ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN NAM TRUNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VÙNG HOA NAM
(TRUNG QUỐC) VÀ BẮC KỲ (VIỆT NAM)
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN VĂN KIM
HÀ NỘI – 2009
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG
MẠI GIỮA TỈNH VÂN NAM, QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC) VÀ BẮC
KỲ (VIỆT NAM) 10
1.1. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng kinh tế 10
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10
1.1.2. Tài nguyên khoáng sản 11
1.1.3. Điều kiện giao thông 12
1.2. Quan hệ thƣơng mại giữa Trung Quốc và Việt Nam trong lịch
3.2.1. Các đô thị cận đại ………………………………………… 97
3.2.2. Đời sống kinh tế-xã hội ……………………………………. 99
KẾT LUẬN ……………………………………………………………… 103
PHỤ LỤC ……………………………………………………………… 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO . ……………………………………………. 111
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vùng Hoa Nam là một khái niệm xuất hiện từ thời Cách mạng Tân Hợi
(1911) nhằm chỉ các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Theo đó, vùng này gồm 6
tỉnh: Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam và
các vùng đất: Hương Cảng, Áo Môn và Hải Nam (Trung Quốc) [111]. Vùng
Hoa Nam là khu vực có quan hệ lâu đời với Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện mối quan hệ thương mại giữa khu vực này
với khu vực Bắc Bộ (Việt Nam) là một vấn đề cấp thiết. Đặc biệt là trong bối
cảnh hiện nay, khi Chính phủ hai nước đều có chiến lược phát triển vùng Nam
và Tây Nam (Trung Quốc) và Bắc-Tây Bắc (Việt Nam) thì việc tìm hiểu mối
quan hệ trong lịch sử nhằm thấy rõ thế mạnh của mỗi bên là một chủ đề
nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn.
Về tự nhiên, với tư cách là khu vực địa-kinh tế, Hoa Nam là một vùng
rộng lớn nên Luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu mối quan hệ thương mại
giữa vùng Hoa Nam (chủ yếu trên địa bàn tỉnh Vân Nam và Quảng Tây,
Trung Quốc – có liên hệ với các tỉnh khác) với Bắc Kỳ (Việt Nam) từ cuối thế
kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây là địa bàn tiếp
hiện đại.
Có thể nói, nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ
truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là vùng Hoa Nam với
các tỉnh miền Bắc Việt Nam trong lịch sử; thấy được tiềm năng và vị thế kinh
tế của hai nước, đặc biệt là hai khu vực; hiểu rõ chính sách của thực dân Pháp
đặc biệt là với vùng Hoa Nam; hơn nữa cũng nhận biết những hệ quả kinh tế -
xã hội của chính sách này đối với vùng Bắc Kỳ (Việt Nam).
3
Bởi những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quan hệ thương mại giữa vùng
Hoa Nam (Trung Quốc) và Bắc Kỳ (Việt Nam) từ cuối thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những công trình viết về thương mại Việt - Trung qua các giai đoạn
lịch sử đã ít nhiều đề cập đến quan hệ thương mại giữa Vân Nam, Quảng Tây
và Bắc Kỳ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Ngay từ năm 1959, Nhà xuất bản Văn Sử Địa đã cho xuất bản cuốn
Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam của tác giả Nguyễn
Khắc Đạm. Trong đó tác giả có đề cập một cách khái lược những chính sách
cũng như hoạt động thương mại giữa Bắc Kỳ với vùng Vân Nam, Quảng Tây.
Tiếp đó, trong tác phẩm Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam. Nxb.
