TÌM HIỂU VỀ MÔ HÌNH HỆ THỐNG CLIENT SERVER - Pdf 26

HỌC VIỆN KỸ THUẬT MẬT MÃ
Báo cáo Bài tập lớn
Môn: Nguyên lý Hệ Điều Hành
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ MÔ HÌNH HỆ THỐNG CLIENT - SERVER

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ ĐỨC THUẬN
NHÓM THỰC HIỆN:
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Mô hình Client-Sever là một mô hình nổi tiếng trong mạng máy tính, được
áp dụng rất rộng rãi và là mô hình của mọi trang web hiện có. Ý tưởng của mô
hình này là máy con (đóng vài trò máy khách) gửi một yêu cầu để máy chủ (đóng
vài trò cung cấp dịch vụ) xử lý và trả kết quả.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và nhu cầu trong các lĩnh
vực đời sống đều ngày càng gắn bó mật thiết với việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào sản xuất, kinh doanh, thông tin nhằm tăng năng suất lao động, mang đến
sự thuận tiện lớn trong các nhu cầu ngày càng lớn của con người.
Để quản lý tài nguyên và xây dựng hệ thống phân tán tài nguyên thì không
thể thiếu việc sử dụng mô hình Client-Sever. Đó cũng là lý do mà chúng em chọn
đề tài “Hoạt động của mô hình Client-Sever” để tìm hiểu cơ bản về quá trình hoạt
động của chúng.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn cũng như khả năng còn nhiều hạn chế nên đề
tài của nhóm chúng em làm chắc chắn không thể tránh được sai sót và sự chưa
hoàn thiện. Chúng em mong nhận được sự chỉ dẫn thêm từ thầy giáo.
2
Tài liệu tham khảo
- Wiki: vi.wikipedia.org/wiki/Client-server
- />- Các nguồn khác trên Internet
3
1. Các mô hình xử lý mạng:

2.1.Mô hình mạng Workgroup
Mô hình mạng Workgroup là một nhóm máy tính mạng cùng chia sẻ tài nguyên
như file dữ liệu, máy in. Nó là một nhóm lôgíc của các máy tính mà tất cả chúng
có cùng tên nhóm. Có thể có nhiều nhóm làm việc (workgroups) khác nhau cùng
kết nối trên một mạng cục bộ (LAN).
Mô hình mạng Workgroup cũng được coi là mạng peer-to-peer bởi vì tất cả các
máy trong workgroup có quyền chia sẻ tài nguyên như nhau mà không cần sự chỉ
định của Server. Mỗi máy tính trong nhóm tự bảo trì, bảo mật cơ sở dữ liệu cục bộ
của nó. Điều này có nghĩa là, tất cả sự quản trị về tài khoản người dùng, bảo mật
5
cho nguồn tài nguyên chia sẻ không được tập trung hóa. Bạn có thể kết nối tới một
nhóm đã tồn tại hoặc khởi tạo một nhóm mới.
Ưu điểm là Workgroups không yêu cầu máy tính chạy trên hệ điều hành
Windows Server để tập trung hóa thông tin bảo mật; workgroups thiết kế và hiện
thực đơn giản và không yêu cầu lập kế hoạch có phạm vi rộng và quản trị như
domain yêu cầu; workgroups thuận tiện đối với nhóm có số máy tính ít và gần
nhau (≤ 10 máy).
Nhược điểm là mỗi người dùng phải có một tài khoản người dùng trên mỗi máy
tính mà họ muốn đăng nhập; bất kỳ sự thay đổi tài khoản người dùng, như là thay
đổi mật khẩu hoặc thêm tài khoản người dùng mới, phải được làm trên tất cả các
máy tính trong Workgroup, nếu bạn quên bổ sung tài khoản người dùng mới tới
một máy tính trong nhóm thì người dùng mới sẽ không thể đăng nhập vào máy tính
đó và không thể truy xuất tới tài nguyên của máy tính đó; việc chia sẻ thiết bị và
file được xử lý bởi các máy tính riêng, và chỉ cho người dùng có tài khoản trên
máy tính đó được được sử dụng.
2.2.Mô hình mạng Domain
Mô hình mạng Domain là một nhóm máy tính mạng cùng chia sẻ cơ sở dữ liệu
thư mục tập trung (central directory database). Thư mục dữ liệu chứa tài khoản
người dùng và thông tin bảo mật cho toàn bộ Domain. Thư mục dữ liệu này được
biết như là thư mục hiện hành (Active Directory).

