%&'"(H
55 1$G"(C12C A7TBCH
555 1$G"(C12C(,2"TBCm
I%D"#J)!"#$%&'"(K
:,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(Q
:27R12,",341,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(Q
:52771STU%&2"1(,21,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(
:27"1;"-!D"11$V"(-W,1,3%L%DMNOP"()!"#$%&'"(
:27"1;"-!719L%+"
:527"1;"-!R1271L%+">
H
XYXZ[X\X\]^_`X[aX]b
527n,3"C12C"1s4";"(7+<1,3%L%DL%D"#JMNOP"()!"#$%&'"(-=,e"(-f7gC1?"
4+f)*-1$G"(4=,X,U"h>
5<*"-1,3"7e"(-27RB1<=71)*L%D"#J>
55x,3"C12CL%D"#JTd"46->:
5x,3"C12C71<)l"&d1*"(-t"R1<>>
5:x,3"C12C)dL%D"#J727R1<D"C1D,-1%>H
'-M!R,B""(1F>K
0•X@5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, cùng với tiến trình hội nhập của nước ta vào các nước
trên thế giới. Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản
xuất nói riêng phải đương đầu với thách thức lớn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế hiện nay các doanh nghiệp
đều là tác nhân thúc đẩy nền kinh tế, luôn hướng tới mục tiêu là đạt lợi nhuận cao
và tăng khả năng tích lũy. Hơn nữa, để có thể tồn tại và phát triển, có mọt chỗ đứng
vững chắc trên thị trường thì một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với các nhà quản trị
doanh nghiệp là phải tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả tốt nhất.
Từ đó đối với mỗi doanh nghiệp thì danh giới giữa thành công và thất bại trở nên rõ
rang hơn, sự cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã trở thành động lực thôi thúc các
doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đầu tư vào các ngành khác nhằm thu được nhiều
lợi nhuận và củng cố chỗ đứng của mình trên thị trường. Chính vì vậy, việc sử dụng
vốn lưu động sao cho có hiệu quả là một vấn đề cấp thiết. Tuy nhiên, những kết quả
đạt được vẫn còn những hạn chế, một số doanh nghiệp gặp phải không ít khó khăc
bởi trình độ quản lý chưa theo kịp với đà của cơ chế thị trường kèm theo là sự phản
ứng kém linh hoạt với phương thức và cách thức điều hành doanh nghiệp điển hình
trong lĩnh vực tài chính. Các doanh nghiệp còn lúng túng trong huy động và quản
lý, sử dụng vốn. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi bắt tay vào sản xuất hay xem xét một
phương án kinh doanh điều quan tâm đầu tiên là vốn kinh doanh của mình và sử
dụng vốn một cách tiết kiệm. Muốn vậy, công tác tài chính của doanh nghiệp phải
toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Đối với doanh nghiệp sản xuất TSLĐ được
cấu thành bởi hai bộ phận là TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản
xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư
liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Những tài sản ở khâu dự trữ
sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu…và tài sản ở
khâu sản xuất như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ…
TSLĐ lưu thông gồm: Sản phẩm hàng hóa chưa tiêu thụ ( hàng tồn kho ), vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán và các khoản phải thu.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông.
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động
sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hóa lẫn nhau, vận động không
ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Để đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lượng TSLĐ nhất định. Do vậy, để hình thành nên TSLĐ,
doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được
gọi là vốn lưu động.
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động đầu tư vào quá trình
3
sản xuất kinh doanh.
Hay vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ
nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển hóa toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông
và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại sau khi doanh nghiêp
tiêu thụ được sản phẩm và thu được tiền hàng. Như vậy, vốn lưu động hoàn thành
một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên nó
mang những đặc điểm tương tự như tài sản lưu động đó là vốn lưu động tham gia
vào một chu kỳ kinh doanh và vốn lưu động được luân chuyển một lần. Quá trình
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất, gồm các khoản: Vốn sản phẩm dở dang,
chi phí trả trước .
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông, gồm các khoản: Vốn bằng tiền, vốn
thành phẩm, vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác, vốn trong thanh
toán những khoản phải thu và tạm ứng.
1.1.3.2. Căn cứ theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Theo cách phân loại này có thể chia vốn lưu động thành 4 loại:
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền
đang chuyển, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
- Các khoản phải thu, phải trả:
+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện
số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch
vụ dưới hình thức bán trước trả sau.