Chính trị Quốc gia, H. 1998, tác giả Lê Quốc Sử đã đề cập đến quan hệ
thương mại giữa các cửa khẩu Lào Cai và Lạng Sơn Việt Nam với hai tỉnh
Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất của Pháp. Tác giả Nguyễn Thế Anh trong cuốn Việt Nam thời Pháp đô
hộ, Nhà xuất bản Văn học, H, 2008 cũng đã đề cập đến chính sách phát triển
thương mại ở thuộc địa Đông Dương, trong đó có viết về vấn đề mở rộng hệ
thống giao thông, đặc biệt là tuyến đường sắt Việt – Điền và ảnh hưởng của
nó đối với quan hệ thương mại giữa Vân Nam và Bắc Kỳ. Tác giả Phùng Hữu
Phú trong cuốn Lịch sử đường sắt Việt Nam cũng đề cập đến quan hệ thương
Trung Dũng trong bài viết Vài nét về vận chuyển hàng hóa quá cảnh giữa
Hồng Kông và Vân Nam qua đường sông Hồng từ 1889 đến 1899 (qua báo
cáo của Sở Thuế quan và độc quyền Đông Dương), Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử, số 7 năm 2009 đã đề cập đến khối lượng và giá trị của hàng hóa quá cảnh
qua Bắc Kỳ giữa Vân Nam và Hồng Kông trong 10 năm cuối thế kỷ XIX…
5
Trong số các công trình nghiên cứu của người nước ngoài, chủ yếu là
người Pháp trước đây, có nhiều công trình đề cập đến vấn đề quan hệ thương
mại giữa Bắc Kỳ với vùng Vân Nam, Quảng Tây. Trong bài tham luận về
Chợ phiên ở Bắc Kỳ (Les mar chés périodiques au Tonkin) do E. Chassigneux
trình bày ngày 1 tháng 3 năm 1928 tại Hội địa lý Pháp, tác giả đã nêu lên
những biến đổi sâu sắc trong quan hệ thương mại với vùng phía Nam Trung
Quốc, đặc biệt là sau khi hệ thống giao thông được tu sửa và xây dựng hệ
thống đường sắt ở Bắc Kỳ. Tác giả Jean Chesneaux cũng đã dành một phần
quan trọng nói về quan hệ thương mại giữa Bắc Kỳ và tỉnh Vân Nam, Quảng
Tây trong thời kỳ thuộc Pháp trong cuốn Góp phần tìm hiểu lịch sử dân tộc
Việt Nam (Contribution à l
,,
histoire de la nation vietnamienne) xuất bản năm
1955 tại Paris.
Trong công trình viết chung với Pierre Brocheux: Đông Dương, cuộc
thực dân hóa đầy tham vọng 1858 – 1945 (Indichine, la colonisation ambigue
1858 – 1945), nhà sử học D. Hesesmeery đề cập đến vấn đề trên qua phân tích
các công trình trước đây về công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của
thực dân Pháp ở Đông Dương.
Bên cạnh đó, một số học giả Trung Quốc cũng đề cập đến vấn đề quan
hệ thương mại giữa hai vùng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Năm
1996, tác giả Thạch Lập Dân trong công trình “1885-1949 niên Quế-Việt biên
cương mậu dịch đích phát triển (Sự phát triển mậu dịch vùng biên giới Quảng
7
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại giữa Trung
Quốc và Việt Nam diễn ra giữa vùng Hoa Nam và Bắc Kỳ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại giữa vùng Hoa
Nam (Trung Quốc) và Bắc Kỳ (Việt Nam) giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu
thế kỷ XX. Tuy nhiên, để làm rõ những đặc điểm của giai đoạn mới, luận văn
cũng cố gắng tìm hiểu và so sánh với tình hình buôn bán giữa hai vùng trong
các giai đoạn lịch sử.
4. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài khái quát, tổng hợp và trình bày có hệ thống tình hình trao đổi,
buôn bán giữa vùng Hoa Nam (Trung Quốc) và Bắc Kỳ (Việt Nam) trong giai
đoạn từ sau cuộc chiến tranh Trung Pháp (1885) đến năm 1919, thông qua đó
tìm hiểu những tác động của hoạt động thương mại đối với sự biến đổi kinh tế
- xã hội trên địa bàn Bắc Kỳ.
