ĐỀ CƯƠNG GIẢI 20 CÂU HỎI MÔN TRIẾT HỌC
(Dành cho: Cao học và NCS)
Câu 1: Trình bày đối tượng, đặc điểm và vai trò của triết học Mác - Lênin. Ý nghĩa của vấn đề này
đối với người cán bộ làm khoa học kỹ thuât? 2
Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể. Ý nghĩa của vấn
đề này đối với người làm công tác khoa học? 2
Câu 3: Vì sao Triết học Mác là một học thuyết phát triển. Vận dụng vấn đề này vào hoạt động
thực tiễn và phê phán các quan điểm sai trái 3
Câu 4: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa 4
Câu 5: Trình bày nguồn gốc và bản chất của ý thức. Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn 4
Câu 6: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Rút ra ý nghĩa phương pháp
luận và phê phán bệnh chủ quan duy ý chí 7
Câu 7: Trình bày sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học của phép biện chứng duy
vật. Vận dụng xem xét tình hình thế giới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 9
Câu 8: Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Ý nghĩa phương pháp luận 9
Câu 9: Trình bày nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vận
dụng nguyên tắc này, người làm cán bộ khoa học kỹ thuật phải làm gì? 10
Câu 10: Phân tích cơ sở lý luận và nội dung các nguyên tắc xem xét: khách quan, toàn diện, lịch
sử - cụ thể và phát triển 10
Câu 11: Trình bày quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Đảng ta vận dụng quy luật này trong sự nghiệp đổi mới đất nước? 11
Câu 12 : Phân tích nội dung quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Đảng ta vận
dụng quy luật này trong sự nghiệp đổi mới như thế nào? 13
Câu 14: Vì sao trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là một động lực của sự phát triển của
xã hội 17
Câu 15: Vì sao trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH đấu tranh giai cấp vẫn là tất yếu. Quan
điểm của Đảng ta về nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay 18
Câu 16: Vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin giải quyết
một cách khoa học mối quan hệ giai cấp – dân tộc và giai cấp - nhân loại 18
Câu 17: Phân tích nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của Nhà nước. Những đặc trưng cơ bản của
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta 19
vụ - lý tưởng, giải quyết đúng đắn nghĩa vụ, chức trách.
-Lý luận phải đi đôi với thực tiễn, coi trọng việc áp dụng khoa học, những thành tựu
kết quả nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn.
Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể. Ý
nghĩa của vấn đề này đối với người làm công tác khoa học?
I-Phân tích mối quan hệ.
-Triết học và khoa học cụ thể có mối biện chứng với nhau:
Xuất phát từ tính thống nhất của thế giới vật chất, thế giới vật chất là vô cùng, vô tận nhưng biểu
hiện qua sự vật, hiện tượng cụ thể.
Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác là nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên -
xã hội và tư duy, giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng.
Khác với đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học đó là quy luật chung nhất của thế giới khách
quan, còn đối tượng của các ngành khoa học khác là nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể nào đó của thế giới
tự nhiên.
Mặc dù có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhưng triết học
Mác - Lênin không thay thế cho các khoa học khác trong việc nhận thức thế giới, mà triết học Mác -
Lênin với các khoa học khác có mối quan hệ biện chứng với nhau. Mối quan hệ giữa triết học và khoa
học tự nhiên là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, quy luật chung và quy luật riêng, khoa học tự
nhiên là cái chung, Triết học là cái riêng.
Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa triết học và các môn khoa học khác là điều kiện để phát triển
triết học. Trong lịch sử phát triển của triết học và khoa học tự nhiên bất cứ giai đoạn lịch sử nào, sự phát
triển của khoa học tự nhiên cũng in dấu ấn lên tư duy của triết học.
Biểu hiện:
-Vai trò của khoa học tự nhiên:
+ Cung cấp tư liệu cho sự khái quát của triết học.
+ Chứng minh những tiên đoán của triết học.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
2
+ Khoa học tự nhiên phát triển tạo ra động lực và nhu cầu đòi hỏi triết học phát triển .
-Vai trò của triết học:
ngừng bổ sung và phát triển.
- Quá trình phát triển của phép biện chứng cũng chứng minh phép biện chứng là
một lý luận phát triển từ phép biện chứng duy vật thời cổ đại, phép biện chứng duy
tâm của Hêghen, phép biện chứng duy vật của Mác.