+ Các khoản phải trả: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho
khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà
Nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.
- Vốn vật tư, hàng hóa: Là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng hiện
vật cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành
phẩm, bán thành phẩm.
- Vốn lưu động khác: Bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí trả trước, cầm
cố, ký quỹ, ký cược…
1.1.4. Vai trò của vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…doanh
nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu…
phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của
quá trình sản xuất kinh doanh.
5
Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản
ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ không khuyến
khích doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cải tiến
hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: gây nên
tình trạng ứ đọng vật tư hàng hóa, vốn chậm luân chuyển và phát sinh các chi phí
không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm dẫn đến lợi nhuận mà doanh nghiệp
thu được không cao.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây
nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ
không đảm bảo sản xuất liên tục, gây nên những thiệt hại cho doanh nghiệp do
ngừng sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết
với khách hàng. Cũng cần thấy rằng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một
đại lượng không cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:
- Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
- Sự biến động của các loại giá cả các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp
sử dụng cho sản xuất.
- Chính sách, chế độ về lao động, tiền lương đối với người lao động trong từng
doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá
trình dự trữ sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu
cầu vốn lưu động không cần thiết doanh nghiệp tìm các biện pháp phù hợp tác động
đến các nhần tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất.
1.2.2. Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
1.2.2.1. Phương pháp trực tiếp
Nội dung của phương pháp này là căn cứ vào yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu của từng
khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động
của doanh nghiệp.
* Đối với dự trữ nguyên vật liệu: Nhu cầu vốn cần thiết tối thiểu được xác
định theo công thức sau:
Zn : giá thành sản phẩm bình quân một ngày.
N
tp
: số ngày dự trữ thành phẩm.
Ưu điểm: Xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn trong từng khâu
kinh doanh. Do đó tạo điều kiện tốt cho việc quản lý, sử dụng vốn cho từng loại
trong từng khâu sử dụng.
Nhược điểm: Việc tính toán tương đối phức tạp, mất nhiều thời gian nếu
doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật tư trong sản xuất.
1.2.2.2.Phương pháp gián tiếp
Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào số vốn lưu động bình quân năm
báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động năm kế hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp năm kế hoạch.
Công thức tính toán như sau:
V
nc
= V
0bq
x
0
1
M
M
x ( 1 + t% )
Trong đó: Vnc: nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch.
V
0bq
: số vốn bình quân vốn lưu động năm báo cao.
thường xuyên.
+ Nếu số vốn lưu động còn thiếu, doanh nghiệp tiếp tục khai thác đến nguồn
bên ngoài doanh nghiệp như: Vốn liên doanh, vốn vay của ngân hàng, hoặc các
công ty tài chính, vốn từ việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu…Khi khai thác các
nguồn vốn bên ngoài, điều đáng lưu ý nhất là phải cân nhắc yếu tố lãi suất tiền vay.
- Phải luôn có những giải pháp bảo toàn và phát triển vốn lưu động. Cũng như
vốn cố định, bảo toàn được vốn lưu động có nghĩa là bảo toàn được giá trị thực của
vốn hay nói cách khác đi là bảo toàn được sức mua của đồng vốn không bị giảm sút
so với ban đầu. Điều này thể hiện qua khả năng mua sắm TSCĐ và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động thông
qua các chỉ tiêu tài chính như : vòng quay toàn bộ vốn lưu động, hiệu quả sử dụng
vốn lưu đông, hệ số nợ…Nhờ các chỉ tiêu này người quản lý tài chính có thể điều
chỉnh kịp thời các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng
mức doanh lợi.
Các vấn đề nêu trên chỉ mang tính nguyên tắc. Trên thực tế vấn đề quản lý sử
dụng vốn lưu động là rất phức tạp điều này đòi hỏi người quản lý không chỉ có lý
thuyết mà cần phải có đầu óc thực tế và có “nghệ thuật” sử dụng vốn.
9
1.4. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.4.1. Các khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc
độ luân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất. Tốc độ này
càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược lại.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốn
lưu động cần cho một đồng luân chuyển là ít nhất. Quan niệm này thiên về chiều
hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng luân chuyển thì
càng tốt. Nhưng nếu hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì hiệu quả sử dụng
đồng vốn cũng không cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là thời gian ngắn nhất để vốn lưu động quay
Sức sinh lời của VLĐ =
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
- Mức tiết kiệm vốn lưu động
V
tk
=
360
M1
x (K
1
- K
0
)
Hoặc:
V
tk
=
1L
1M
-
0L
1M
Trong đó:
V
tk
: Vốn lưu động tiết kiệm.
M : Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
L
- Vòng quay vốn lưu động
Doanh thu thuần trong kỳ
Vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần và chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động ( K ): Phản ánh số ngày để thực hiện một
vòng quay vốn lưu động.
K =
L
360
Hay : K =
M
360x Vbq
Vòng quay vốn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và
chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.
- Vòng quay hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Hoặc
Doanh thu thuần
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu này cho biết hệ số này càng lớn cho thấy công ty đang làm ăn rất tốt
12
và hiệu quả kinh doanh càng cao. Ngược lại, vòng quay hàng tồn kho thấp cho thấy
hàng hóa của doanh nghiệp bị ứ đọng.
- Vòng quay tiền
doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước. Ngược lại, nếu
chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh
nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước.
1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.4.3.1. Các nhân tố chủ quan
- Trình độ quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp: quản lý vốn lưu động tốt
sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc này đòi hỏi phải có các nhà quản
lý có trình độ, được đào tạo, có khả năng phân tích đánh giá, dự báo để xử lý kịp
thời các vấn đề nảy sinh.
- Cơ cấu tổ chức lao động của DN: việc bố trí lực lượng lao động phù hợp với chức
năng nhiệm vụ sẽ giúp họ phát huy năng lực của mình và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Chẳng hạn, ở khâu thu mua nguyên vật liệu doanh nghiệp cần có nhân viên
hiểu biết thị trường, có nhân viên kỹ thuật, giám định hàng hóa…Trong khâu tiêu
thụ cần những nhân viên có năng lực, kinh nghiệm để có thể đưa sản phẩm đến tay
13
khách hàng một cách nhanh nhất…
- Chính sách sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp: đây là một nhân tố quan
trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cao hay không phụ thuộc nhiều
vào chính sách sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp như: các chính sách về tiền
mặt, chính sách về dự trữ, chính sách về tín dụng thương mại…Công cụ chủ yếu để
theo dõi quản lý sử dụng vốn là hệ thống kế toán – tài chính. Công tác kế toán thực
hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình hình tài
chính của doanh nghiệp nói chung cũng như việc sử dụng vốn nói riêng trên cơ sở
đó ra quyết định đúng đắn. Mặt khác, đặc điểm hạch toán, kế toán nội bộ doanh
nghiệp luôn gắn với tính chất tổ chức sản xuất của doanh nghiệp nên cũng tác động
tới việc quản lý vốn. Vì vậy, thông qua công tác kế toán mà thường xuyên kiểm tra
tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, sớm tìm ra những điểm tồn tại để có biện
pháp giải quyết.
- Vấn đề con người luôn là then chốt quyết định các vấn đề khác. Con người là
các chính sách vĩ mô của Chính phủ như chính sách tài khóa, chính sách lãi suất,
chính sách hối đoái…tác động tới giá trị và số lượng các khoản mục trong tài sản
lưu động hết sức rõ rệt. Ngoài ra, còn các tác động khác như cung cầu thị trường về
vốn sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp, về nguyên vật liệu…Tình hình lạm phát
lãi suất hiện tại cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Chiến lược sản xuất kinh doanh, các chính sách của các đối thủ cạnh tranh và
các doanh nghiệp khác cũng là vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm. Trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt như hiện nay việc thu hút khách hàng là điều quan trọng sống
còn đối với doanh nghiệp vì thế doanh nghiệp cần có các chính sách khuyến khích
xúc tiến để tạo lợi thế so với đối thủ cạnh tranh thông qua chính sách tín dụng
thương mại, đồng thời xác định mức dự trữ hợp lý tránh thiếu hụt, duy trì sản xuất
kinh doanh khi mà nguyên liệu đầu vào khan hiếm, điều này phải dựa trên cơ sở các
phân tích dự đoán của doanh nghiệp về xu hướng của thị trường.
- Môi trường chính trị - xã hội: môi trường này trước hết tác động đến hành vi
tiêu dùng của khách hàng, ngoài ra nó còn có tác động lớn đến các DN có mặt hàng
xuất khẩu. Các bạn hàng nước ngoài thường e dè nếu làm ăn với các doanh nghiệp
mà tình hình chính trị xã hội ở đó không ổn định. Nếu môi trường chính trị xã hội
ổn định sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững và thu hút được nhiều bạn
hàng quốc tế.
