Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G I A H À N Ộ I
K H O A C Ô N G N G H Ệ
BÙI XUÂN SƠN
PHỔ HỔNG NGOẠI - TÍN HIỆU ĐlỂU KHIEN b a n g
HỔNG NGOẠI
VÀ VIỆC THIẾT KẾ, CHÊ TẠO THIẾT BỊ TẢNG KHOẢNG CÁCH
• ' • t
GIỮA THIẾT BỊ ĐlỂU KHIEN v à THIÊT bị đ ư ợ c đ iể u k h iể n
C H U Y Ê N N G À N H : K Ỹ T H U Ậ T V Ô T U Y Ê N Đ IỆ N T Ử V À T H Ô N G T IN L I Ê N L Ạ C
MÃ SỐ: 2.07.00
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC
• • •
N G Ư Ờ I H Ư Ớ N G D Ẫ N K H O A H Ọ C :
TS VƯƠNG Đ Ạ O VY
ĐAI HOC cuoc GIA HA NỌ! Ị
TRUNGTẢM THGMB TIN.
THƯ
Y Ộ
•Y - h / : w _
HÀ NỘI 2002
1
3
3
3
4
8
9
9
11
13
17
NGOẠI
1.4.1 Đ ặ c tín h d òng và áp
1.4.2 N h iễ u
1.4.3 Đ ộ n h ậy của b ộ cả m biế n
TÍN HIỆU ĐIỀU KHIỂN BẰNG HồNG NGOẠI
2.1 ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT CỦA TÍN HIỆU Đ iề u KHIEN
2.2 TÍN HIỆU ĐIỀU KHIEN c ủa m ộ t số HÃNG TIÊU Biểu
2.2.1 H ã n g P h illip s và m ã R C 5
2.2.2 H ã n g S O N Y
2.2 .3 H ã n g J V C
2 .2 .4 H ã n g N E C , A P E X , H IT A C H I, P IO N E E R 35
CHUƠNG 3 Mộ t s ố ú n g d ụ n g c ủ a HồNG n g o ạ i 37
3.1 ĐIỀU KHIỂN TỪ XA BẰNG HồNG NGOẠI 37
3.1.1 M ạ c h điề u kh iể n từ xa b ằn g hồ n g n goạ i vớ i 32 chức 37
năn g
3 .1 .2 B ộ phát đa năng và mạch thu dùng vi điều khiển 41
3.2 CÔNG NGHỆ KẾT HỢP DỬLIỆU H ồNG NGOẠI IrDA 44
3.2 .1 Đặc đ iể m 44
3.2.2 Bảng giới thiệu các loại sản phẩm dùng IrDA 46
3.3 MỘT SỐ Sơ ĐỒ ÚNG DỤNG KHÁC 46
3.3.1 K h o á đó ng mở d ùng ánh sáng h ồng ngo ại 4 6
3 .3 .2 M ạ c h tiến khuy ế ch đ ại tín h iệ u h ồng ng oại 47
3 .3.3 M ạ c h phá t - th u â m thanh bằn g tín hiệ u hồng ng o ại 48
PHẦN II THỤC NGHIỆM: THIÊT k ế, chê' tạo t hiết bị tả ng 5 0
KHOẢNG CÁCH GIỮA THIÊT BỊ ĐlÊU KHIEN và
THIẾT BỊ ĐƯỢC ĐIỀU KHIEN
CHƯƠNG 4 C ơ SỞ CỦA VIỆC XÂY DỤNG THỤC NGHIỆM 50
4.1 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA 50
4 .2 Cơ SỞ ĐỂ XÂY DỤNG THỤC NGHIỆM 52
4.2.1 N g u yên lý c h un g 52
5.4 .5 K ế t quả đo với k ênh 8 tạ i b ộ th u 79
5 .4.6 K ế t qu ả đo v ới tín h iệ u sóng m a ng tạ i bộ th u 80
5.4.7 K ế t quả đo vớ i kên h 1 tạ i bộ phá t 81
5.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐO 81
PHẦN III K Ế T LU Ậ N 84
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nghiên cứu cấu trúc hoá học và các trạng thái chuyển động của phân
tử, người ta đã tìm ra được đặc tính bức xạ hồng ngoại của vật chất và vẫn
thường quen gọi là tia hồng ngoại hay sóng hồng ngoại.
