Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài - Pdf 26

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ LAN HƯƠNG KHẢO SÁT CÁC BIẾN THỂ ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT
TIẾNG VIỆT VÀ ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Trọng Phiến

HÀ NỘI - 2010
1

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 8
3. Mục đích và ý nghĩa của đề tài 9
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Bố cục của Luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG

trong không gian 28
1.3.1.4. Thế bằng lối nói vòng 28
1.3.1.5. Thế các từ chỉ số lượng đi cùng danh từ đơn vị 31
1.3.1.6. Thế các từ chỉ thời gian 32
2

1.3.1.7. Thế các kết từ 32
1.3.2. Phương pháp cải biến 33
1.3.2.1. Cải biến sử dụng các từ đảo nghĩa 34
1.3.2.2. Cải biến sử dụng lối nói bị động 36
1.3.2.3. Cải biến sử dụng cách danh hóa 38
1.3.2.4. Cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện + danh
từ] 39
1.3.2.5. Cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng 40
1.3.2.6. Cải biến bằng cách tách phó động từ chỉ hướng hay mục đích khỏi động
từ 41
1.3.2.7. Cải biến bằng cách đảo trật tự các từ ngữ liên kết với nhau qua các liên
từ “và”; “hoặc” 41
1.3.3. Phương pháp lược 42
1.3.4. Phương pháp bổ sung 44
1.3.5. Kết hợp các phương pháp 45
Chương 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG
PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT CỦA
ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 48
2.1. Đối tượng và hình thức khảo sát 48
2.1.1. Đối tượng khảo sát 48
2.1.2. Hình thức khảo sát 49
2.2. Kết quả khảo sát 52
3


3.2.2.3. Bài tập cải biến sử dụng cách danh hóa 85
3.2.2.4. Bài tập cải biến bằng cách thay đổi vị trí cụm [giới từ chỉ phương tiện +
danh từ] 86
3.2.2.5. Bài tập cải biến sử dụng các vị từ có nghĩa đối xứng 86
3.2.2.6. Bài tập cải biến bằng cách tách phó động từ chỉ hướng hay mục đích
khỏi động từ 87
3.2.2.7. Bài tập cải biến bằng cách đảo trật tự các từ ngữ liên kết với nhau qua
các liên từ “và”; “hoặc” 89
3.2.3. Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp lược 90
3.2.4. Các dạng bài tập ứng dụng phương pháp bổ sung 92
3.2.5. Dạng bài tập tổng hợp 94
PHẦN KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHẦN PHỤ LỤC 105
5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agent
Tác thể
Dative
Tặng cách
đg
Động từ
O
Bổ ngữ
Object
Đối thể

7

13. Bảng 2.2.2.6. Kết quả khảo sát bài tập cải biến bằng cách tách phó động từ
chỉ hướng hay mục đích khỏi động từ. [tr. 57]
14. Bảng 2.2.2.7. Kết quả khảo sát bài tập cải biến bằng cách đảo trật tự các từ
ngữ liên kết với nhau qua các liên từ “và”; “hoặc”. [tr. 58]
15. Bảng 2.2.3. Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp lược.[tr. 58]
16. Bảng 2.2.4. Kết quả khảo sát dạng bài tập ứng dụng phương pháp bổ sung.
[tr. 59]
17. Bảng 2.2.5. Kết quả khảo sát dạng bài tập tổng hợp. [tr. 60]
18. Bảng 2.3.1. Khả năng sử dụng các phương pháp biến đổi đồng nghĩa. [tr. 63]
8