Bước đầu tìm hiểu về các điểm trao đổi, buôn bán ven biên giới, các
mặt hàng chủ yếu là thế mạnh của mỗi bên, từ đó góp phần vào việc nghiên
cứu lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc thời cận đại. Về thực
tiễn, qua việc nghiên cứu lịch sử buôn bán giữa vùng Hoa Nam (Trung Quốc)
và Bắc Kỳ (Việt Nam) có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm nhất định,
góp phần vào việc hoạch định và phát triển thương mại Việt Nam - Trung
Quốc vùng biên giới trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn trình bày có hệ thống, toàn diện và cụ thể tình hình quan hệ
thương mại giữa Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Kỳ giai đoạn từ cuối thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở nghiên cứu cụ thể tình hình phát triển của
9
quan hệ thương mại giữa hai vùng, tác giả tiến hành phân tích sự biến đổi
kinh tế xã hội trên địa bàn Bắc Kỳ trong giai đoạn này.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác
nghiên cứu, biên soạn lịch sử quan hệ thương mại Trung Quốc – Việt Nam
thời cận đại.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham
khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa các tỉnh
Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) và Bắc Kỳ (Việt Nam).
Chương 2: Quan hệ thương mại giữa Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Kỳ
từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Chương 3: Tác động của hoạt động thương mại đến sự biến đổi kinh tế
- xã hội Bắc Kỳ.
10
CHƢƠNG 1
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA
CÁC TỈNH VÂN NAM, QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)
VÀ BẮC KỲ (VIỆT NAM)
1.1. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng kinh tế
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vân Nam và Quảng Tây là hai tỉnh nằm phía cực Nam và Tây Nam Trung
Quốc cũng như với thị trường nước ngoài.
Tỉnh Vân Nam, Quảng Tây là vùng đất có vị trí địa lý đặc thù, ở vùng
cực Nam và Tây Nam Trung Quốc, có đường biên giới tiếp giáp với Việt
Nam, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giao lưu buôn bán giữa hai
nước. Hơn nữa, với tính chất đa dạng của điều kiện khí hậu đã tạo ra sự phong
phú về số lượng và chủng loại các loài động - thực vật vào bậc nhất Trung
Quốc. Đây chính là sự ưu đãi của thiên nhiên cho vùng đất này có thể phát
triển đa dạng các sản phẩm từ trồng trọt và chăn nuôi cung cấp cho thị trường
Trung Quốc và khu vực. Hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây còn là nơi tập trung
một số lượng lớn các loại khoáng sản với trữ lượng lớn.
1.1.2. Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn Vân Nam, Quảng Tây tập trung một khối lượng khoáng
sản không những đa dạng, phong phú về chủng loại mà nơi đây còn có trữ
lượng khoáng sản lớn vào bậc nhất Trung Quốc.
Theo thống kê, riêng trên địa bàn tỉnh Vân Nam người ta đã phát hiện
hơn 200 loại khoáng sản. Khoáng sản ở đây chủ yếu thuộc các loại khoáng
sản có chứa kẽm, chì, thiếc, măng gan, cadmi, indi, tali và crocidolit. Theo
đánh giá ngày nay, trong số tài nguyên khoáng sản tại đây thì, đến hơn 40%
số khoáng sản là các loại khoáng sản cung cấp nhiên liệu, 7,3% là khoáng sản
12
kim loại và 52,7% là các loại khoáng sản phi kim loại. Trên địa bàn hai tỉnh
này có khoảng 13% trong số các loại khoáng sản trầm tích có trữ lượng lớn
nhất trong số các mỏ khoáng sản tại Trung Quốc, và 2/3 các trầm tích có trữ
lượng lớn nhất tại lưu vực sông Dương Tử và miền Nam Trung Quốc [10,
47].