Bức xạ hồng ngoại có rất nhiều trong tự nhiên, chúng thường xuất hiện
trong các nguồn có bức xạ nhiệt. Trong kỹ thuật sóng hồng ngoại được tạo ra
nhờ quá trình biến đổi điện - quang và được dùng rất phổ biến trong xử lý
thông tin.
Tia hồng ngoại có thể dễ dàng được tạo ra nhưng lại không bị ảnh hưởng
bởi trường điện từ, nhờ đó nó được sử dụng trong giao tiếp trao đổi thông tin
và điều khiển.
Úng dụng sóng hồng ngoại trong điều khiển từ xa đã được thực hiện từ
nhiều năm nay và đó cũng là ứng dụng thuộc lĩnh vực điều khiển bằng vô
tuyến. Chính vì vậy nó có thể cho phép và tham gia thực hiện được nhiều chức
năng điều khiển, tuỳ thuộc vào đặc tính kỹ thuật của thông tin điều khiển. Tuy
nhiên điều này chỉ được thực hiện trong phạm vi của khoảng cách ngắn và trực
tiếp. Đó là một trong những hạn chế của lĩnh vực ứng dụng này.
Giải pháp thích hợp để khắc phục nhược điểm trên cho các thiết bị dùng
điều khiển từ xa bằng hồng ngoại là sử dụng thiết bị tăng khoảng cách bằng
dây dẫn kim loại. Đây cũng chính là nội dung của việc xây dựng thực nghiệm
Thiết bị tăng khoảng cách giữa thiết bị điều khiển và thiết bị được điều
khiển của bản luận văn này.
Tôi cho rằng những nội dung trình bầy trong bản luận văn không tránh
khỏi những thiết sót, vì thế tôi mong nhận được sự lượng thứ và góp ý của
người đọc.
Hồng
ngoại
gần
Hồng ^ Hồng ngoại
ngoại xa
trung
bình
Vệ
tinh
Radar
Vô
tuyến
Radio
' vùng hồng ngoại I
Hình 1.1 Sự phân bố vùng bước sóng của sóng điộn từ
Phổ hồng ngoại chiếm một vùng khá rộng trong phổ tần số của sóng điện
từ (xem hình 1 .1 ) và thường được chia thành ba vùng: hồng ngoại gần, hồng
ngoại trung bình và hồng ngoại xa. Hồng ngoại được ứng dụng rộng rãi trong
công nghệ thông tin hiện đại, trong tự động hoá các quá trình điều khiển.
Trong kỹ thuật truyền tin bằng sợi quang, người ta có thể truyền cùng một lúc
3
15.000 cuộc điện thoại hay 12 kênh truyền hình qua một sợi quang dẫn với
đường kính 0,13 mm. Trong truyền dữ liệu, lượng thông tin được truyền đi
bằng bức xạ hồng ngoại lớn gấp nhiều lần so với sóng điện từ.
Dựa vào bước sóng của bức xạ hồng ngoại mà người ta có thể dò tìm
được bức xạ nhiệt của vật chất, của cơ thể người, cách hàng km với độ
chính xác 0,rc, với cách này có thể nhìn thấy mọi vật vào ban đêm, có thể
thu được hình ảnh nhiệt.
Khi nghiên cứu cấu trúc hoá học và các trạng thái chuyển động của phân
tử, người ta đã tìm ra được đặc tính bức xạ hồng ngoại của vật chất. Đó chính
của các hạt nhân nguyên tử xung quanh vị trí cân bằng của chúng trong
phân tử. Năng lượng dao động được ký hiệu là Ed.
> Năng lượng quay: Năng lượng quay được tạo ra do sự quay của phân tử
xung quanh những trục nào đó của phân tử. Năng lượng quay được ký
hiệu là Eq.
Các dạng năng lượng trên của phân tử đều là các giá trị gián đoạn, người
ta thường coi năng lượng toàn phần E của phân tử là tổng của năng lượng điện
tử Ee , năng lượng dao động Ed và năng lượng quay Eq.
E = Ee + Ed + Eq (1.1)
Công thức trên chỉ là gần đúng bởi vì cả ba dạng chuyển động ứng với ba
dạng năng lượng trên không độc lập với nhau mà chúng có tương tác với nhau.
