ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH
PHỐ HUẾ NĂM 2009
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí
quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các
quyền của công dân. Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội. Mỗi nhà
nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ
bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp.
Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế,
nên ngay những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan
tâm đến ban hành pháp luật về thừa kế. Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta,
lần đầu tiên được quy định trong chương "Điền sản" của Bộ luật Hồng Đức dưới
triều vua Lê Thái Tổ. Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng CNXH ở
nước ta, các quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện
trên thực tế tại các Điều 19 Hiến pháp 1959 "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ
quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân". Điều 27 Hiến pháp 1980 "Nhà nước
bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân", Điều 58 Hiến pháp 1992 "Nhà nước
bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân"... và đặc biệt là sự ra
đời của Bộ luật Dân sự 1995, sau đó Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu một
bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế nói
riêng. Bộ luật Dân sự 2005 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá
những quy định của pháp luật về thừa kế. Nó kế thừa và phát triển những quy định
phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa
kế một cách có hiệu quả nhất.
1
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời
sống kinh tế - xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa thể trù
liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế. Còn một số quy định pháp
thi pháp luật.
3. Mục đích nghiên cứu
Tác giả xác định chọn đề tài này cũng dựa trên cơ sở có những mục đích
nghiên cứu rõ ràng như quy định về người để lại di sản thừa kế, người thừa kế, thời
điểm, thời gian mở thừa kế, di sản thừa kế, người quản lý di sản... và những điểm
mới trong chế định thừa kế. Sự kế thừa, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là
một quy luật khách quan, nhưng các quan hệ thừa kế ở mỗi chế độ xã hội được giải
quyết như thế nào là do chủ quan con người quyết định. Quyền sở hữu cá nhân là
cơ sở khách quan của việc thừa kế. Vì vậy, quyền thừa kế trong điều kiện của nước
ta hiện nay được thể hiện như một phương tiện để củng cố sở hữu của công dân,
củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình, bảo vệ lợi ích của những người chưa thành
niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
Pháp luật của nước ta bảo vệ những lợi ích cơ bản của mỗi người lao động
trên cơ sở bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa
bỏ những tàn tích của chế độ xã hội phong kiến để lại. Tạo môi trường pháp lý
thuận lợi làm cho nhân dân lao động yên tâm sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất
cho xã hội. Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm xem gia đình là tế bào của xã
hội, phải đảm bảo quyền lợi chính đáng cho mọi thành viên và sự ổn định của từng
gia đình. Mặt khác thông qua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần trách nhiệm của
mỗi thành viên đối với gia đình. Do đó xác định được diện những người thừa kế
cũng như phương thức chia di sản trong pháp luật về thừa kế có ý nghĩa quan trọng
trong việc thực hiện các chức năng vai trò xã hội của nó.
3
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã
chết để lại (trong đó một số trường hợp người để lại di sản có thể chỉ là hoa lợi tức,
phát sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân đã chết
không thể chuyển cho những người thừa kế (tiền cấp dưỡng) vì pháp luật quy định
chỉ có người đó mới có quyền hưởng.
5. Cơ cấu bài niên luận
5
1.1.2. Khái niệm về quyền thừa kế
Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế là tổng hợp các quy
phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống. Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác
theo di chúc hoặc theo tình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa
vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của con người để lại di sản
và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy
định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó có các chủ thể
có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trong quan hệ này, người có tài sản, trước
khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác. Những người có
quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Đối tượng của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã
chết để lại (trong một số trường hợp người chết để lại chỉ có hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản). Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân người đã
chết không thể chuyển cho người thừa kế như tiền cấp dưỡng vì pháp luật quy định
chỉ có người đó mới có quyền được hưởng.
1.2. Một số quy định chung về thừa kế
1.2.1. Người để lại di sản thừa kế
Là cá nhân sau khi chết (cá nhân chết hoặc bị tòa án tuyên bố chết) có tài sản
để lại cho người khác thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Người để
lại thừa kế chỉ có thể là cá nhân. Còn không có pháp nhân hay tổ chức vì khi thành
lập, tài sản của pháp nhân, tổ chức là để duy trì các hoạt động của chính mình.