- Lênin là người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử giao phó là bảo vệ
nguyên lý của phép biện chứng và bổ sung vào phép biện chứng trong thời đại mới.
Mọi nguyên lý của phép biện chứng đều lấy thực tiễn làm căn cứ cuối cùng, mà
thực tiễn lại luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng.
II-Vận dụng nguyên lý này phê phán các quan điểm đối lập:
- Phải nắm cho được bản chất cách mạng, tinh hoa của phép biện chứng để vận
dụng linh hoạt sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, hoàn cảnh, nhiệm vụ, cương vị
cụ thể.
- Phải không ngừng học tập, không ngừng bổ sung và phát triển các nội dung của
phép biện chứng.
- Vận dụng phép biện chứng phải vận dụng trong một chỉnh thể hệ thống quan điểm
chặt chẽ với nhau, chống phương pháp tư duy siêu hình bảo thủ, sơ cứng, giáo điều,
xem phép biện chứng như là một chìa khoá vạn năng, những nguyên lý tuyệt đối bất
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
3
biến, chống những nguyên lý phủ nhận, cắt xén, xuyên tạc các nguyên lý của phép
biện chứng.
- Chống quan điểm phủ nhận tính phổ biến của triết học Mác, phủ nhận tính khoa
học của triết học Mác cho rằng triết học Mác là sản phẩm cá nhân, không phải phản
ánh đúng hiện thực khách quan, triết học Mác chỉ đúng cho thời kỳ tự do cạnh
tranh, còn ngày nay khi mà nền kinh tế tri thức ra đời thì không còn phù hợp và
không đúng nữa.
Câu 4: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa.
I - Phân tích ý nghĩa vật chất của Lênin.
Lênin đã định nghĩa: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn
thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật
vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại.
Câu 5: Trình bày nguồn gốc và bản chất của ý thức. Vai trò của ý thức trong hoạt
động thực tiễn.
Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động và sáng tạo của hiện thực khách quan vào óc người. Ý
thức tuỳ thuộc vào năng lực phản ánh của chủ thể, tâm trạng của chủ thể phản ánh và mục đích phản
ánh.
Nếu như chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước và sinh ra vật chất, chi phối sự vận động của
thế giới vật chất thì chủ nghĩa duy vật tầm thường lại coi ý thức cũng là một dạng vật chất cả hai quan
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
4
điểm đó đều phản khoa học chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định “ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ não con người một cách năng động sáng tạo”.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát
triển tự nhiên và lịch sử xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả
hai mặt tự nhiên và xã hội.
I-Nguồn gốc của ý thức
- Nguồn gốc tự nhiên.
+ Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật
chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại.
+ Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất.
+ ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh
thế giới khách quan vào bộ óc con người.
1.Nguồn gốc của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát
triển tự nhiên và lịch sử - xã hội. Vì vậy, để hiểu đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải
xem xét nguồn gốc của ý thức trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa
con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người, từ
mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ
này qua thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý
thức là nhân tố lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích
thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, đã làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển
thành bộ óc của con người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức.
2.Bản chất và kết cấu của ý thức
- Bản chất của ý thức
+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người; là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan.
+ Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm -
sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông
tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và
phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận.
+ Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người
tạo ra những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, v.v… trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái
quát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động
của con người.
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là hình ảnh về thế giới
khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung, cả về hình thức biểu hiện
nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ
quan (tâm lý, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu, v.v…) của con người.
Theo C.Mác, ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó” .
+ Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.
+ Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của
các quy luật tự nhiên, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật xã hội; được quy định bởi nhu cầu
giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội. Với tính năng động, ý
thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.
- Nguồn gốc xã hội.
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định. Nhu cầu đó đòi hỏi chủ
thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh. Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và
những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan. Song, sự sáng tạo của ý
thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiến và là sản phẩm
của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội.
II-Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan hệ đó vật chất luôn là tính thứ
nhất, ý thức là tính thứ hai. Nhưng ý thức không phụ thuộc mà có tính độc lập tương đối, có vai trò to
lớn tác động trở lại đối với thế giới vật chất. Ý thức tư tưởng có thể thúc đẩy hay kìm hãm trên một mức
độ nhất định sự biến đổi của những điều kiện vật chất.
-Điều đó được thể hiện ở chỗ, nếu nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật
khách quan vào hoạt động thực tiễn thì sẽ biến những khả năng khách quan sớm
thành hiện thực. Trái lại, nếu không nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy
luật khách quan, điều kiện khách quan trong hoạt động thực tiễn thì dễ dẫn tới thất
bại.