Chẳng hạn khi phân tử quay nhanh, lực ly tâm làm cho các phân tử dãn xa
nhau hơn và làm thay đổi những đặc trưng của chuyển động, hay khi một điện
tử chuyển động thì lực tương tác giữa điện tử và hạt nhân thay đổi cũng làm
ảnh hưởng đến đặc trưng chuyển động của phân tử.
Khi hấp thụ bức xạ, phân tử chuyển từ mức năng lượng này lên mức năng
lượng khác cao hơn, chẳng hạn từ trạng thái điện tử cơ bản lên trạng thái điện
tử kích thích. Năng lượng mà phân tử được bổ sung khi hấp thụ bức xạ không
5
được giữ lâu mãi. Thời gian phân tử giữ năng lượng hấp thụ rất ngắn, khoảng
108 đến 10 1 giây. Có nhiều cách để phân tử làm biến đổi phần năng lượng hấp
thụ đó. Sự va chạm giữa các phân tử dẫn đến việc phân bố lại năng lượng giữa
chúng. Do đó năng lượng mà phân tử hấp thụ được có thể chuyển thành năng
lượng quay, năng lượng dao động và năng lượng chuyển động tịnh tiến của
các phân tử khác theo nguyên tắc phân bố đều.
Biến thiên của năng lượng điện tử AEe lớn hơn biến thiên của năng lượng
dao động AEd khoảng 10 đến 100 lần. Biến thiên của năng lượng dao động lớn
hơn biến thiên của năng lượng quay AEq khoảng 100 đến 1000 lần. Hình 1.2
biểu diễn sự phân bố năng lượng của phân tử gồm hai nguyên tử, trong đó j0,
jj, j2, là các mức năng lượng quay, v0, Vị, v2, là các mức năng lượng dao
-vl,
.vlo
A
V
A
V
^ 1
Trạng thái
điện tử
kích thích
Trạng thái
điện tử
cơ bản
Hình 1.2 Các trạng thái năng lượng của phân tử hai nguyên tử
Để kích thích điện tử cần phải có năng lượng lớn hơn nhiều vào khoảng
vài chục đến hàng trăm kcal/mol. Năng lượng đó ứng với các bức xạ thuộc
vùng ánh sáng nhìn thấy hoặc vùng tử ngoại.
7
Các bức xạ có năng lượng thấp như sóng cực ngắn hoặc hồng ngoại xa
chỉ đủ làm thay đổi trạng thái quay của phân tử, vì vậy khi nghiên cứu sự hấp
thụ bức xạ trong vùng hồng ngoại xa hoặc vùng vi sóng ta sẽ thu được phổ
quay thuần tuý.
Năng lượng của bức xạ theo Planck thì nó không phải là liên tục mà là
gồm bởi các lượng tử năng lượng nhỏ bé tỉ lệ với tần số co. Các dao động tử
(phân tử chẳng hạn) chỉ có thể phát ra hoặc hấp thụ năng lượng từng đơn vị
gián đoạn, từng lượng nhỏ nguyên vẹn gọi là lượng tử năng lượng. Độ lớn của
lượng tử năng lượng không phải là cố định mà phụ thuộc vào tần số của dao
động tử và được xác định bởi hệ thức Planck:
e = h(0 (1.2 )
Trong đó h = 6,626 X 10 34 J.s gọi là hằng số Planck
điện của bức xạ điện từ, cần phải có thêm điều kiện là sự chuyển mức năng
lượng nhất thiết phải kèm theo sự thay đổi của các trung tâm điện tích trong
phân tử, tức là thay đổi sự phân bố điện tích trong phân tử. Theo điều kiện này
thì những phân tử có cấu trúc đối xứng về mặt phân bố điện tích như H2, N2,
không có quang phổ quay và quang phổ dao động, bởi vì kiểu dao động hoá trị
đối xứng không làm thay đổi moment lưỡng cực của phân tử nên sự quay và
sự dao động của chúng không làm xuất hiện một sự bất đối xứng về điện.
9
Đối với các phân tử nhiều nguyên tử, việc xét đoán một chuyển mức
nãng lượng chẳng hạn một dao động nào đó có thoả mãn điều kiện trên hay
không thì cần phải xem xét cụ thể tính đối xứng của phân tử. Những chuyển
mức được phép thì có xác suất chuyển lớn và được đặc trưng bởi cường độ hấp
thụ lớn, những chuyển mức bị cấm thì có xác xuất chuyển nhỏ và đặc trưng
bởi cường độ hấp thụ nhỏ.