- Môi trường pháp lý: là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp
luật của Nhà nước tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường cho
các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế
hoạch vĩ mô.
15
- Tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Khi khoa học kỹ thuật phát triển đến
tốc độ đỉnh cao trong thời đại văn minh này như một sự kỳ diệu thị trường công
nghệ biến động không ngừng và chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các nước là
rất lớn. Mặt khác nó đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng
khốc liệt. Do đó, để sử dụng vốn có hiệu quả doanh nghiệp phải xem xét đầu tư vào
Tên giao dịch: Tien Lu Commercial & Garment Joint Stock Company.
Địa chỉ : Ba Hàng - Thủ Sỹ - Tiên Lữ - Hưng Yên
Điện thoại : 0321.3878878 Fax: 0321.3878829
Mã số thuế : 5600147093
Vốn điều lệ : 14.000.000.000 đồng
Công ty cổ phần may và thương mại Tiên Lữ sản xuất hoạt động theo Điều lệ
Công ty Cổ phần và Luật Doanh Nghiệp, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc
lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định
của Pháp luật, tự chủ về mặt tài chính, có tư cách pháp nhân.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
* Chức năng của công ty cổ phần may và thượng mại Tiên Lữ là:
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa.
17
- Kinh doanh bất động sản.
- Tạo ra sản phẩm may mặc.
* Nhiệm vụ là:
- Sản xuất và kinh doanh quần, áo, vải may quần, may áo.
- Đào tạo công nhân may lành nghề.
- Đầu tư kinh doanh bất động sản.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần may và thương mại Tiên Lữ
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, việc tổ chức bộ máy của Công ty cũng
là một yếu tố mang tính quyết định đến thành bại của Công ty bởi nó liên quan trực
tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.Tổ chức bộ máy quản lý có
chặt chẽ, gọn gàng, khoa học thì công việc kinh doanh mới đạt hiệu quả cao.
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần may và thương mại Tiên Lữ
Giám đốc : Là một trong những sáng lập viên đầu tiên, chỉ đạo điều hành toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, thay mặt công ty ký kết các
hợp đồng tài chính và hợp đồng thương mại. Giám đốc cũng là người chịu trách
nhiệm trước Pháp Luật về mọi hoạt động của Doanh nghiệp.
Phó giám đốc : Là người giúp giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt động
- Lập kế hoạch tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp.
- Dự thảo và chỉnh lý các hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật, quản lý và
theo dõi tốt các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
- Tổ chức làm tốt công tác thống kê báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty.
Phòng tài chính kế toán : Doanh nghiệp là một đơn vị hạch toán kinh tế độc
lập được tổ chức theo mô hình hạch toán tập trung. Vì thế phòng tài chính kế toán
có chức năng quản lý sự vận động của vốn, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ hạch
toán kế toán.
Nhiệm vụ chính của phòng tài chính kế toán là:
- Phòng có nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán, thống kê phù hợp với tổ chức
sản xuất kinh doanh của Công ty. Thực hiện đúng chế độ tài chính kế toán,thống kê
do cấp trên và Nhà nước quy định. Giám sát việc thực hiện chế độ tài khoản, chế độ
thanh toán.
- Ghi chép tính toán phản ánh số liệu hiện có, tình hình luân chuyển hình
thành và sử dụng các nguồn tài chính của đơn vị, tài sản vật tư tiền vốn, lập kế
hoạch và báo cáo thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh và sử dụng kinh phí của
đơn vị.
- Xây dựng kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch
sản suất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính, kỹ thuật thu nộp, thanh toán. Kiểm
tra việc giữ gìn sử dụng các tài sản vật tư, tiền vốn kinh phí của đơn vị. Phát hiện
ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô lãng phí, vi phạm chính sách chế độ kỷ
luật kinh tế tài chính của Nhà nước.
Phòng vật tư : Tổ chức thu mua hàng hóa để đảm bảo cho quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Nhiệm vụ chính của phòng vật tư là:
- Tạo được mối quan hệ tốt với bạn hàng, đảm bảo hàng hóa luôn ổn định về
chất lượng quy cách và chủng loại.
- Phối hợp đồng bộ với phòng kinh doanh khi thực hiện các hợp đồng nhằm
19