- Ý thức, tư tưởng có vai trò rất quan trọng trong hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn.
Cũng cần phải thấy rằng tự bản thân ý thức không thể thực hiện được gì hết mà nó
phải được vật chất hoá, tức là phải tổ chức thực tiễn.
.I Ý nghĩa của phương pháp luận.
- Vì ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên, xã hội - lịch sử. Nguồn
gốc trực tiếp quyết định sự ra đời ý thức chính là thực tiễn. Đó là cơ sở lý luận khoa
học để chúng ta bác bỏ tính phản khoa học, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ
nghĩa duy vật siêu hình về ý thức.
- Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan. Cần phải chống bệnh
chủ quan duy ý chí.
- Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng thụ
động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễn.
Câu 6: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Rút ra ý nghĩa
- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận
thức phải bảo đảm nguyên tức "tính khách quan của sự xem xét" và trong hoạt động
thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy
luật khách quan.
- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của
con người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng
cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào
trong hoạt động thực tiễn của con người.
- Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động, chờ đợi
vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ khách quan, lấy khách
quan làm tiền đề, làm cơ sở, nhưng đồng thời phải phát huy vai trò năng động sáng
tạo của nhân tố chủ quan. Vì nguyên nhân, nguồn gốc của bệnh chủ quan duy ý chí
là do chúng ta quá cường điệu, khuyếch đại tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, lấy ý
muốn nguyện vọng của chúng ta thay cho khách quan, bất chấp hoặc không xuất
phát từ khách quan, do chúng ta yếu kém lý luận về nhận thức hiện thực khách
quan, do cơ chế quan liêu bao cấp không đòi hỏi con người ta năng động sáng tạo, ỷ
lại thụ động, không có ý chí quyết tâm, do mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức,
không được tranh luận dẫn đến hạn chế sáng tạo, do ảnh hưởng của các hệ tư tưởng
phi vô sản khác như: phong kiến, tiểu tư sản, tư sản.
Biện pháp khắc phục: Nâng cao trình độ lý luận bằng việc đào tạo và đào tạo lại các công chức,
khắc phục quản lý, khắc phục sự mất dân chủ và các tư tưởng phi vô sản khác, đề cao quyền lợi cá nhân.
Trong hoạt động thực tiễn phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhân dân, bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho cán bộ, Đảng viên, rèn luyện ý chí cách mạng và phẩm chất đạo đức của cán bộ
Đảng viên.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
8
Câu 7: Trình bày sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học của phép biện
chứng duy vật. Vận dụng xem xét tình hình thế giới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay.
Nếu xu hướng thứ nhất thắng lợi, ta giữ vững được XHCN, nếu xu hướng thứ hai thắng lợi, ta sẽ
chệch hướng XHCN.
Kinh tế nhiều thành phần chứa đựng nhiều mâu thuẫn, thậm chí có mâu thuẫn gay gắt, nhưng
chính sách của chúng ta là phát huy tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế, nhưng có sự điều chỉnh và
hạn chế những lợi ích đối lập nhau.
Câu 8: Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Ý nghĩa phương pháp
luận.
I-Thực tiễn là gì?
+ Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất mang tính xã hội lịch sử của con người,
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
+ Các loại hoạt động thực tiễn cơ bản bao gồm:
+ Hoạt động lao động sản xuất.
+ Hoạt động đấu tranh xã hội.
+ Thực nghiệm khoa học kỹ thuật.
II-Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
- Triết học Mác khẳng định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
- Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
9
+ Thực tiễn là điểm xuất phát của mọi nhận thức.
+ Thực tiễn làm tự nhiên bộc lộ bản chất, đặc tính để nhận thức.
+ Thực tiễn cung cấp cho con người công cụ, phương tiện đến nhận thức hiện thực khách quan.
+ Thực tiễn đặt ra nhu cầu cho nhận thức.
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan, cơ bản duy nhất để kiểm tra nhận thức của con người.
+ Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có các tri thức khoa học.
(Cho ví dụ , phân tích)
II-Ý nghĩa thực tiễn và phê phán những quan điểm sai trái.
- Xây dựng quan điểm thực tiễn đúng đắn.
- Phải coi trọng thực tiễn, gắn bó lý luận với thực tiễn.
- Mọi nhận thức lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn
bên ngoài con người, không xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muốn chủ
quan áp đặt cho thực tế.
-Nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải nhận thức và hành động theo quy luật khách
quan. Mọi biểu hiện coi thường quy luật khách quan, hành động bất chấp quy luật
khách quan sớm hay muộn đều cũng bị thất bại. Nguyên tắc này khắc phục và ngăn
ngừa bệnh chủ quan duy ý chí.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
10
2-Toàn diện:
-Nguyên tắc toàn diện xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Bản thân sự
vật hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại độc lập, tách rời, mà tồn tại
trong mối liên hệ hữu cơ gắn bó với nhau.
-Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ giữa
các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua
lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ
gián tiếp, chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
Xem xét sự vật hiện tượng đầy đủ các mặt, các yếu tố trong các mối liên hệ, các giai đoạn phát
triển của sự vật, phải biết gắn với điều kiện tồn tại của sự vật, gắn với không gian, thời gian, đồng thời
chú ý đến các mối liên hệ biện chứng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng.
Chung quy lại là toàn diện nhưng có trọng điểm
3-Lịch sử - cụ thể.
- Nguyên tắc này đòi hỏi phải tìm ra được những mâu thuẩn của sự vật, phải thấy
được xu hướng phát triển của sự vật, quá trình cái cũ mất đi và cái mới ra đời, phải
ủng hộ cái mới cái tiến bộ.
- Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng, trì trệ, định kiến trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta. Chúng ta phải phát huy nỗ lực
của bản thân trong việc thực hiện hoá quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo
thế giới nhằm phục vụ nhu cầu của con người.
- Nguyên tắc lịch sử – cụ thể : đòi hỏi khi xem xét sự vật phải xuất phát từ điều kiện
không gian và thời gian, gắn với hoàn cảnh tồn tại lịch sử cụ thể của nó, phải biết
+ Người lao động với kinh nghiệm sản xuất và thói quen lao động.
Các yếu tố của lực lượng sản xuất có quan hệ với nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự
phát triển của tư liệu lao động thích ứng vớ i bản thân người lao động, với trình độ văn hoá, khoa học,
kỹ thuật của họ.
Năng suất lao động là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đồng thời, xét đến
cùng, đó là nhân tố quan trọng nhất cho sự thắng lợi của một trật tự xã hội mới.
Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Những thành tựu của khoa học được
vận dụng nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất phát triển;
những tư liệu sản xuất, những tiến bộ của công nghệ và phương pháp sản xuất là kết quả vật chất của
nhận thức khoa học. Thời đại ngày nay tri thức khoa học trở thành một bộ phận cần thiết của kinh
nghiệm và tri thức của người sản xuất v.v. và được phát triển mạnh mẽ. Đó là lực lượng sản xuất to lớn
thúc đẩy quá trình phát triển tiến bộ xã hội trên thế giới.
2-Quan hệ sản xuất.
Quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất được gọi là quan hệ sản xuất. Cũng như lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất của xã hội. Tính vật chất của quan hệ
sản xuất thể hiện ở chỗ chúng tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người.
Quan hệ sản xuất bao gồm:
+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
+ Quan hệ về tổ chức quản lý trong sản xuất.
+ Quan hệ phân phối sản phẩm.
Ba mặt trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò
quyết định. Bản chất của bất cứ kiểu quan hệ sản xuất nào trước hết do quan hệ chiếm hữu tư liệu sản
xuất quyết định.
II-Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
1-Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của lực lượng sản
xuất
-Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất và cách mạng nhất, là nội dung của phương
thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, là hình thức xã hội
của phương thức sản xuất. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội
dung quyết định hình thức.
sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác cao hơn. Quy luật này là quy luật phổ biến tác động trong
mọi xã hội, làm cho xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao.
III-Sự vận dụng ở nước ta.
Trước ĐH VI chúng ta đã phạm một số sai lầm do chủ quan nóng vội đã không vận dụng đúng
quy luật thậm chí có lúc còn trái quy luật. Khắc phục những sai lầm đó trong công cuộc đổi mới hiện
nay đảng chủ trương từng bước hoàn thiện QHSX phù hợp theo định hướng XHCN. Thực hiện nhiều
hình thức phân phối trong đó phân phối theo lao động và theo hiệu quả là chủ yếu đó là vận dụng sáng
tạo quy luật này của Đảng ta.(Phân tích)
- Việt Nam lựa chọn con đường XHCN không qua chế độ TBCN là sự lựa chọn
đúng đắn, phù hợp với sự phát triển lịch sử.