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, do sức hấp dẫn và lòng yêu mến Việt Nam, người nước ngoài
đến Việt Nam để làm việc, học tập, sinh sống ngày càng đông. Không chỉ dừng
ở sự tìm hiểu về con người, kinh tế và văn hóa Việt Nam, nhiều người nước
ngoài đã thực sự hòa nhập được với môi trường sống ở Việt Nam và thông qua
quá trình học tập họ đã có kỹ năng giao tiếp tốt với người Việt.
Đứng ở góc độ sư phạm, việc học tiếng Việt thông qua các giáo trình dạy
tiếng chính là bước đi cơ bản và vững chắc cho bất cứ một người học tiếng nào.
Đã có rất nhiều kiến thức ngôn ngữ được đưa vào giảng dạy trong các giáo trình
dạy tiếng. Giảng dạy về câu tiếng Việt là một đề mục rất quan trọng và tạo nhiều
hứng thú với người học. Mục đích cuối cùng của những người học tiếng là có thể
giao tiếp linh hoạt và tự nhiên nhất với người bản ngữ. Một người nước ngoài
nói một câu nói đúng ngữ pháp được coi là đạt yêu cầu. Nhưng, nếu một người
nước ngoài có khả năng biến đổi từ một câu nói thành những cách diễn đạt đồng
nghĩa phục vụ cho từng mục đích giao tiếp khác nhau thì họ đã tiếp cận được đến
vị trí người chủ của ngôn từ.

tiếng có thể nắm bắt được và lên kế hoạch thiết kế những chương trình giảng dạy
phù hợp.
Dựa trên năng lực thực tế của người học, với mục đích giúp người nước
ngoài học tiếng Việt có thể phát triển vốn từ vựng, phát triển khả năng diễn đạt,
luận văn thiết kế một số dạng bài luyện viết phù hợp rèn luyện cho đối tượng học
10

viên là người nước ngoài có kỹ năng sử dụng các phương pháp biến đổi câu đơn
trần thuật tiếng Việt, tạo thành những biến thể đồng nghĩa.
Đứng trên quan điểm ngôn ngữ học ứng dụng, những kết quả của luận văn
sẽ là những đóng góp rất hữu ích trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài đối với cả người học và người dạy tiếng. Đồng thời, những nghiên
cứu trong luận văn này cũng là những gợi ý hữu dụng để công tác biên soạn sách
và giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được đầy đủ, hoàn thiện hơn.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt bao gồm rất nhiều hình thức khác
nhau. Để giúp người nước ngoài tiếp cận và hiểu hết những hiện tượng đồng
nghĩa trong tiếng Việt là một quá trình lâu dài và đòi hỏi nhiều nghiên cứu rộng
hơn. Trong khuôn khổ luận văn, ứng dụng trên ngữ liệu câu đơn trần thuật tiếng
Việt, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu các biến thể đồng nghĩa ở những
phương pháp biến đổi đồng nghĩa phục vụ mục đích giảng dạy cho người nước
ngoài. Có hai loại câu đồng nghĩa là câu đồng nghĩa ngữ dụng học và câu đồng
nghĩa ngữ nghĩa học. Loại câu đồng nghĩa được nghiên cứu ở luận văn là câu
đồng nghĩa ngữ nghĩa học.
Về đối tượng khảo sát, luận văn khảo sát trên đối tượng người học là
người nước ngoài đang học theo chương trình dạy tiếng Việt được áp dụng tại
Khoa Việt Nam học và tiếng Việt – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại
học Quốc gia Hà Nội. Đối tượng được khảo sát là các sinh viên, học viên đã có
thời lượng học tập từ 240 tiết (tương đương trình độ A2) trở lên. Các đối tượng
này ở những lứa tuổi khác nhau, có sở thích, thói quen khác nhau, đến từ những

Trong chương này, chúng tôi khảo sát thực tế năng lực sử dụng các
phương pháp biến đổi đồng nghĩa của đối tượng học viên người nước ngoài ở
những trình độ khác nhau. Chúng tôi cũng tổng hợp, so sánh những kết quả thu
được và đưa ra nhận xét.
Chương 3: ỨNG DỤNG GIẢNG DẠY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC VIÊN
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN
LUYỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN
THUẬT TIẾNG VIỆT
Trong chương này, chúng tôi đưa ra một số nhận định về vấn đề giảng dạy
câu đồng nghĩa tiếng Việt và các dạng bài tập liên quan trong các giáo trình dạy
tiếng hiện nay. Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung thiết kế những dạng bài tập cụ
thể rèn luyện khả năng sử dụng các phương pháp biến đổi câu để tạo ra các dạng
đồng nghĩa cho đối tượng học viên người nước ngoài.
13