Không phong phú về chủng loại khoáng sản như ở Vân Nam nhưng
Quảng Tây được mệnh danh là “đô thị của khoáng sản phi kim loại”. Nơi đây
tập trung 145 loại khoáng sản thì trong đó có đến 97 loại là khoáng sản phi
kim loại. Các loại khoáng sản có trữ lượng lớn có mặt tại Quảng Tây phải kể
đường từ Vân Nam tới các trung tâm xuất nhập khẩu khác là khá xa, như: Vân
Nam - Rangoum (Myanma) với độ dài 1.827km; Vân Nam – Hán Khẩu (Hồ
Bắc) có độ dài 1.700km; Vân Nam – Quảng Châu (Quảng Đông) là 1.500km.
Điều này cho thấy việc lựa chọn sông Hồng làm con đường giao lưu thương
mại giữa Vân Nam với Bắc Kỳ và ra với thế giới là một sự lựa chọn tối ưu
[10, 48].
Giao thông giữa tỉnh Quảng Tây với Lạng Sơn đi vào Bắc Kỳ có thuận
lợi hơn. Từ Quảng Tây có thể vận chuyển hàng hóa theo hệ thống đường bộ
và hệ thống đường thủy. Nếu theo tuyến đường bộ, Quảng Tây có hệ thống
giao thông đường bộ tương đối thuận tiện cho việc phát triển quan hệ giao
thương với Việt Nam, như: từ Nam Ninh (Quảng Tây) đi Na Sầm – Lạng Sơn
rồi xuống Phủ Lạng Thương; đường từ Long Châu (Quảng Tây) đến Đồng
Đăng…
Ngoài hệ thống đường bộ, Quảng Tây cũng có hệ thống giao thông
đường thủy nối liền với Bắc Kỳ, rất thuận lợi cho việc phát triển quan hệ giao
thương giữa hai vùng. Đó chính là sông Kỳ Cùng, tuy bị cắt ngang vài đoạn,
và nhiều thác ghềnh, nhưng có thể sử dụng được bắt đầu từ Bi Nhi (một điểm
14
giáp ranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc trên địa phận Lạng Sơn), điểm
cuối cùng của con đường đi từ Phủ Lạng Thương. Về con đường này, người
Pháp đã đánh giá là:
“Do có con đường thủy sông Kỳ Cùng, là cho đường Phủ Lạng Thương
kéo dài, tự nhiên, chúng ta có thể hy vọng đưa sản phẩm của chúng ta vào
Trung Quốc với giá rẻ hơn hàng hóa của các nước ngoài khác. Người Anh,
người Đức phải mượn đường Pa Khoi hoặc Quảng Đông dài hơn và tốn kém
hơn”. Và “Bằng những Hiệp ước thương mại (sẽ nói ở dưới đây), Long Châu
đã mở cửa cho chúng ta, đây chính là một thị trường biên giới quan trọng khi
chúng ta biết tận dụng nó” [45, 23].
Qua những trình bày trên đây, có thể thấy hệ thống giao thông của hai
Ngay từ thời cổ đại, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam
đã bước đầu được hình thành, trong sách Đại Việt Sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên
từng viết: “Thời Thành Vương nhà Chu, nước Việt ta mới sang thăm nhà
Chu, xưng là Việt Thường tới dâng chim trĩ trắng. Chu Công nói: “nước nào
chính lệnh không đến thì người quân tử không bắt họ thần phục”. Sai làm xe
chỉ nam đưa họ về nước [24, 62]. Sự kiện này tuy mang nhiều dấu tích huyền
bí, nhưng cũng phần nào chứng tỏ mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam
đã hình thành từ rất sớm.