chung hay các máy in.
• Các máy tính trạm (Client computers): Các máy tính trạm chạy một hệ điều
hành dùng cho máy trạm của người dùng và cho phép người dùng truy cập
tới nguồn tài nguyên trong domain.
Không giống như Workgroup, Domain phải tồn tại trước khi người dùng tham
gia vào nó. Việc tham gia vào Domain luôn yêu cầu người quản trị Domain cung
cấp tài khoản cho máy tính của người dùng tới domain đó. Tuy nhiên, nếu người
quản trị cho người dùng đúng đặc quyền, người dùng có thể khởi tạo tài khoản máy
tính của mình trong quá trình cài đặt.
3. Khái niệm mô hình client-server
3.1.Mô hình client-server:
Là một mô hình nổi tiếng trong mạng máy tính, được áp dụng rất rộng rãi và là mô hình của mọi
trang web hiện có. Ý tưởng của mô hình này là máy con (đóng vài trò là máy khách) gửi một yêu cầu
(request) để máy chủ (đóng vai trò người cung ứng dịch vụ), máy chủ sẽ xử lý và trả kết quả về cho máy
khách.
Một mô hình ngược lại là mô hình master-slaver, trong đó máy chủ (đóng vai trò ông chủ) sẽ gửi dữ
liệu đến máy con (đóng vai trò nô lệ) bất kể máy con có cần hay không.
3.2. Mô hình Web client/server :
Thuật ngữ server được dùng cho những chương trình thi hành như một dịch vụ
trên toàn mạng. Các chương trình server này chấp nhận tất cả các yêu cầu hợp lệ
đến từ mọi nơi trên mạng, sau đó nó thi hành dịch vụ và trả kết quả về máy yêu
cầu. Một chương trình được coi là client khi nó gửi các yêu cầu tới máy có chương
trình server và chờ đợi câu trả lời từ server. Chương trình server và client nói
chuyện với nhau bằng các thông điệp (messages) thông qua một cổng truyền thông
liên tác IPC (Interprocess Communication).
8
Để một chương trình server và một chương trình client có thể giao tiếp được
với nhau thì giữa chúng phải có một chuẩn để nói chuyện, chuẩn này được gọi là
giao thức. Nếu một chương trình client nào đó muốn yêu cầu lấy thông tin từ
server thì nó phải tuân theo giao thức mà server đó đưa ra. Bản thân chúng ta khi