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý thuyết
Khi tiếp xúc một ngoại ngữ, người học thường được tiếp cận những cấu
trúc ngữ pháp có tính qui phạm. Với những đối tượng bắt đầu học tiếng, trình độ
sơ cấp, họ thường cố gắng ghi nhớ bằng cách sử dụng các cấu trúc ở những tình
huống giao tiếp khác nhau, nhưng theo một lối mòn nhất định. Bắt đầu từ trình
độ sơ cấp này, người học cũng đã được yêu cầu nắm bắt những hiện tượng đồng
nghĩa, trái nghĩa ở mức độ đơn giản. Với những đối tượng ở trình độ trung cấp,
họ được cung cấp thêm về số lượng từ vựng và một số cấu trúc ngữ pháp mới
tương đương, nhưng phạm vi sử dụng vẫn còn hạn chế và thụ động. Với những
đối tượng ở trình độ cao cấp hơn, các đối tượng này đã có những kiến thức cơ
bản về ngữ pháp của tiếng Việt, số lượng từ vựng phong phú hơn, môi trường
giao tiếp mở rộng hơn nên khả năng nắm bắt và thực hành những lối nói khác
nhau cho cùng một nội dung của họ đã tốt hơn và dần dần thành thạo. Tuy nhiên,
ở mỗi trình độ, các đối tượng vẫn mắc phải những lỗi sai và những vấn đề khó

thì câu đơn thuần túy đã được phát triển từ câu một bậc đề - thuyết thành câu hai
bậc đề - thuyết (câu đơn phát triển)” [35, tr. 71].
Về mặt mục đích phát ngôn: Trong nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt,
GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, trên cơ sở tán thành quan điểm của tác giả Bùi Mạnh
Hùng và bổ sung những nghiên cứu riêng, đã phân loại câu tiếng Việt như sau:

15

Câu đánh dấu (marked sentence)
Câu không đánh dấu
(unmarked sentence)
Câu
nghi vấn
Câu
cầu khiến
Câu
cảm thán
Câu trần thuật

Theo đó, “Câu trần thuật được coi là kiểu câu không đánh dấu (unmarked
sentence). Có thể giải thích một cách đơn giản đó là kiểu câu không có dấu hiệu
hình thức của những kiểu câu khác” [23, tr. 348]. Ngoài ra, “câu trần thuật là câu
có những tiểu từ tình thái như vậy, mà, rồi, hay các tổ hợp đặc ngữ như là cùng,
còn gì, mới phải, mới được đứng ở cuối câu” [23, tr. 350].
1.2. Biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt
Theo V.B. Kasevich, sự tồn tại hai mặt ở các ký hiệu ngôn ngữ - cái biểu
đạt và cái được biểu đạt – cho phép khảo sát và, trong đó phân chia một văn bản
theo sự phân đoạn đôi. Việc chấp nhận thuật ngữ này cho phép chính xác hóa
định nghĩa về ngôn ngữ: ngôn ngữ là một hệ thống các hình hiệu, các ký hiệu và
các qui tắc hành chức của chúng. Bình diện gắn với cấu trúc và các tính chất của

này để phục vụ mục đích nghiên cứu. Đứng trên quan điểm logic học, tác giả đã
trích dẫn quan niệm của R. Martin về câu đồng nghĩa như sau: “Hai câu Pi và Pj
sẽ được coi là có liên hệ đồng nghĩa ngôn ngữ học/ngữ nghĩa học (paraphrase
linguistique/semantique) nếu đối với mọi người nói và trong mọi tình huống, Pi
tương đương với Pj một cách logic. Hoặc nhất thiết là Pi thì suy ra được Pj và
ngược lại. Ký hiệu “(Pi Pj)” [63, tr. 85]. Tác giả tán thành quan điểm của R.
Martin về câu đồng nghĩa và sử dụng các định nghĩa của ông cùng tiêu chuẩn
17

