PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2008, năm “Đại hồng thủy” của kinh tế thế giới, cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng sâu rộng đến mọi hoạt động của đời
sống xã hội.Rất nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, tình trạng
thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo động…Trong bối cảnh đó nhu cầu về vốn
là cần thiết hơn bao giờ hết, muốn khôi phục kinh tế không thể không có
vốn.Trong khi thị trường chứng khoán đang xuống dốc không phanh thì các
NHTM được coi là phao cứu sinh của nền kinh tế trong vấn đề cung cấp vốn.
Cùng với những khó khăn chung của kinh tế thế giới, Việt Nam còn
đang trong giai đoạn quan trọng của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa
đất nước, để có thể khai thác hết tiềm năng sẵn có về tài nguyên và con người
đòi hỏi chúng ta phải có một nguồn vốn lớn.Vì vậy, hệ thống ngân hàng đóng
vai trò rất quan trọng trong việc khai thác những nguồn vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vốn hiện nay.
Việc nước ta gia nhập WTO đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng
trong tiến trình hội nhập và phát triển, mở ra một kỉ nguyên mới cho nền kinh
tế Việt Nam.Tham gia tổ chức Thương Mại Thế giới đã mở ra cho chúng ta
nhiều cơ hội mới đồng thời cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức không
nhỏ và ngành ngân hàng cũng vậy.Gia nhập WTO hệ thống ngân hàng nước
ta có điều kiện hoạt động trong một thị trường rộng lớn, có điều kiện hợp tác
liên kết với nước ngoài, qua đó tiếp cận được với những công nghệ hiện đại,
học hỏi kinh nghiệm quản lí cũng như những kinh nghiệm trong kinh
doanh…Bên cạnh những thuận lợi đó là không ít những khó khăn, thách thức
mà hệ thống ngân hàng còn non trẻ của nước ta phải đối mặt, trước hết là sự
cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng trong nước và các ngân hàng đến từ
nước ngoài hơn hẳn chúng ta về nhiều mặt như: năng lực tài chính, trình độ
quản lý, sản phẩm dịch vụ đa dạng chất lượng phục vụ cao đáp ứng được mọi
1
nhu cầu của khách hàng…Cùng với đó là sự cạnh tranh đến từ các ngân hàng
trong nước, điều đó đòi hỏi mỗi ngân hàng phải tự hoàn thiện, tự nâng cao
4. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng công tác huy động vốn tại
Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006-2008 từ đó làm
sáng tỏ thực trạng huy động vốn: kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và
đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của
chi nhánh.
5. Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận chuyên đề gồm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân Hàng TMCP
Hàng Hải chi nhánh Hà Nội
Chương 2: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác huy
động vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh Hà Nội
3
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTM
CỔ PHẦN HÀNG HẢI CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.1. Vài nét tổng quan về NHTM cổ phần Hàng Hải chi nhánh Hà Nội.
1.1.1. Quá trình hình thành,phát triển và cơ cấu tổ chức của chi
nhánh.
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải chi nhánh Hà Nội được thành
lập theo quyết định số 52/HĐQT do Hội đồng quản trị NHTM cổ phần Hàng
Hải thông qua ngày 17/8/1991.
Địa chỉ giao dịch:71 Hai Bà Trưng,quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Sau khi đi vào hoạt đông ngân hàng trở thành chi nhánh cấp 1 trực
thuộc NHTM CP Hàng Hải Việt Nam
Chức năng nhiệm vụ:Không ngừng tăng trưởng nguồn vốn,mở rộng
đầu tư, đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, mở rộng mạng lưới
hoạt động…đấy là những chức năng chính của chi nhánh mà đã được
NHTMCP Hàng Hải Việt Nam phê duyệt.Mặt khác trong quá trình hoạt động
chi nhánh tiến hành huy động vốn và đầu tư vốn đối với mọi thành phần trong
người đứng đầu bộ máy quản lí, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động
kinh doanh của chi nhánh.