Các yếu tố đối xứng thông thường là: Tâm đối xứng (ký hiệu là i); mặt
phẳng đối xứng hay còn gọi là mặt phẳng gương, mặt phẳng phản chiếu, mặt
phẳng phản xạ (ký hiệu là ơ); trục đối xứng hay gọi là trục quay (ký hiệu là
C).
Nếu phân tử quay được n vị trí tương đương khác nhau so với trục đã
chọn thì ta nói trục quay đó là trục quay bậc n và ký hiệu là Cn. M ỗi lần phân
tử quay quanh trục Cn một góc 2rc/n ta đều được một định hướng tương đương
và sau n lần quay ta sẽ được chính vị trí của phân tử ban đầu.
Nếu phân tử được thực hiện bởi thao tác quay xung quanh một trục rồi
sau đó lấy đối xứng qua mặt phẳng vuông góc với trục quay hoặc lấy đối xứng
trước rồi quay sau. Nếu sau hai thao tác đó ta thu được một cấu trúc tương
đương ban đầu thì ta nói phân tử đó một trục quay phản xạ.
Xác định các mặt phảng: Mặt phẳng đối xứng chứa trục đối xứng bậc cao
nhất được gọi là mặt phẳng đứng; mặt phẳng vuông góc với trục đối xứng bậc
cao nhất được gọi là mặt phẳng nằm ngang.
Tiêu chuẩn về tính quang hoạt: Nếu ảnh gương của phân tử không trùng
E , = 2 / 0 + 1 )
Hệ thức 1.4 cho thấy năng lượng quay Ej tỉ lệ nghịch với moment quán
tính I và các mức năng lượng ứng với các giá trị của j càng lớn thì càng cách
xa nhau.
1.2.2. Sự quay của phân tử và phổ quay
11
m.
m, m
Hình 1.3 Sơ đổ mô tả moment cùa quay tử
Phổ quay của phân tử được sinh ra do sự chuyển dịch giữa các mức năng
lượng quay. Đối với quang phổ quay thuần tuý của phân tử hai nguyên tử thì
sự chuyển dịch giữa các mức năng lượng quay tuân theo nguyên tắc: Phân tử
chỉ hấp thụ những bức xạ tương ứng chính xác với biến thiên giữa các mức
năng lượng của chúng và sự chuyển mức năng lượng nhất thiết phải kèm theo
sự thay đổi của các trung tâm điện tích trong phân tử, tức là thay đổi sự phân
bố điện tích trong phân tử. Chuyển dịch này tuân theo quy tắc chọn lọc Aj =
±1.
Nếu Aj = +1 thì phân tử ứng với quá trình hấp thụ bức xạ
Nếu Aj = -1 thì phân tử ứng với quá trình phát xạ
Giả sử có sự chuyển dịch từ mức quay j n lên j m , khi đó biến thiên năng
lượng giữa hai mức là:
AEq = hQjm(jm+ l) - hQjn(jn+ l) = hQ{jm(jm+ l) - hQ(jn(jn+l)ỉ
khi đó tần số quay của vạch phổ hấp thụ tương ứng là:
A E
a' =—
Vì Aj = +1 nên j m = j n + 1 do đó ta có:
12
thay j n bằng các giá trị 0, 1,2, 3, vào công thức trên, ta sẽ thu được các giá
trị có tần số tương ứng CD = 2Q, 4Q, 6 Q , Như vậy, phổ quay của phân tử hai
nguyên tử (nếu coi là một quay tử rắn) là một dẫy vạch cách đều nhau và
hằng số lực k và khối lượng rút gọn m có liên hệ theo công thức:
1 í~ĩ~ _ m^m-y
cod = (1-8) m ~ mx+m2
2n \m
Biểu thức (1.8) trên cho thấy dao động sẽ có tần số càng cao nếu k càng
lớn và khối lượng rút gọn m càng nhỏ.