Không cá nhân nào được quyền định đoạt tài sản của pháp nhân, tổ chức. Nếu pháp
6
nhân, tổ chức có giải thể, phá sản thì tài sản được giải quyết theo quy định của pháp
hoặc phần lớn tài sản (khoản 2 điều 633 Bộ luật dân sự). Bộ luật dân sự quy định
địa điểm mở thừa kế, vì ở nơi đó thường phải tiến hành những công việc như: kiểm
kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường hợp cần thiết), xác định những ai là
người thừa kế theo di chúc hoăc theo pháp luật, người từ chối nhận di sản... Ngoài
ra, những người trong diện thừa kế từ chối nhận di sản thì phải thông báo ngay với
cơ quan công chứng hoặc UBND phường, xã, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ
chối nhận di sản. Khi có tranh chấp thì tòa án nhân dân nơi có di sản mở thừa kế có
thẩm quyên giải quyết.
1.2.4. Thời điểm mở thừa kế
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp
Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác
định tại khoản 2 điều 82 Bộ luật dân sự ( quy định tại khoản 1 điều 633). Việc xác
định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng. kể từ thời điểm đó, xác định được chính
tài sản, quyền và nghĩa vụ của người để lại di sản thừa kế gồm có những gì và khi
chia di sản còn bao nhiêu. Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người
thừa kế những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế là cá nhân phải
còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa
kế nhưng thành thai trước khi người để lại di sản chết.
1.2.5. Di sản thừa kế
Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại. Tại điều 634 Bộ luật dân sự
2005 quy định: “Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong
khối tài sản chung với người khác”.
+ Di sản thừa kế là tất cả tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết (có
thể là tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền như:cổ phiếu, ngân phiếu, công trái, sổ tiết
8
kiệm, séc, tín phiếu, kỳ phiếu…điều 163 Bộ luật dân sự 2005) và các quyền tài sản
(Điều 181 Bộ luật dân sự 2005: quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có
thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể như:
Quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt
hại về tài sản…)
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền
thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ
thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện
nghĩa vụ về tài sản để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
1.2.8. Những quy định chung về thừa kế trong pháp luật Việt Nam
1.2.8.1. Thừa kế theo pháp luật
* Khái niệm thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là việc di chuyển tài sản của người chết cho những
người thừa kế theo qui định của pháp luật.
Từ định nghĩa trên chúng ta có cơ sở để xác định thừa kế theo pháp luật trên
cơ sở có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng đối với người
để lại thừa kế, họ được hưởng di sản một cách công bằng, phù hợp với ý chí của
Nhà nước và đạo đức xã hội Việt Nam. Những người được hưởng thừa kế theo qui
định của pháp luật không phụ thuộc vào năng lực hành vi.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì các trường hợp thừa kế theo pháp
luật được xác định như sau: Không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những
người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc hoặc chết cùng thời
điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc
10
không còn vào thời điểm mở thừa kế; những người được chỉ định làm người thừa
kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản, hoặc từ chối quyền hưởng di sản;
phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản có liên quan đến phần
của di chúc không có hiệu lực; phần di sản có liên quan đến người được thừa kế
theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản hoặc chết trước người lập di
chúc, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người
lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được thừa kế theo di chúc, nhưng không
còn vào thời điểm mở thừa kế.
* Điều kiện đối với người thừa kế
Một người chỉ có thể được nhận di sản theo pháp luật khi họ có đầy đủ tư
cách, có nghĩa rằng các nguyên tắc của pháp luật về thừa kế theo pháp luật quy
* Truất quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật
Truất quyền hưởng di sản chỉ là sự bày tỏ ý chí của người có di sản về việc
không cho một người thừa kế nào đó hưởng phần di sản mà họ có thể được hưởng
theo quy định của pháp luật. Người có di sản có thể truất quyền hưởng di sản của
tất cả những người thừa kế theo pháp luật trừ những người hưởng di sản không phụ
thuộc vào nội dung di chúc.
* Truất quyền hưởng di sản được nói rõ
Người lập di chúc có thể tuyên bố rõ là một hoặc nhiều người thừa kế theo
pháp luật không có quyền hưởng di sản và sau đó có thể chỉ định rõ hoặc không chỉ
định ai là người thừa kế theo di chúc hay là người được di tặng.
* Truất quyền hưởng di sản không được nói rõ
Người lập di chúc có thể chỉ định người hưởng di sản nhưng không đả động
gì đến số phận của người thừa kế theo pháp luật không được chỉ định. Như vậy,
người thừa kế không được chỉ định trở thành người bị truất quyền không được nói
rõ.
12