Phòng hành chính tổng hợp:
- Chức năng:Tham mưu và giúp việc cho giám đốc trong công tác tổ
chức, quản lí lao động, tiền lương và thực hiện công tác quản trị hành chinh
văn phòng tại chi nhánh.
- Nhiệm vụ và quyền hạn:Làm công tác Quản trị, hành chính văn thư,
công tác tổ chức và quản lí lao động; công tác quản lí cơ sở vật chất kĩ thuật;
công tác đối ngoại và công tác khác.
5
Phòng tài chính kế toán:
- Chức năng: Tổ chức quản lí các hoạt động tài chính kế toán của chi
nhánh; Quản lí giá trị tài sản Có và tài sản Nợ; Quản lí tài sản cố định, công
cụ lao động và chứng từ hạch toán kế toán của chi nhánh; tham gia quản lí
kho tiền.
- Nhiệm vụ và quyền hạn:Thực hiện kiểm soát các nguồn thu, nguồn
chi của chi nhánh; phân tích tình hình tài chính của chi nhánh định kỳ tháng,
quí, năm;đầu mối tổ chức thực hiện quyết toán năm tài chính của chi nhánh;
tổng hợp cuối ngày, cuối tháng, cuối năm đảm bảo cân đối số liệu, tạo và in
các loại báo cáo sổ sách liên quan và một số công tác khác.
Phòng tín dụng bao gồm phòng khách hàng doanh nghiệp và khách
hàng cá nhân:
- Chức năng: tổ chức quản lí và thực hiện việc huy động và cho vay đối
với khách hàng; thực hiện chính sách khách hàng, phân loại khách hàng tiếp
thị và mở rộng thị trường khách hàng.
- Nhiệm vụ và quyền hạn: cấp hạn mức và cấp tín dụng cho khách
hàng.Thực hiện công tác thị trường và quản lí khách hàng
Phòng dịch vụ khách hàng:
- Chức năng: tổ chức quản lí, phát triển và cung cấp các sản phẩm và
dịch vụ ngân hàng cho khách hàng: dịch vụ tài sản,dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ
Tổng NVHĐ 799.305 2387.948 3096.530
Mức tăng 1588.643 708.582
Tốc độ tăng 198.75% 29.67%
Nguồn: Bảng cân đối kế toán các năm 2006-2008
Từ bảng trên ta thấy quy mô nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng
trưởng khá mạnh qua các năm, đặc biệt là năm 2007 đạt giá trị tăng 1588.643
tỷ đồng với tốc độ tăng 198.75% so với năm 2006.Bước sang năm 2008 do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên tình hình huy động
vốn gặp đôi chút khó khăn không còn duy trì được mức tăng như năm 2007
7
nữa, tuy nhiên so với toàn ngành thì tình hình vẫn rất khả quan, năm 2008 chi
nhánh huy động được 3096.530 tỷ đồng tăng 708.582 tỷ so với năm 2007 với
tốc độ tăng 29.67%.Có thể nói trong những năm qua tình hình huy động vốn
của chi nhánh đạt được những kết quả rất đáng khích lệ góp phần quan trọng
tạo nên hiệu quả kinh doanh của chi nhánh trong những năm qua.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng vốn
Với phương châm “đi vay để cho vay” trong những năm qua cùng với
công tác huy động vốn chi nhánh luôn chú trọng đến việc sử dụng nguồn vốn
sao cho đạt hiệu quả cao nhất.Kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
thì yếu tố an toàn phải đặt lên hàng đầu nên trong những năm qua chi nhánh
luôn có chương trình sử dụng vốn hợp lí đảm bảo sự cân đối trong việc sử
dụng nguồn vốn sao cho vừa đảm bảo an toàn vừa đạt được lợi nhuận mong
muốn.Việc sử dụng vốn của chi nhánh chú trọng đền việc cho vay đối với các
doanh nghiệp thuộc đủ mọi thành phần kinh tế, các hộ gia đình và các cá nhân
có nhu cầu về vốn với các sản phẩm dịch vụ như: cho vay ngắn hạn, cho vay
trung và dài hạn,hợp đồng tài trợ…bằng VND, USD…Tình hình sử dụng vốn
của MSB Hà Nội được thể hiện như sau:
Bảng 2:Tình hình đầu tư tín dụng của chi nhánh MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
So sánh 2007/2006 Năm
2008
So sánh 2008/2007
(+/-) (%) (+/-) (%)
Thu từ
dịch vụ
4.458 6.312 1.852 41.54 11.257 4.495 78.34
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2006-2008
So với các ngân hàng khác thì tỷ lệ phần trăm thu từ hoạt động dịch vụ