Năm 207 trước Công nguyên, sau khi xâm chiếm Âu Lạc, Triệu Đà
thành lập nước Nam Việt. Từ đây, quan hệ buôn bán trao đổi giữa Trung
Quốc và vùng đất Nam Việt dần dần hình thành và phát triển. Trong thời kỳ
này, sông Tây Giang là đường giao thông thiên nhiên quan trọng được các bộ
lạc người Lão, người Khương ở Tây Nam Trung Quốc vận chuyển hàng hóa
từ đất Thục đến Phiên Ngung trao đổi. Các mặt hàng được đem đến đây gồm
có: đồ điền khí, đồ sắt, vàng, trâu bò, ngựa, dê…
16
Sau khi nhà Hán thống nhất Trung Quốc (206 TCN), Hán Cao Tổ sai
Lục Giả xuống phong cho Triệu Đà làm Nam Việt Vương (năm 196 TCN),
nước Nam Việt chính thức thần phục chính quyền trung ương. Lúc này quyền
lực của nước Nam Việt vẫn được đảm bảo như cũ. Chính yếu tố đó là điều
kiện thuận lợi, kích thích sự phát triển quan hệ buôn bán trao đổi giữa Trung
Nguyên với Nam Việt (trong đó có đất Việt Nam).
Trong thời kỳ nhà Tây Hán - đặc biệt là dưới triều vua Hán Vũ Đế (128
– 88 TCN) - các vua Hán thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh xâm
lược xuống vùng đất phương Nam nhằm mở mang phạm vi ảnh hưởng cũng
như thúc đẩy mối giao lưu kinh tế thương mại với nơi đó. Chính sách xâm lấn
của đế chế Trung Hoa vô hình chung đã trở thành điều kiện khách quan
khuyến khích quan hệ trao đổi buôn bán giữa Trung Quốc và Giao Châu. Thật
vậy, sau khi chinh phục được Nam Việt (bao gồm Âu Lạc), tình hình trao đổi
Đến thời Đường (618 – 907), chính quyền đô hộ nhận thức được tầm
quan trọng của hệ thống giao thông trong việc giữ gìn trật tự xã hội cũng như
mở mang quan hệ giao thương giữa hai bên nên đã cho mở mang hệ thống
giao thông nhằm nối liền Trung Quốc với Việt Nam và các nước phía Nam.
Ngay từ năm 638, Đô đốc Giao Châu là Lý Đạo Ngạn đã khai thông và duy trì
con đường giao thông đường bộ nối liền An Nam với Quảng Tây, Vân Nam
cho tới tận kinh đô Trường An. Về đường biển, chính quyền đô hộ tiếp tục
duy trì tuyến đường nối liền Quảng Châu – Giao Châu và các nước vùng Hải
Nam. Năm 867, Cao Biền còn cho đào ghềnh Bắc Thú, phá đá ngầm để
thuyền bè tiện đi lại.
Chính nhờ việc mở mang giao thông, đường xá đi lại thuận lợi hơn đã
kích thích nhu cầu trao đổi hàng hóa theo hệ thống giao thông đường thủy,
đường bộ giữa Trung Quốc và Giao Châu. Nhờ đó, quan hệ buôn bán trao đổi
18
giữa miền Nam Trung Quốc và Giao Châu ngày càng phát triển. Các thương
nhân người Hán thường đem sản phẩm thủ công của họ như đồ sứ, chè, thuốc
bắc bán sang Giao Châu và mua các sản phẩm địa phương như ngà voi, lông
trả, châu báu … đem về Trung Quốc.
Vào thế kỷ VIII – IX, do nhu cầu hàng hóa của tầng lớp quý tộc nhà
Đường tăng lên, quan hệ buôn bán giữa Trung Quốc và Việt Nam có thêm
điều kiện phát triển. Bộ phận quan lại đô hộ ở An Nam và số thương nhân
Trung Quốc thường xuyên mua các hàng hóa nhẹ và là sản phẩm ưa thích của
giới quý tộc Trung Hoa như: đồ đồng, hải vị, áo vóc, ngà voi, long trả, hương
trầm, mật trăn… từ Giao Châu đem về bán ở Trung Quốc.