- Xuất phát từ đặc điểm chủ yếu ở Việt Nam là từ sản xuất nhỏ đi lên xây dựng
PTSX xã hội chủ nghĩa, nên theo quy luật này, Đảng ta cho rằng: Phát triển LLSX,
thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ,
nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH không ngừng nâng cao năng xuất
lao động, cải thiện đời sống nhân dân.
- Phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ
thấp đến cao, đa dạng về hình thức sở hữu.
- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện
nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
là chủ yếu.
Câu 12 : Phân tích nội dung quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.
Đảng ta vận dụng quy luật này trong sự nghiệp đổi mới như thế nào?
I-Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
1-Cơ sở hạ tầng.
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một
xã hội nhất định. Khái niệm cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các quan
hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội.
- Cơ sở hạ tầng bao gồm:
- Cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất
định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó thế nào thì hệ
thống tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, v.v. và các quan hệ; các thể
chế tương ứng với những tư tưởng ấy cũng như vậy.
- Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó
xảy ra trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, cũng như từ hình thái kinh tế — xã hội
này sang hình thái kinh tế - xã hội khác. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến
đổi đó diễn ra thông qua cuộc đấu tranh giai cấ p gay go, phức tạp.
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mỗi hình
thái kinh tế - xã hội.
2- Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng.
- Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện trước
hết ở chức năng chính trị - xã hội của kiến trúc thượng tầng nhằm bảo vệ, duy trì,
củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng cũ.
- Các bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng
bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng
có tác động to lớn nhất và trực tiếp đối với cơ sở hạ tầng.
- Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, kiến trúc thượng tầng có những quá trình biến
đổi nhất định. Quá trình đó càng phù hợp với cơ sở hạ tầng thì sự tác động của nó
đối với cơ sở hạ tầng càng có hiệu quả; ngược lại, quá trình đó không theo cùng
chiều với quy luật vận động của cơ sở hạ tầng thì nó sẽ cản trở sự phát triển của cơ
sở hạ tầng.
- Trong thời đại ngày nay, vai trò của kiến trúc thượng tầng tăng lên rõ rệt, càng thể
hiện với tư cách là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử. Song nếu
quá nhấn mạnh hoặc thổi phồng vai trò của kiến trúc thượng tầng đến mức phủ định
tính tất yếu kinh tế của xã hội, thì sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan, duy y chí.
III - Đảng ta vận dụng.
- Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất
gắn liền với các hình thức sở hữu tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau,
CNXH đang được xây dựng ở nước ta toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn. Đó là: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm
chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người
được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các
dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới".
Mô hình CNXH nêu trên thể hiện quan điểm Mác - Lê-nin về CNXH. Một mặt, lấy phục vụ con người
làm mục đích, tức là "tất cả vì con người". Mặt khác, lấy việc phát huy sức mạnh của con người làm động
lực chủ yếu để xây dựng thành công CNXH, tức là "tất cả do con người". Đồng thời, mô hình trên cũng
thể hiện sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. Mô hình ấy biểu hiện như một kết cấu
tổng thể, ổn định tương đối, nó không phải là một mô hình khép kín và cứng nhắc. Mô hình CNXH thời
kỳ đổi mới ở nước ta chứa đựng khả năng mở rộng nội hàm, tiếp tục bổ sung những nét mới là kết quả
của việc không ngừng nâng cao trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn phong phú, đa dạng. Nó là kết quả
của sự kết hợp hài hòa cái phổ biến và cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo nên một mô hình có tên
gọi: mô hình CNXH Việt Nam. Nó thể hiện xu hướng gắn kết hợp lý tiến trình phát triển của CNXH với
sự vận động không ngừng của nhân loại đi lên phía trước, kế thừa những thành tựu tiến bộ của loài người
để xây dựng thành công CNXH.
Thực tế 24 năm qua đã chứng minh, với mô hình này, chúng ta đã thu được những thành tựu, to lớn, có ý
nghĩa lịch sử. Thời điểm hiện nay đã có yêu cầu bức thiết và những điều kiện cơ bản đã chín muồi cho
việc bổ sung phát triển Cương lĩnh trong đó có mô hình CNXH của nước ta.
Lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên CNXH của nước ta có những
đổi mới sâu sắc. Nếu trước đây thường nói, nước ta quá độ lên CNXH "bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa", thì từ Đại hội lần thứ IX trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước diễn đạt là: Nước
ta quá độ lên CNXH "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa".