“khả năng suy diễn hai chiều” vào việc nhận diện các kiểu loại câu đồng nghĩa
trong tiếng Việt [12, tr. 34].
Tác giả phân chia các bình diện đồng nghĩa của câu nói (phát ngôn) thành
7 kiểu như sau:
a) Hai câu có danh ngữ đồng sở chỉ:
Ví dụ: Bắt lấy tên cướp / nó.
Trong một tình huống, nếu “nó” được hiểu là “tên cướp” thì “nó” và “tên
cướp” là các danh ngữ đồng sở chỉ. Và hai câu trên có quan hệ đồng sở chỉ.
b) Hai câu cùng chỉ một sự tình:
Đây là các câu có vị từ hạt nhân chỉ cốt lõi của sự tình, có cùng cấu trúc vị
từ - tham tố. Các tham tố có quan hệ đồng sở chỉ hoặc vừa đồng sở chỉ vừa đồng
nghĩa.
Ví dụ:
Bắt lấy tên cướp.
[] v [object]
Bắt lấy nó.
[] v [object]
Hai câu cùng chỉ một sự tình vì có chung vị từ “bắt lấy”, có các danh ngữ
đồng sở chỉ là “tên cướp” và “nó”, có cùng cấu trúc vị từ - tham tố là: [] - v -
[obj], và có quan hệ suy diễn hai chiều: Bắt lấy tên cướp  Bắt lấy nó.
c) Hai câu đồng nghĩa cấu trúc tham tố:

Bên cạnh việc trình bày những bình diện đồng nghĩa của hai phát ngôn,
dựa vào tiêu chí [ phụ thuộc] vào điều kiện ngữ dụng tác giả cũng phân chia
câu đồng nghĩa thành hai loại là câu đồng nghĩa ngữ dụng học (phụ thuộc vào
điều kiện ngữ dụng) và câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học (không phụ thuộc vào
điều kiện ngữ dụng). Trong đó, câu đồng nghĩa ngữ dụng học được phân chia
làm 4 kiểu loại và câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học được phân chia làm 18 kiểu
loại. 4 kiểu loại câu đồng nghĩa ngữ dụng học gồm có: (1) câu đồng nghĩa bởi lối
nói mang hàm ý hội thoại; (2) câu đồng nghĩa bởi lối nói có hàm ý trong câu trỏ
quan hệ điều kiện – kết quả; (3) câu đồng nghĩa bởi phép thế đại từ; (4) câu đồng
nghĩa câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng các danh ngữ đồng sở chỉ. 18 kiểu loại
câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học gồm có: (1) câu đồng nghĩa bằng phép thế bởi các
từ đồng nghĩa; (2) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng dạng phủ định trái nghĩa;
(3) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng các từ đảo nghĩa; (4) câu đồng nghĩa bởi
lối nói vòng; (5) câu đồng nghĩa bởi việc dùng các danh từ chỉ công cụ; (6) câu
đồng nghĩa bởi lối nói có nghĩa bị động; (7) câu đồng nghĩa bởi lối phủ định kép;
(8) câu đồng nghĩa bởi lối nói khẳng định dùng cấu trúc có từ phiếm chỉ; (9) câu
đồng nghĩa bởi lối nói bác bỏ dùng cấu trúc có từ phiếm chỉ; (10) câu đồng nghĩa
bởi việc dùng các động từ, tính từ có nghĩa đối xứng; (11) câu đồng nghĩa bởi
phép thế bằng các danh từ chỉ số lượng, các con số; (12) câu đồng nghĩa bởi
phép đảo trật tự từ ra trước và sau các liên từ “và”, “hoặc”; (13) câu đồng nghĩa
bởi việc dùng đại từ tương hỗ; (14) câu đồng nghĩa bởi phép danh hóa; (15) câu
đồng nghĩa bởi việc tách phó động từ chỉ hướng khỏi động từ; (16) câu đồng
nghĩa bởi phép thay thế các kết từ (liên từ, giới từ); (17) câu đồng nghĩa bởi phép
20

thế bằng các động từ chỉ “thì” và “thể”; (18) câu đồng nghĩa bởi phép thế bằng
các trạng từ chỉ cách thức.
Phục vụ cho mục đích nghiên cứu, luận văn quan tâm đến loạt câu đồng
nghĩa ngữ nghĩa học. Dựa trên các kiểu loại câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học kể
trên, áp dụng trên câu đơn trần thuật tiếng Việt, luận văn phân loại và trình bày

