Thẩm quyền, thủ tục cấp và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài - Pdf 26

Mục lục
Mục lục 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Khái quát về đầu tư ra nước ngoài 2
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư ra nước ngoài 2
1.2 Khái quát về tình hình đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam 4
2.Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài 8
2.1 Những quy định chung về hoạt động đầu tư ra nước ngoài 8
2.1.1Chủ thể của hoạt động đầu tư ra nước ngoài 8
2.1.2 Điều kiện đầu tư ra nước ngoài 8
2.1.3 Ưu đãi, cấm, hạn chế đầu tư ra nước ngoài 9
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ nhà đầu tư ra nước ngoài 10
2.2 Thẩm quyền, thủ tục cấp và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài 10
2.2.3 Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài 13
2.3 Triển khai thực hiện dự án đầu tư 14
Tài liệu tham khảo 16
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là xu hướng tất yếu của
1
các nước trên thế giới. Đó không chỉ là đặc quyền của các nước có nền kinh tế phát triển, có
tiềm lực tài chính mạnh, có khoa học công nghệ hiện đại, có trình độ quản lý tiên tiến mà ngay
cả đối với các nước có nền kinh tế đang và kém phát triển thì dòng đầu tư ra cũng đã phát triển
một cách mạnh mẽ. Sự tham gia của các nước đang phát triển làm phong phú, đa dang thêm
môi trường hoạt động đầu tư quốc tế. Vịêt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó, trong
những năm gần đây, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Vịêt Nam
ngày càng phát triển, không chỉ đầu tư sang các nước đang và kém phát triển mà còn đầu tư
sang các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp… Hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài giúp doanh nghiệp khai thác được những lợi thế cạnh tranh cũng như có thể vượt
qua các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư để có thể mở rộng thị trường sản xuất, tạo
điều kiện thu được nhiều hiệu quả hơn từ hoạt động sản xuất kinh doạnh
Vì đây là một lĩnh vực rất mới đối với Vịêt Nam nên trong phạm vi đề án môn học này em xin

ngoài thông qua thị trường tài chính mua cổ phần hoặc chứng khoán của các công
ty của nước tiếp nhận đầu tư thu lwoij nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập
chứng khoán mà không tham gia điều hành trực tiếp đối với đối tượng mà họ bỏ
vốn ra đầu tư
Hình thức đầu tư này có đặc điểm sau:
 Phương thức đầu tư chủ yếu là nhà đầu tư mua một số lượng cổ phần nhất
định của công ty nước ngoài đang làm ăn có hiệu quả để hưởng cổ tức
 Nhà đầu tư không được tham gia điều hành trực tiếp đối với công ty mà họ
đầu tư vốn, tài sản.
 Nước tiếp nhận đầu tư không có cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, kinh
3
nghiệm và trình độ quản lý của nhà đầu tư nhưng họ lại tận dụng được nguồn vốn
nhàn rỗi và biết cách chia sẽ rủi ro kinh doanh cho những nhà đầu tư ra nước
ngoài.
1.2 Khái quát về tình hình đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam.
Tính đến hết tháng 2/2011, Việt Nam đã có 575 dự án đầu tư vào 55 quốc gia và vùng lãnh thổ trên
thế giới với tổng số vốn đăng ký đạt trên 23,7 tỷ USD. Trong đó phần vốn của các doanh nghiệp Việt
Nam đã vượt 10 tỷ USD. Điều này khẳng định năng lực cạnh tranh và sự lớn mạnh của các doanh
nghiệp Việt Nam, thể hiện bước chuyển mới về quy mô và phương thức sản xuất từ manh mún và lạc
hậu sang có tính chiến lược và hiện đại sau hơn 2 thập kỷ phát triển, góp phần đưa sản phẩm và
thương hiệu Việt đến gần hơn với thị trường thế giới.
Nhìn lại hành trình đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, có thể chia ra làm 3 giai đoạn
chủ yếu sau:
Giai đoạn 1 từ 1989-1998: nhỏ lẻ và manh mún. Trước khi có Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày
14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 18
dự án ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD, quy mô bình quân mỗi dự án đạt
0,76 triệu USD. Việc đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ
nhu cầu nội tại của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do đầu những năm 1990, lượng vốn FDI vào Việt
Nam liên tục gia tăng, nhất là trong lĩnh vực dệt - may, nên lượng quota xuất khẩu hàng năm không
đáp ứng đủ năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách "đóng cửa rừng", cấm khai thác đánh bắt gần

nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Như vậy, nhờ việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khuôn khổ pháp lý của hoạt động đầu tư ra nước
ngoài đã dần dần được hoàn thiện hơn, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy
định về đầu tư ra nước ngoài đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP; trong khi thủ tục đầu tư ra
nước ngoài đã được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH
ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Giai đoạn 3 từ 2006 đến nay: giai đoạn bùng nổ. Tính từ ngày 9/9/2006 (tức là một ngày sau khi Nghị
định số 78/2006/NĐ-CP ra đời) đến hết năm 2007 các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 100 dự án ra
nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng lại
tăng gần gấp rưỡi về vốn đăng ký, còn vốn bình quân/dự án cũng cao gần gấp đôi so với giai đoạn
1999 - 2005, đạt 8,16 triệu USD/dự án. Xu hướng này tiếp tục gia tăng mạnh trong năm 2008 với số
vốn đăng ký đạt hơn 3 tỷ USD cho 113 dự án cấp mới và 10 dự án tăng vốn.
Năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nên kế hoạch đầu tư ban đầu có sự điều chỉnh
5
giảm với số vốn dự kiến vào khoảng 2,8 tỷ USD. Nhưng thực tế đã không diễn ra theo đúng kịch bản
của cơ quan dự báo khi các doanh nghiệp Việt Nam lại coi đây là cơ hội để mở rộng thị trường và tìm
kiếm địa bàn đầu tư mới. Kết quả là năm 2009, vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt
Nam đạt 7,2 tỷ USD cho 457 dự án bao gồm cả cấp mới và tăng vốn tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh
thổ, bằng 143% kế hoạch và bằng 214% so với toàn bộ quá trình từ 1989 - 2008 xét về vốn. Đây là kết
quả khả quan trong bối cảnh luồng FDI toàn cầu có sự suy giảm mạnh dưới tác động của khủng hoảng
kinh tế kéo theo sự đổ vỡ của hàng loạt công ty. Điều này được lý giải là do hiệu ứng trễ của kinh tế
Việt Nam trước những tác động của kinh tế thế giới và khu vực, dù nền kinh tế của chúng ta có độ mở
khá lớn nếu xét theo tỷ trọng thương mại.
Năm 2010, số dự án đầu tư được cấp phép tuy giảm mạnh so với năm 2009 với chỉ 107 dự án và số
vốn đăng ký cũng chỉ đạt 2,926 tỷ USD, gần bằng mức của năm 2008, trong đó vốn thực hiện đạt
khoảng 900 triệu USD. Nhưng đây được xem là một cố gắng lớn của các doanh nghiệp Việt Nam, nhất
là trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đã thực sự đặt chúng ta trước những thách thức lớn về
phát triển do phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng
bền vững và hiệu quả hơn chứ không chỉ dựa trên sự gia tăng về vốn, hay nhân công giá rẻ.
Bảng 1: ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM THEO TỪNG GIAI ĐOẠN

mang tính tự phát với sự tham gia của đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay những bước thăm dò
mang tính khai phá của một số doanh nghiệp tư nhân như Sacombank hay Hoàng Anh Gia Lai, trong
vòng vài ba năm trở lại đây, các tập đoàn kinh tế lớn thuộc sở hữu Nhà nước đã trở thành những
người dẫn đầu trong việc khai mở những thị trường mới ngoài biên giới Việt Nam. Tính riêng vốn đầu
tư của 5 tập đoàn là Dầu khí, Công nghiệp Than - Khoáng sản, Công nghiệp Cao su, Viettel, Tổng công
ty Sông Đà đã chiếm đến 67% lượng vốn chuyển ra bên ngoài để đầu tư của các thành phần kinh tế.
1. Vai trò của hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Xuất phát từ tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua, có
thể khẳng định rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài đang là một xu hướng tất yếu của các nhà đầu
tư. Bỡi lẽ các hoạt động đầu tư tại thị trường Việt Nam ngày càng bão hòa và cũng vấp phải sự cạnh
tranh không kém phần quyết liệt. Nếu chuyển hướng hoặc mở rộng đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp nhà
đầu tư khai thác được lợi thế so sánh của các nước tiếp nhận đầu tư. Việc tiến hành các hoạt động
đầu tư ra nước ngoài có vai trò sau đây:
- Giúp các nhà đầu tư ở Việt Nam khai thác được những lợi thế co sánh của nước tiếp nhận đầu
tư, qua đó tận dụng được chi phí sản xuất thấp của nước tiếp nhận đầu tư để sản xuất những sản
phẩm có giá thành hạ hơn so với sản phẩm sản xuất trong nước, giảm được chi phí vận chuyển đối với
việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước tiếp nhận đầu tư, nhờ đó nâng cao hiệu quả đầu tư.
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư Việt Nam mở rộng được thị trường tiêu thụ sản
phẩm.
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư kéo dài chu kì sống của sản phẩm mới tạo ra trong
nước.
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi
dào, ổn định và giá rẻ.
7
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư tránh được hàng rào thuế quan của nước tiếp nhận
đầu tư.
- Đầu tư ra nước ngoài mang về cho đất nước một lượng ngoại lệ đáng kể góp phần vào công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đai hóa .
2.Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài.
2.1 Những quy định chung về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