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
15
Việc "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" được giải thích rõ về hai phương diện: Thứ nhất, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa (TBCN) là "bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
xuất nhỏ lên sản xuất lớn mà CNTB đã từng trải qua: sản xuất hàng hóa; tiến hành cách mạng kỹ thuật -
theo nhu cầu phát triển biện chứng của kỹ thuật trong hiệp tác giản đơn, công trường thủ công, đại công
nghiệp cơ khí - để chuyển lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc; mở rộng giao lưu trong
nước và giao lưu quốc tế, khắc phục tâm lý sản xuất nhỏ và tư tưởng phong kiến
Bốn là, "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng phải kế thừa những thành tựu tiến bộ mà loài người tạo ra trong
chế độ CNTB. Sau khi "bỏ qua" phần lạc hậu của CNTB (địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến
trúc thượng tầng TBCN), chúng ta cần tiếp thu những thành tựu của CNTB và sử dụng chúng vào mục
tiêu xây dựng CNXH. "Bỏ qua" chế độ TBCN, nhưng đồng thời sử dụng những thành quả văn minh trong
CNTB một cách chủ động và tự giác, chọn lọc kỹ lưỡng trong điều kiện mới - điều kiện có nhà nước
XHCN và với chủ thể mới là nhân dân lao động.
Nhận thức mới của Đảng ta về mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH đã được thể hiện nhất quán.
Sự nhất quán đó sẽ tạo nên một nền tảng vững chắc cho hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta đã bắt đầu hình thành và sẽ từng bước được bổ sung, hoàn thiện.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
16
Thành tựu đó có ý nghĩa lớn nhưng vẫn là bước đầu.Vì, một mặt, nó cần được nâng lên trình độ cao hơn
về lý luận để trở thành một triết lý, hay nói cách khác - một bộ phận chủ đạo trong chủ thuyết chung của
công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta; mặt khác, nó phải được mở rộng sang mọi phương diện và các lĩnh
vực quan trọng của công cuộc xây dựng CNXH mà Nghị quyết của các Đại hội Đảng đã nêu thành nhiệm
vụ trực tiếp và đang được quan tâm sâu sắc. Thí dụ: vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất XHCN chủ yếu
dựa trên chế độ công hữu từ một nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu hiện nay; vấn đề công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong bối cảnh của thời kỳ khoa học-công nghệ bùng nổ và xuất hiện kinh tế tri thức, đặc biệt
là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo con đường xã hội chủ nghĩa; vấn đề xây
dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, trong đó mấu chốt là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đi
liền với tiến bộ và công bằng xã hội, kết hợp những giá trị dân tộc truyền thống với những tinh hoa của
nền văn minh hiện đại; vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh hội nhập và phải đối
mặt với những thách thức từ nhiều phía
Điều kiện tiên quyết cho sự thành công của việc đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ nói trên là: Kiên định
nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục kế thừa và phát triển những kết quả nhận thức về mô hình và con
đường đi lên CNXH ở nước ta và luôn bám sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn đổi mới của đất
2-Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp.
- Thông qua cuộc đấu tranh giai cấp, sự xung đột giữa lực lượng sản xuất mới và
quan hệ sản xuất lạc hậu được giải quyết, thực hiện bước quá độ từ một chế độ xã
hội lỗi thời sang chế độ mới cao hơn.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
17
- Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp không chỉ thể hiện
trong thời kỳ cách mạng xã hội, mà còn trong thời kỳ hoà bình. Nhưng có những
nội dung hình thức biểu hiện và đặc điểm khác nhau.
- Khi đấu tranh giai cấp phát triển thành cách mạng xã hội thì mọi mặt của đời sống
xã hội phát triển với một nhịp độ chưa từng thấy - nhịp độ "một ngày bằng hai mươi
năm".
- Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của mọi xã hộ i có giai cấp, song quy luật ấy
có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể. Điều đó do kết cấu giai cấp, do
địa vị lịch sử của mỗi giai cấp trong từng phương thức sản xuấ t, do tương quan lực
lượng giai cấp trong từng giai đoạn quyết định.
Câu 15: Vì sao trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH đấu tranh giai cấp vẫn là tất
yếu. Quan điểm của Đảng ta về nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam
hiện nay.