của chi nhánh còn thấp.Ở các nước phát triển tỷ lệ này thường 60% có khi lên
tới 70-80% trong tổng thu nhập của ngân hàng, tỷ lệ thu từ dịch vụ cao chính
9
là yếu tố cơ bản giúp ngân hàng hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của mình đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động tạo sức cạnh tranh cho ngân
hàng.Trong những năm qua ngân hàng đã chú trọng đến lĩnh vực này và đã
dần nâng cao được mức doanh thu từ dịch vụ cụ thể năm 2007 doanh thu từ
những hoạt động này đạt 6.312 tỷ đồng tăng 1.852 tỷ so với năm 2006 với
mức tăng 41.54%.Năm 2008 doanh thu đạt 11.257 tỷ tăng 4.495 tỷ so với
năm 2007 đạt tốc độ tăng 78.34%.
Để thấy rõ hơn tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh chúng ta
hãy xem kết quả hoạt động kinh doanh của MSB Hà Nội trong các năm
2006-2008 qua bảng sau:
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
1.2 Thực trạng huy động vốn tại NHTM cổ phần Hàng Hải chi
nhánh Hà Nội
1.2.1 Doanh số huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng, chủ yếu của
các ngân hàng nói chung và MSB Hà Nội nói riêng,hoạt động kinh doanh của
ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn huy động được từ bên ngoài.Vì
vậy trong những năm qua MSB Hà Nội xác định việc huy động tối đa các
nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư là nhiệm
vụ trọng tâm để chi nhánh có thể phát triển bền vững.Để cụ thể hóa nhiệm vụ
trọng tâm, cốt lõi đó chi nhánh đã tích cực chủ động khai thác các nguồn vốn
nhàn rỗi, mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hóa các kênh huy động…bên
cạnh đó ngân hàng đã từng bước hoàn thiện chính sách để đưa ra những giải
pháp tốt nhất cho khách hàng, hoàn thiện chính sách tín dụng để nâng cao
chất lượng tín dụng.Cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ, trong những
năm qua chi nhánh đã không ngừng mở rộng địa bàn, mở thêm nhiếu điểm
giao dịch mới, xây dựng một chính sách lãi suất hợp ly để có thể thu hút được
nhiều hơn nguồn vốn từ bên ngoài.Với sự cố gắng không ngừng nghỉ của đội
ngũ cán bộ huy động và toàn thể cán bộ công nhân viên của chi nhánh trong
thời gian qua công tác huy động vốn đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ: tổng nguồn vốn huy động được khá lớn và tăng dần qua các năm, năm
2006 đạt 799.305 tỷ đồng, năm 2007 đạt 2387.948 tỷ đồng tăng gấp 2.98 lần
so với năm 2006, sang năm 2008 doanh số huy động đạt 3096.530 tỷ đồng
tăng 708.582 tỷ so với năm 2007 với mức tăng gần 1.3 lần.Doanh số huy
động vốn của chi nhánh được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1:Doanh số huy động vốn của chi nhánh MSB Hà Nội
11
1.2.2 Các phương thức huy động vốn tại chi nhánh MSB Hà Nội
1.2.2.1 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân
hàng được nhân dân quen dùng và trở thành tập quán của dân cư khi họ có
Bảng 4:Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Tiền gửi KKH 7.052 21% 25.377 24.58% 38.124 27%
Tiền gửi CKH 26.529 79% 77.867 75.42% 103.086 73%
Tổng 33.581 100% 103.244 100% 141.201 100%
Nguồn:Báo cáo của chi nhánh các năm 2006-2008
Trong giai đoạn 2006-2008, tiền gửi tiết kiệm có biến động tăng, tuy
tốc độ tăng không cao nhưng đây là tín hiệu đáng mừng.Trong cơ cấu của tiền
gửi tiết kiệm thì tiền gửi có kì hạn chiếm tỷ trọng cao hơn thường chiếm hơn
70% tổng lượng tiền gửi.Năm 2006 tiền gửi tiết kiệm không kì hạn đạt 26.529
tỷ đồng chiếm 79% lượng tiền tiết kiệm từ dân cư, năm 2007 con số này là
77.867 tỷ đồng chiếm tỉ trọng 75.42% tổng lượng tiền tiết kiệm từ dân cư,
sang năm 2008 lượng tiền gửi tiết kiệm không kì hạn đạt 103.086 tỷ đồng
chiếm tỉ trọng 73% lượng tiền tiết kiệm từ dân cư.