a) Có dự án đầu tư ra nước ngoài;
b) Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam;
c) Được cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
2. Việc đầu tư ra nước ngoài theo hình thức đầu tư gián tiếp phải tuân thủ các quy định của pháp
luật về ngân hàng, chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Việc sử dụng vốn nhà nước để đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của pháp luật về
quản lý, sử dụng vốn nhà nước.
2.1.3 Ưu đãi, cấm, hạn chế đầu tư ra nước ngoài.
 Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức kinh tế tại Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài đối với những lĩnh vực xuất khẩu nhiều lao động; phát huy có hiệu
quả các ngành, nghề truyền thống của
 Việt Nam; mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước
đầu tư; tăng khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ.
Nhà nước Việt Nam không cấp phép đầu tư ra nước ngoài đối với những dự án gây
phương hại đến bí mật, an ninh quốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ
tục của Việt Nam.
Căn cứ các quy định tại Điều 75 của Luật Đầu tư và tình hình kinh tế - xã hội trong từng
thời kỳ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các lĩnh vực khuyến khích, cấm, hạn
chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
9
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ nhà đầu tư ra nước ngoài
 Nhà đầu tư ra nước ngoài có các quyền sau:
- Chuyển vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư
theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối sau khi dự án đầu tư được cơ quan có thẩm
quyền của nước, vùng lãnh thổ đầu tư chấp thuận.
-Được hưởng các ưu đãi về đầu tư theo quy định của pháp luật.
-Tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh doanh do nhà đầu tư
thành lập ở nước ngoài.
 Nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài
- Tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.

1. Hồ sơ dự án đầu tư gồm:
a) Văn bản đăng ký dự án đầu tư.
b) Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập
hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương đối với nhà đầu tư là tổ chức; hoặc Giấy chứng minh
thư nhân dân hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân Việt Nam; hoặc Giấy phép đầu tư đối
với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày
01 tháng 07 năm 2006 nhưng không đăng ký lại theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.
c) Hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổ phần hoặc hợp tác
đầu tư đối với dự án đầu tư có đối tác khác cùng tham gia đầu tư.
d) Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng cổ đông hoặc
đại hội xã viên về việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với trường hợp nhà đầu tư là Công ty
trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty hợp danh hoặc Công ty cổ phần hoặc hợp tác xã trong trường
hợp cần thiết theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã.
2. Nhà đầu tư nộp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư 03 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó có 01 bộ hồ sơ
gốc. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự án đầu tư quy định tại khoản 1
Điều này. Trường hợp có nội dung cần phải được làm rõ liên quan đến hồ sơ dự án đầu tư, trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản đề
nghị nhà đầu tư giải trình về nội dung cần phải được làm rõ.
3. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đồng thời sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi nhà đầu tư
đặt trụ sở chính.
4. Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản
thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.
 Quy trình thẩm tra, cấp Giấy chứng nhận đầu tư
1. Hồ sơ dự án đầu tư gồm:
a) Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư.
b) Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có

bản về các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công; quá thời hạn trên mà cơ
quan được hỏi không có ý kiến bằng văn bản thì được coi là đã chấp thuận hồ sơ dự án đầu tư đối
với những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.
c) Đối với các dự án đầu tư quy định tại Điều 9 Nghị định này, trong thời hạn 25 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ý kiến
thẩm định bằng văn bản kèm theo hồ sơ dự án đầu tư và ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có
liên quan để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
d) Đối với các dự án đầu tư không quy định tại Điều 9 Nghị định này, trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
đ) Giấy chứng nhận đầu tư được sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
nhà đầu tư đặt trụ sở chính.
e) Trường hợp hồ sơ dự án đầu tư không được chấp thuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản
thông báo và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư
12
2.2.3 Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài.
Khi có nhu cầu điều chỉnh dự án đầu tư đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư liên quan đến
mục tiêu đầu tư, quy mô dự án đầu tư, vốn đầu tư, chủ đầu tư, nước tiếp nhận dự án đầu tư,
thời hạn thực hiện dự án đầu tư thì nhà đầu tư phải làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng
nhận đầu tư theo quy trình sau:
1. Quy trình đăng ký, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư áp dụng đối với các trường hợp
sau:
a) Nội dung điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư không liên quan đến quy mô vốn đầu tư và
lĩnh vực đầu tư.
b) Nội dung điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư không liên quan đến lĩnh vực đầu tư thuộc
các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, tài chính, tín dụng, báo chí, phát thanh,
truyền hình, viễn thông có sử dụng vốn nhà nước từ 150 tỷ đồng Việt Nam trở lên hoặc
vốn của các thành phần kinh tế từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên.và tổng vốn đầu tư sau khi