chương trình server thường đều thi hành ở mức ứng dụng (tầng ứng dụng của
mạng).
Sự thuận lợi của phương pháp này là nó có thể làm việc trên bất cứ một mạng
máy tính nào có hỗ trợ giao thức truyền thông chuẩn cụ thể ở đây là giao thức
TCP/IP. Với các giao thức chuẩn này cũng giúp cho các nhà sản xuất có thể tích
hợp nhiều sản phẩm khác nhau của họ lên mạng mà không gặp phải khó khăn gì.
Với các chuẩn này thì các chương trình server cho một dịch vụ nào đấy có thể thi
hành trên một hệ thống chia sẻ thời gian (timesharing system) với nhiều chương
trình và dịch vụ khác hoặc nó có thể chạy trên chính một máy tính các nhân bình
thường. Có thể có nhiều chương server cùng làm một dịch vụ, chúng có thể nằm
trên nhiều máy tính hoặc một máy tính.
Với mô hình trên chúng ta nhận thấy rằng mô hình client/server chỉ mang đặc
điểm của phần mềm không liên quan gì đến phần cứng mặc dù trên thực tế yêu cầu
cho một máy server là cao hơn nhiều so với máy client. Lý do là bởi vì máy server
phải quản lý rất nhiều các yêu cầu từ các clients khác nhau trên mạng. Ưu và
nhược điểm chính Có thể nói rằng với mô hình client/server thì mọi thứ dường như
đều nằm trên bàn của người sử dụng, nó có thể truy cập dữ liệu từ xa (bao gồm các
10
công việc như gửi và nhận file, tìm kiếm thông tin, ) với nhiều dịch vụ đa dạng
mà mô hình cũ không thể làm được.
Mô hình client/server cung cấp một nền tảng lý tưởng cho phép tích hợp các
kỹ thuật hiện đại như mô hình thiết kế hướng đối tượng, hệ chuyên gia, hệ thông
tin địa lý (GIS) Một trong những vấn đề nảy sinh trong mô hình này đó là tính
an toàn và bảo mật thông tin trên mạng. Do phải trao đổi dữ liệu giữa 2 máy ở 2
khu vực khác nhau cho nên dễ dàng xảy ra hiện tượng thông tin truyền trên mạng
bị lộ.
1.Client Trong mô hình client/server, người ta còn định nghĩa cụ thể cho một
máy client là một máy trạm mà chỉ được sử dụng bởi 1 người dùng với để muốn
thể hiện tính độc lập cho nó. Máy client có thể sử dụng các hệ điều hành bình
thường như Win9x, DOS, OS/2 Bản thân mỗi một client cũng đã được tích hợp

dịch vụ này có thể là toàn bộ hoặc chỉ một phần thông qua IPC.
Để đảm bảo tính an toàn trên mạng cho nên server này còn có vai trò như là
một nhà quản lý toàn bộ quyền truy cập dữ liệu của các máy clients, nói cách khác
đó là vai trò quản trị mạng. Có rất nhiều cách thức hiện nay nhằm quản trị có hiệu
quả, một trong những cách đang được sử dụng đó là dùng tên Login và mật khẩu
12
4. So sánh với các mô hình ứng dụng mạng khác (peer to peer )
Mô hình mạng ngang hàng (Peer–to–Peer Network)
Mạng peer–to–peer là một ví dụ rất đơn giản của các mạng LAN. Chúng cho
phép mọi nút mạng vừa đóng vai trò là thực thể yêu cầu các dịch vụ mạng (client),
vừa là các thực thể cung cấp các dịch vụ mạng (server). Trong môi trường này,
người dùng trên từng máy tính chịu trách nhiệm điều hành và chia sẻ tài nguyên
của máy tính mình. Mô hình này chỉ phù hợp với các tổ chức nhỏ và không quan
tâm đến vấn đề bảo mật. Phần mềm mạng peer–to–peer được thiết kế sao cho các
thực thể ngang hàng thực hiện cùng các chức năng tương tự nhau.
Các đặc điểm của mạng peer–to–peer là mạng peer–to–peer còn được biết đến
như mạng workgroup (nhóm làm việc) và được sử dụng cho các mạng có ≤ 10
người sử dụng (user) làm việc trên mạng đó; không đòi hỏi phải có người quản trị
mạng (administrtor); trong mạng peer–to–peer mỗ người sử dụng làm việc như
người quản trị cho trạm làm việc riêng của họ và chọn tài nguyên hoặc dữ liệu nào
mà họ sẽ cho phép chia sẻ trên mạng cũng như quyết định ai có thể truy xuất đến
tài nguyên và dữ liệu đó.
Ưu điểm là đơn giản cho việc cài đặt và chi phí tương đối rẻ.
Nhược điểm là Không quản trị tập trung, đặc biệt trong trường hợp có nhiều tài
khoản cho một người sử dụng (user) truy xuất vào các trạm làm việc khác nhau;
việc bảo mật mạng có thể bị vi phạm với các người sử dụng có chung tên người
dùng, mật khẩu truy xuất tới cùng tài nguyên; không thể sao chép dự phòng
(backup) dữ liệu tập trung. Dữ liệu được lưu trữ rải rác trên từng trạm
5. Vấn đề bảo mật trong mô hình client-server
Kiểu tấn công MITM có hiệu suất cao bởi vì giao thức HTTP và Data Tranfer


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status