13
1.2.2.2 Tiền gửi của tổ chức kinh tế(TCKT)
Đối với MSB Hà Nội thì nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế là
nguồn vốn chủ yếu, luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn huy động.Đây
là bộ phận tiền gửi tạm thời chưa sử dụng đến trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, được các doanh nghiệp gửi vào ngân hàng với mục
đích chính là thanh toán và đảm bảo an toàn.Nắm bắt được đặc điểm của
nguồn vốn này nên thời gian qua MSB Hà Nội luôn chú trọng khai thác tối đa
mọi nguồn lực sẵn có để huy động được nhiều nhất có thể nguồn này.Cơ cấu
tiền gửi của tổ chức kinh tế tại MSB Hà Nội được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5:Cơ cấu tiền gửi của tổ chức kinh tế tại MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
là chứng chỉ tiền gửi.Ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi nhằm mục đích
huy động vốn từ dân cư trên địa bàn thủ đô để đáp ứng nhu cầu về vốn.Chứng
chỉ tiền gửi phát hành chủ yếu là ngắn hạn với lãi suất cao hơn lãi suất tiền
gửi tiết kiệm và có thể trả trước.
Nguồn vốn huy động từ hình thức này là không lớn chiếm tỉ trọng nhỏ
trong tổng nguồn huy động.Năm 2006 chi nhánh thu hút 14.92 tỷ đồng từ việc
phát hành chứng chỉ tiền gửi, năm 2007 huy động được 18.9 tỷ đồng sang
năm 2008 huy động được 58.866 tỷ đồng tư hình thức huy động này.
15
Chứng chỉ phát hành chủ yếu là ngắn hạn nên có thể thấy mục đích của
việc huy động vốn bằng kênh huy động này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về
vốn của ngân hàng trong một thời gian nhất định.
1.2.2.4 Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác.
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác tại chi nhánh chủ yếu là tiền gửi
không kì hạn, lượng tiền huy động được thường không lớn.Năm 2006 tiền gửi
của các tổ chức tín dụng tại MSB Hà Nội là rất nhỏ chỉ là 52.74 triệu
đồng,năm 2007 con số này đã được cải thiện đáng kể đạt 813.935 triệu đồng
và đến năm 2008 tăng lên 6.078 tỷ đồng.Ta thấy, tiền gửi của tổ chức tín dụng
tăng dần qua các năm điều này cho thấy dịch vụ thanh toán liên ngân hàng
ngày càng phát triển ở Việt Nam.