tư kèm theo bản sao văn bản chấp thuận dự án đầu tư hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương
đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ Ngoại giao, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính.
2. Văn bản thông báo thực hiện dự án đầu tư gồm các nội dung sau:
a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của tổ chức kinh tế ở nước ngoài; tên, địa chỉ chi nhánh, văn
phòng đại diện (nếu có).
b) Mục tiêu đầu tư, lĩnh vực đầu tư.
c) Vốn đầu tư của tổ chức kinh tế ở nước ngoài; phần vốn tham gia của nhà đầu tư.
d) Thông tin về người đại diện nhà đầu tư và người đại diện tổ chức kinh tế ở nước ngoài
gồm: họ, tên, địa chỉ thường trú (tại Việt Nam và tại nước ngoài), chức vụ, số chứng minh
thư nhân dân hoặc số hộ chiếu.
3. Trường hợp có sự thay đổi về nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày có sự thay đổi, nhà đầu tư có văn bản thông báo về nội dung thay đổi gửi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
 Thời hạn triển khai dự án đầu tư
1. Quá thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà dự án đầu tư không
được nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận, hoặc quá thời hạn 06 tháng, kể từ ngày dự án đầu tư
được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận mà dự án đầu tư không được
triển khai thì nhà đầu tư phải có văn bản nêu rõ lý do và đề nghị kéo dài thời hạn triển khai dự án
đầu tư hoặc đề nghị chấm dứt dự án đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kéo dài thời hạn triển
khai dự án đầu tư hoặc văn bản đề nghị chấm dứt dự án đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn
bản chấp thuận hoặc không chấp thuận về việc kéo dài thời hạn triển khai dự án đầu tư hoặc chấp
thuận chấm dứt dự án đầu tư, đồng thời gửi Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ Ngoại giao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
nhà đầu tư đặt trụ sở chính.
3. Việc gia hạn triển khai dự án đầu tư được thực hiện không quá 02 lần, mỗi lần không quá 06
tháng.
 Báo cáo tình hình hoạt động của dự án đầu tư

nghiệp áp dụng đối với dự án đầu tư trong nước trong cùng lĩnh vực đầu tư.
3. Trường hợp nước tiếp nhận đầu tư là quốc gia hoặc thuộc vùng lãnh thổ đã ký Hiệp định tránh
đánh thuế hai lần với Việt Nam thì nghĩa vụ về thuế của nhà đầu tư đối với Nhà nước Việt Nam
thực hiện theo quy định của Hiệp định đó.
4. Trường hợp nước tiếp nhận đầu tư là quốc gia hoặc thuộc vùng lãnh thổ chưa ký Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì khoản thuế thu nhập doanh nghiệp đã được nộp ở nước
tiếp nhận đầu tư sẽ được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
5. Việc miễn thuế xuất khẩu đối với tài sản mang ra nước ngoài để triển khai dự án đầu tư thực
hiện theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
2.4 Thanh lý, chấm dứt hoạt động đầu tư.
 Thanh lý dự án đầu tư
1. Ngay sau khi kết thúc dự án đầu tư, nhà đầu tư phải thanh lý dự án đầu tư theo quy định của
pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.
2. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày kết thúc việc thanh lý dự án đầu tư, nhà đầu tư phải
chuyển về nước toàn bộ các khoản thu từ việc thanh lý dự án đầu tư.
15
3. Trường hợp có nhu cầu kéo dài thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, nhà đầu tư phải có văn
bản đề nghị và nêu rõ lý do gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, quyết định. Việc gia hạn được
thực hiện một lần và không quá 06 tháng
 Chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đầu tư
Giấy chứng nhận đầu tư chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau:
1. Hết thời hạn quy định ghi tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc hết thời hạn đầu tư theo quy định
của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.
2. Quá thời hạn quy định tại Điều 21 Nghị định 78/2006 mà dự án đầu tư không được triển khai.
3. Tổ chức kinh tế ở nước ngoài bị giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật nước tiếp
nhận đầu tư.
4. Nhà đầu tư bị phá sản hoặc giải thể dẫn tới việc phải giải thể tổ chức kinh tế ở nước ngoài
hoặc phải chuyển nhượng toàn bộ vốn đầu tư ở nước ngoài cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
5. Quá 12 tháng, kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương
đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư mà nhà đầu tư không có văn bản báo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status