Dưới tác dụng của lực triệu hồi f, hệ có thế năng V được xác định theo hệ
thức:
f = ~ = - k ầ r = -k(r-rữ) ( 1 . 9 )
dr
t ừ đ ó t a c ó : vr = -k (r-r ữ) 2 + V0 ( 1 . 1 0 )
Trong đó V r là thế năng của hệ ứng với sự chuyển dịch nào đó khỏi vị trí cân
bằng; v 0 là thế năng ứng với vị trí cân bằng (r=r0), do đó v 0 là thế năng cực
tiểu.
Theo biểu thức (1.10), đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc thế năng của phân tử
hai nguyên tử vào khoảng cách r giữa hai nguyên tử là một parabol.
Theo cơ học lượng tử, đối với dao động điều hoà, năng lượng toàn phần
Ed chỉ có thể nhận một dẫy giá trị gián đoạn phù hợp với hệ thức:
Ed =V = (v + ị)h cod ( 1 . 1 1 )
Trong đó V là số lượng tử dao động , V = 0, 1, 2, 3,
14
ở trạng thái dao động thấp nhất V = 0, dao động của phân tử vẫn có năng
lượng Ed = —h(0d. Năng lượng này gọi là năng lượng không, ngay cả ở nhiệt
độ không tuyệt đối.
Theo công thức (1.11) hiệu giữa hai mức năng lượng liền kề nhau luôn
bằng hcod. Vì vậy trên hình 1.5 những mức năng lượng dao động được biểu
diễn bởi những đường thẳng nằm ngang cách đều nhau.
Trong thực tế, dao động của phân tử không phải là dao động điều hoà.
Khi hai hạt nhân lại gần nhau, lực tương tác tăng lên nhanh hơn so với lúc khi
chúng rời xa nhau. Do đó đường biểu diễn thế năng theo khoảng cách r không
phân tử lại tương tác với nhau làm biến đổi lẫn nhau, nên chúng không còn
tương ứng với tần số dao động cơ bản nữa. Ngoài ra còn có thể có nhiều dao
động có tần số trùng nhau gây ra hiệu ứng cộng hưởng,
Để việc phân tích được đơn giản, người ta đưa vào khái niệm “ dao động
nhóm” . Theo quan niệm “ dao động nhóm” , những nhóm nguyên tử giống
nhau trong phân tử có cấu tạo khác nhau sẽ có những dao động định vị thể
hiện ở những tần số giống nhau. Những tần số ứng với các dao động nhóm
được gọi là tần số đặc trưng nhóm. Nó phụ thuộc vào mối liên kết giữa các
nguyên tử trong nhóm và khối lượng của các nguyên tử tham gia liên kết, các
hiệu ứng điện tử, hiệu ứng không gian và liên kết nội phân tử.
16
1.3. CƯỜNG ĐỘ VÀ HÌNH DẠNG CỦA V Â N PHổ H ổNG NGOẠI
Khi phân tích phổ hồng ngoại, ngoài việc xem xét vị trí (tần số) của vân
phổ còn phải xét đến cường độ và hình dạng của vân phổ.
1.3.1. Cường độ của phổ hồng ngoại
Cường độ hấp thụ là biểu hiện của xác suất chuyển dời năng lượng từ
trạng thái dao động thấp lên trạng thái năng lượng dao động cao hơn. Theo lý
thuyết hạt, cường độ của bức xạ được xác định bởi số hạt photon. Chùm tia
bức xạ mạnh (cường độ lớn) thì ứng với dòng photon dày đặc. Khi bức xạ đi
qua một môi trường vật chất hấp thụ nào đó thì một số hạt photon bị giữ lại
(hấp thụ) làm cho dòng photon giảm đi hay cường độ nhỏ đi.
Việc nghiên cứu lý thuyết của hấp thụ bức xạ hồng ngoại, cho thấy
cường độ hấp thụ bức xạ hổng ngoại không liên quan trực tiếp đến moment
lưỡng cực |J của liên kết phân tử, mà nó liên quan trực tiếp đến sự biến thiên
moment lưỡng cực theo khoảng cách liên kết giữa hai nguyên tử dụ/dr.