1.2.3. Cơ cấu vốn huy động
Chi nhánh MSB Hà Nội có một cơ cấu vốn huy động khá đa dạng và
phong phú và được phân chia theo các tiêu thức sau:
Nếu phân theo thành phần kinh tế: ta có vốn huy động từ dân cư và
vốn huy động từ các tổ chức kinh tế.Để thấy rõ hơn về cơ cấu vốn theo thành
phần kinh tế chúng ta hãy xem bảng và các biểu đồ sau:
Bảng 6:Cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
VHĐ từ dân cư 33.581 103.244 141.201
chi nhánh thu hút được 726.550 tỷ đồng từ các TCKT và 33.581 tỷ đồng từ
dân cư,năm 2007 thu hút được 2226.530 tỷ đồng từ các TCKT và 103.244 tỷ
đồng từ dân cư, đến năm 2008 con số này lần lượt là 2840.007 tỷ đồng từ
TCKT và 141.201 tỷ đồng từ dân cư.Nguyên nhân của việc vốn huy động từ
các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng cao là do đặc điểm của địa bàn hoạt động
và đồng thời do các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đưa ra đối với các khách
hàng doanh nghiệp là khá hoàn thiện, nhanh chóng thuận tiện trong khâu
thanh toán, các nghiệp vụ như bảo lãnh,ủy thác đại lí…của chi nhánh cũng rất
phát triển.
Theo loại tiền huy động: ta có vốn huy động bằng nội tệ và vốn huy
động bằng ngoại tệ.
Bảng 7: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền của MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Giá tri Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
VHĐ nội tệ 799.225 99.9% 2387.7052 99.9% 3096.2204 99.9%
VHĐ ngoại tệ 0.080 0.01% 0.2388 0.01% 0.3096 0.01%
Tổng 799.305 100% 2387.948 100% 3096.530 100%
Nguồn: Báo cáo của chi nhánh trong các năm 2006-2008
18
Nhìn vào bảng 7 ta thấy, ngoại tệ huy động được chiếm tỷ trọng rất nhỏ
coi như không đáng kể trong tổng nguồn huy động.Trong cả 3 năm 2006,
2007, 2008 lượng huy động bằng ngoại tệ tuy có biến động tăng nhưng xét
trên tổng nguồn huy động nó chiếm một tỷ lệ rất nhỏ chỉ bằng 0.01%, trong
khi đó vốn huy động bằng nội tệ chiếm 99.9%.
Ngoại tệ mà ngân hàng huy động chủ yếu là đồng USD và EUR, vào
thời điểm cuối năm tài chính được quy đổi ra VND để tính kết quả hoạt động
kinh doanh.
Cơ cấu nguồn vốn theo kì hạn: nếu chia theo kì hạn, vốn huy động của
1.2.4 Chi phí huy động vốn.
Nguồn vốn huy động tăng lên chưa đủ để đánh giá hiệu quả của công
tác huy động vốn, nếu ngân hàng huy động được nhiều song chi phí cho việc
huy động đó cũng rất lớn thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng, thậm
chí ngân hàng có thể bị thua lỗ.Như vậy để có một quá trình huy động vốn đạt
hiệu quả thì tiết kiệm chi phí huy động là biện pháp cần thiết.
20
Trong những năm gần đây cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày
càng gia tăng, làm cho tình hình lãi suất biên động không ngừng đặc biệt là lãi
suất huy động.Ngân hàng muốn huy động được nhiều vốn thì bắt buộc phải
đưa ra mức lãi suất huy động hấp dẫn, không nằm ngoài xu thế đó trong
những năm qua chi nhánh MSB Hà Nội đã dùng công cụ lãi suất để thu hút
nguồn vốn từ bên ngoài điều này làm cho chi phí huy động vốn của chi nhánh
tăng dần qua các năm.
Bảng 9: Chi phí trả lãi cho nghiệp vụ huy động vốn tại MSB Hà Nội.