Có thể khẳng định rằng vào thời kỳ Bắc thuộc, quan hệ buôn bán trao
đổi hàng hóa giữa Trung Quốc và Giao Châu dưới sự đô hộ của các triều đại
quân chủ phong kiến phương Bắc đã có sự phát triển nhất định. Các thương
nhân người Hán thường chuyên chở các hàng hóa là các nông cụ bằng sắt, các
sản phẩm thủ công, … theo các tuyến đường bộ nằm trên hai tỉnh Quảng Tây,
trọng đối với việc buôn bán giữa hai nước. Bạc dịch trường Hoành Sơn là
điểm giao thương thuận lợi, có thể thu hút đa số thương nhân từ Quảng
Nguyên (Cao Bằng) và thương nhân từ nước Đại Lý (Vân Nam) đem hàng
hóa đến buôn bán. Hàng hóa được đem đến thường là các kim loại quý của
vùng Quảng Nguyên (Cao Bằng) và Đại Lý (Vân Nam – Trung Quốc) như:
vàng, bạc, đồng, chu sa, diêm tiêu… Đó là những hàng hóa được các thương
nhân người Hán rất ưa chuộng. Ngoài ra, tại đây còn diễn ra hoạt động buôn
bán ngựa, các lâm sản, dược vật… của các dân tộc thiểu số sống dọc biên
giới. Các thương nhân người Hán đến đây buôn bán phần lớn đều đến từ
Quảng Châu.
20
Bạc dịch trường Vĩnh Bình (chợ Kỳ Lừa, Lạng Sơn) là Bạc dịch trường
có tầm quan trọng hơn cả trong giao dịch hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt
Nam thời kỳ này. Nơi đây là điểm giao thương rất thuận lợi, điểm tiếp giáp
giữa Ung Châu (Trung Quốc) và Giao Chỉ (Việt Nam) chỉ với dòng sông Kỳ
Cùng. Các thương nhân Trung Quốc thường đem các mặt hàng như vải vóc,
đồ sành sứ đổi lấy các mặt hàng như ngà voi, sừng tê, vàng, bạc, muối của
Việt Nam.
Trong thời kỳ này, quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa thương
nhân hai nước còn thường xuyên diễn ra tại Bạc dịch trường ở Khâm Châu.
Trong sách Lĩnh Ngoại đại đáp, Chu Khứ Phi cho biết: “Bạc dịch trường ở
ngoài thành, tại trạm Giang Đông. Những người thuyền chài Giao Chỉ mang
cá, sò đến để đổi lấy đấu gạo, thước vải. Phú thương nước ấy (chỉ Giao Chỉ)
đến buôn bán thì từ châu Vĩnh An phải thông điệp cho Khâm Châu, ấy là tiểu
cương (buôn nhỏ), còn nước ấy sai sứ đến Khâm Châu để buôn bán, thì gọi là
đại cương (buôn to). Hàng đem bán có bạc, đồng, tiền, trầm hương, trân châu,
ngà voi, sừng tê. Những tiểu thương nước ta (chỉ Trung Quốc) bán các thứ bút
giấy, gạo, vải, hàng ngày trao đổi một ít với người Giao Chỉ, không đáng
kể… Phú thương nước ta (tức Trung Quốc) sai người nhà buôn bán nhỏ, đến
Nguyên, quân Mông Cổ tiếp tục mở cuộc chinh chiến nhằm xâm chiếm Đại
Việt. Những cuộc xâm lược của quân Nguyên đều bị quân dân Đại Việt đẩy
lui. Sau cuộc chiến, quan hệ chính trị giữa triều Nguyên và Đại Việt được nối
lại. Lúc này, quan hệ thương mại tuy không phát triển như giai đoạn trước
nhưng nó vẫn được thường xuyên diễn ra tại các Bạc Dịch trường nằm dọc
biên giới hai nước. Các thương nhân người Hán và người Việt thường xuyên
qua lại trao đổi hàng hóa tại các Bạc dịch trường Vĩnh Bình và Khâm Châu.