Chính vì vậy, không phải liên kết nào có moment lưỡng cực lớn đều có
cường độ hấp thụ hồng ngoại lớn. Chẳng hạn với phân tử c o có moment
lưỡng cực là 0,1 có cường độ hấp thụ tương đối là 53, trong khi đó phân tử
ClBr có moment lưỡng cực là 0,57 nhưng lại có cường độ hấp thụ tương đối là
1.
của bức xạ . Sự hấp thụ của các nhóm nguyên tử được thể hiện bởi những vân
phổ với các đỉnh phổ tại một số lượng sóng xác định vẫn thường gọi là tần số.
Các vân phổ hồng ngoại nói chung thường mảnh và nhọn. Tuy nhiên
cũng có những vân phổ trải ra trong một vùng tần số rộng (xem hình 1.7). Các
vân phổ hồng ngoại sinh ra do sự chuyển mức năng lượng hoặc các chuyển
động cơ bản của phân tử như đã nêu trong phần trên gây ra gọi là các vân phổ
hồng ngoại cơ bản. Các vân phổ không liên quan trực tiếp đến các chuyển
động cơ bản của phân tử mà do các chuyển động tương tác hay do hiện tượng
cộng hưởng giữa một vân cơ bản với một vân “ hoạ âm” hoặc giữa một vân cơ
bản với một vân tổ hợp gây ra gọi là vân phổ hồng ngoại không cơ bản.
1.4. CÁC ĐẶC TÍN H CHUNG CỦA BỘ CẢM BIÊN H ồNG NGOẠI
Các thiết bị quang điện tử sử dụng tương tác giữa ánh sáng và điện tử
trong các vật liệu để tạo ra hiệu ứng vật lý được dùng rất phổ biến trong kỹ
thuật xử lý thông tin.
Việc lựa chọn thiết bị thu, phát (cảm biến) hồng ngoại cho một hệ thống
phụ thuộc vào đặc tính của chúng như: miền phổ độ nhậy, các mức tín hiệu
quang học, mức tín hiệu điện mong muốn, nhiễu cực đại cho phép, đáp ứng ở
vùng tần số nào, vv
1.4.1. Đặc tính dòng và áp
Khi ánh sáng chiếu vào một vật hấp thụ có cường độ I0 thì sau khi qua
lớp vật liệu hấp thụ cường độ ánh sáng còn lại là I và khi đó I < I0, đó là vì
cường độ ánh sáng khi qua lớp vật liệu hấp thụ nó phụ thuộc rất lớn vào đặc
tính của vật liệu hấp thụ, vào các nguồn nhiễu và các hiệu ứng vật lý, hoá học
1.3.2. Hình dạng của vân phổ hồng ngoại
19
xuất hiện trong vật liệu, ngoài ra một phần của ánh sáng chiếu vào vật hấp thụ
bị mất đi do phản xạ với bề mặt tiếp xúc.
Để nghiên cứu các tính chất của bộ cảm biến hồng ngoại thì cần phải xây
dựng đặc tính tĩnh quan hệ giữa dòng điện và điện áp i = f(v). Đặc tính tĩnh
này cần được giới hạn trong miền công suất, bằng việc lựa chọn điểm làm việc
quang thông (Sj, Sv), trở kháng (Z), độ dẫn nạp (A) của cảm biến. Công suất
trên tải sẽ cực đại khi z = Rtải.
Quang
thông
VO
dv
Hình 1.8 Đặc tính tĩnh dòng điện - điện áp của Sensor
1.4.2. Nhiễu
Khi có nguồn tín hiệu ánh sáng ở dạng xung vuông kích thích vào bộ
cảm biến, bằng dụng cụ đo quang có độ nhậy cao, ta có thể thu được đáp ứng
dòng i hoặc điện áp V.
Dưới tác dụng của nhiễu các đáp ứng này bị tác động tạo nên độ biến
thiên của dòng và áp xung quanh giá trị trung bình của tín hiệu. Các biến thiên
này có thể được phân thành hai loại như sau:
Nhiễu phụ thuộc vào các thông số bên ngoài như: Nhiệt độ, quang thông
hoặc do sự lão hoá của hệ thống.
Nhiễu xuất hiện do bản chất hạt của vật chất và bức xạ của nguyên tử,
các hiệu ứng xẩy ra trong vật liệu.
Nhiễu phụ thuộc thông số bên ngoài thì có thể loại trừ được, nhưng với
trường hợp thứ hai thì không thể khắc phục được. Đây cũng chính là giới hạn
phạm vi làm việc và độ chính xác của phép đo.
21