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
So sánh 07/06 Năm
2008
So sánh 08/07
(+/-) (%) (+/-) (%)
Tổng NVHĐ 799.305 2387.948 1588.643 198.75 3096.530 708.852 29.67
Chi phi trả lãi 55.136 95.590 40.454 73.37 324.999 229.409 239.99
Chi phí trả lãi/Tổng
NVHĐ(%)
6.89 4.00 10.49
Bảng 10: Cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn tại MSB Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng vốn huy động 799.305 2387.948 3096.530
Cho vay nền kinh tế 321.368 457.454 719.947
Điều chuyển vốn trong nội bộ 404.969 1743.9 2180.015
Tổng VHĐ chưa sử dụng 72.968 186.594 196.568
Nguồn: Báo cáo của chi nhánh các năm 2006-2008
Từ bảng số liệu trên ta thấy: trong giai đoạn 2006-2008 nguồn vốn huy
động được của chi nhánh đều được sử dụng tương đối hiệu quả, nguồn vốn
chủ yếu được điều chuyển trong nội bộ chi nhánh và các chi nhánh khác trong
hệ thống ngân hàng Hàng Hải, lãi thu được từ hoạt động được là rất lớn
(chiếm chủ yếu trong tổng lãi của chi nhánh) mang lại lợi nhuận cho chi
nhánh và giúp các thành viên khác trong hệ thống MSB có đủ vốn để hoạt
động.
Bên cạnh đó vẫn tồn tại một thực trạng là vốn cho vay đối với nền kinh
tế là ít so với nguồn vốn huy động được, năm 2006 chi nhánh cho vay được
22
321.368 tỷ đồng chiếm 40.20% trong tổng nguồn huy động được; năm 2007
chi nhánh cho vay được 457.454 tỷ đồng đối với nền kinh tế chiếm 19.15% số
vốn huy động được; năm 2008 con số này là 719.947 tỷ đồng chiếm 23.25%
số vốn huy động được.Trong tương lai chi nhánh cần đẩy mạnh hơn nữa việc
cho vay đối với nền kinh tế vì đây là thị trường chủ yếu của hoạt động ngân
hàng
1.4 Đánh giá công tác huy động vốn của NHTM cổ phần Hàng Hải
chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006-2008
1.4.1 Những kết quả đạt được
Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động,
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến nền
kinh tế Việt Nam cùng với đó là diễn biến phức tạp của tình hình lạm phát
khả quan trong việc huy động vốn của chi nhánh.
Bốn là:Việc không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động đã tạo điều kiện
tiếp cận ngày càng gần hơn các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư của chi
nhánh, trong những năm qua chi nhánh liên tiếp mở các phòng giao dịch trên
địa bàn thủ đô Hà Nội chính những phòng giao dịch này là cầu nối giữa chi
nhánh và những người dân ít có khả năng tiếp xúc với ngân hàng.
Năm là: Cơ cấu nguồn vốn huy động có sự thay đổi hợp lí về mặt thời
gian.Cơ cấu nguồn vốn có xu hướng dịch chuyển theo hướng tích cực:nguồn
vốn trung và dài hạn tăng lên tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc
đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Sáu là: Chi nhánh đã dần chủ động trong công tác tiếp cận thị trường,
vận dụng các chiến lược Marketing trong công tác huy động vốn phù hợp với
năng lực của mình, không ngừng quảng bá thương hiệu, với khẩu hiệu
“Maritime Bank tạo lập giá trị bền vững” những năm qua đã có rất nhiều cá
nhân, doanh nghiêp biết và đến với ngân hàng làm cho uy tín của ngân hàng
không ngừng nâng cao trên thị trường.Trong những nămqua chi nhánh đã góp
phần tạo nên hình ảnh thương hiệu của MSB trong nước và quốc tế.Những
24
giải thưởng mà MSB đạt được như: “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2007” do
thời báo Việt Nam và người tiêu dùng bình chọn; “doanh nghiệp dịch vụ được
hài lòng nhất năm 2008”; “Quả cầu vàng 2007”…có sự đóng góp không nhỏ
của chi nhánh MSB Hà Nội.Qua đó đã tạo được lòng tin của khách hàng đối
với ngân hàng, giúp ngân hàng giữ chân những khách hàng truyền thống và
thu hút những khách hàng tương lai.
1.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân
1.4.2.1 Những hạn chế
Bên cạnh những thành tích khả quan đạt được trong thời gian qua, chi
nhánh MSB Hà Nội cũng không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại và cần phải
được hoàn thiện trong thời gian tới đó là:
+ Nguồn vốn huy động ngoại tệ chiếm tỉ trọng rất nhỏ, coi như không