thành thục các kỹ năng. Giảng dạy câu tiếng Việt cũng chính là quá trình hình
thành cho người học kỹ năng sản sinh câu. Mục đích của luận văn là giúp đối
tượng học viên người nước ngoài có được khả năng diễn đạt linh hoạt cho cùng
một nội dung hay chính là giúp người học có khả năng sản sinh những biến thể
khác nhau từ một ngữ liệu ngôn ngữ gốc, phục vụ cho mục đích giao tiếp. Vì thế,
vấn đề luận văn cần giải quyết là trao cho người học chìa khóa về các phương
pháp biến đổi câu thành dạng đồng nghĩa. Dựa trên các phương pháp nghiên cứu
cú pháp thường gặp, dựa trên nghiên cứu về những dạng câu đồng nghĩa tiếng
Việt, ứng dụng trên ngữ liệu câu đơn trần thuật tiếng Việt, luận văn đi vào miêu
tả những phương pháp cụ thể được sử dụng để biến đổi một câu thành các dạng
đồng nghĩa. Các phương pháp được trình bày gồm có: phương pháp thế, phương
pháp cải biến, phương pháp lược, phương pháp bổ sung và phần tổng hợp các
phương pháp.
1.3.1. Phương pháp thế
“Thế được hiểu là thủ pháp thay một thành tố nào đó của kiến trúc bằng
một thành tố khác. Trong cú pháp, thủ pháp này có thể được dùng với nhiều mục
đích khác nhau” [23, tr. 103]. Điều kiện để sử dụng phép thế là phải làm sao sau
khi thế, ta vẫn nhận được một câu đúng và thuộc cùng kiểu với câu xuất phát.
Khi áp dụng phép thế để tạo câu đồng nghĩa thì câu nhận được phải tương đương
với câu xuất phát trong mọi tình huống.
22

1.3.1.1. Thế các từ đồng nghĩa
Từ vựng tiếng Việt là một hệ thống phong phú và đa dạng. Sử dụng từ
đồng nghĩa là một trong những cách diễn đạt đồng nghĩa rất phổ biến. “Từ đồng
nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu hiện
những sắc thái khác nhau của cùng một khái niệm” [19, tr. 104]. Căn cứ vào sự
đồng nhất về nghĩa sở thị (denotative) và nghĩa sở biểu (significative), người ta
chia thành hai kiểu từ đồng nghĩa từ vựng là: từ đồng nghĩa hoàn toàn và từ đồng
nghĩa bộ phận.

thế, câu trên có thể thay đổi thành “Chất lượng hàng hóa của cửa hàng rất tốt.”
mà vẫn giữ được nghĩa thông báo của phát ngôn. Nhưng, với nghĩa “có những
biểu hiện đáng quý về tư cách, đạo đức, hành vi, quan hệ, được mọi người đánh
giá cao” của từ “tốt”(t) trong các kết hợp “tính tốt, người bạn tốt, đối xử tốt với
mọi người,…” thì từ “cao”(t), vì không có ý nghĩa tương tự nên không thể thay
thế được.
Để sử dụng được thủ pháp thế này, người học cần có kiến thức sâu rộng
về bản chất nghĩa của các từ, vì người học phải nhận biết được các từ đa nghĩa
và nắm vững được các ý nghĩa khác nhau của chúng để thay thế cho phù hợp và
chính xác.
Mặc dù vậy, không giống như dạng đồng nghĩa hoàn toàn, những trường
hợp trên, nói là từ đồng nghĩa, song, ở một góc độ nào đó, các từ có thể thay thế
cho nhau vẫn có sự khác nhau ít nhiều về sắc thái ý nghĩa. Tuy nhiên, trong thực
tế nói năng, người bản ngữ vẫn chấp nhận những cách nói này là đồng nghĩa.

Trích đoạn Thế bằng dạng phủ định trái nghĩa Bài tập ứng dụng phương pháp thế các từ đồng nghĩa Bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng dạng phủ định trái nghĩa Bài tập ứng dụng phương pháp thế bằng lối nói vòng Bài tập ứng dụng phương pháp thế các kết từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status