I-Trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH đấu tranh giai cấp vẫn là tất yếu vì:
- Giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, nó vẫn còn kinh
nghiệm, còn lực lượng âm mưu lật đổ chuyên chính vô sản, khôi phục địa vị của
chúng.
- Cách mạng vô sản thắng lợi, nhưng những cơ sở kinh tế, chính trị, tâm lý xã hội,
tập quán trong nhân dân vẫn còn tồn tại làm cơ sở để duy trì giai cấp bóc lột và nảy
sinh giai cấp bóc lột.
- Cuộc cách mạng XHCN là cuộc cách mạng triệt để, quyết liệt, sâu sắc trên tất cả
các mặt từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, dẫn đến sự phản kháng của giai
cấp tư sản vô cùng quyết liệt cho nên phải đấu tranh để bảo vệ thành quả cách
mạng. Thắng lợi của giai cấp vô sản không cùng thắng lợi một lúc trên toàn thế giới
- Trong xã hội có phân chia giai cấp thì việc giải quyết vấn đề nhân loại bao giờ
cũng mang tính giai cấp (giai cấp nào cũng muốn giải quyết có lợi cho giai cấp
mình) và việc giải quyết vấn đề nhân loại không triệt để. Vì vậy trong sự phát triển
của thời đại chúng ta tạo nên xu hướng đối thoại hoà dịu nhưng giải quyết vấn đề
nhân loại trên quan điểm thống nhất giữa đối thoại và đấu tranh.
+ Lịch sử đã chứng minh rằng giai cấp tiến bộ, giai cấp cách mạng bao giờ cũng hướng tới cách giải
quyết vấn đề nhân loại có lợi cho đa số nhân dân lao động.Vì mục tiêu của thời đại là “Hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. Trong thời đại của chúng ta chỉ có giai cấp công nhân mới
có khả năng giải quyết vấn đề nhân loại một cách triệt để vì nó đại diện cho lợi ích của toàn xã hội.
+ Không ngừng cảnh giác với những thế lực lợi dụng vấn đề nhân loại mưu cầu lợi ích riêng của giai
cấp mình.
II-Vấn đề giai cấp và dân tộc:
- Trong một dân tộc có nhiều giai cấp và xu hướng phát triển của dân tộc thường bị
giai cấp thống trị chi phối, giải quyết vấn đề dân tộc bao giờ cũng trên quan điểm
của giai cấp thống trị. Do vấn đề giai cấp chưa được giải quyết thì vấn đề dân tộc
cũng chưa được giải quyết một cách triệt để, dân tộc xuất hiện sau giai cấp nhưng
trong tương lai vấn đề giai cấp có thể giải quyết trước các vấn đề dân tộc là lâu dài.
- Khi giai cấp thống trị dân tộc là cách mạng tiến bộ thì giải quyết vấn đề dân tộc
theo chiều hướng tiến bộ, còn giai cấp thống trị lạc hậu thì giải quyết vấn đề dân tộc
lạc hậu, thậm chí phản lại lợi ích dân tộc. Trong thời đại ngày nay chỉ có giai cấp
công nhân mới có khả năng giải quyết vấn đề nhân loại một cách triệt để vì nó đại
diện cho lợi ích của toàn xã hội.
III-Vận dụng quan điểm của Đảng ta:
- Đấu tranh giai cấp ở VN hiện nay là đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ nó
phù hợp với tính tất yếu phải đấu tranh giai cấp theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Tuy nhiên nó có đặc thù riêng đó là đặc điểm đấu tranh giai cấp có nhiều
thay đổi do kết cấu vai trò của giai cấp đã có sự thay đổi, kinh tế phát triển chậm từ
một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tình hình thế giới và
trong nước hết sức phức tạp đòi hỏi hình thức đấu tranh phải hết sức phong phú
nhằm giữ vững ổn định bên trong và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thù địch
kinh tế, nhà nước là đỉnh cao của đấu tranh giai cấp.
- Chức năng của nhà nước:
+ Nhà nước là một thiết chế chính trị xã hội đặc biệt vô cùng phức tạp, tiếp cận với nó từ những
giác độ khác nhau người ta có thể nói đến những loại chức năng khác nhau.
+ Mọi nhà nước đều có 2 chức năng có bản:
+ Chức năng thống trị chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp).
+ Chức năng xã hội (chức năng công quyền).
2.Vận dụng làm rõ đặc đỉểm của nhà nước VN hiện nay:
- Nhà nước ta lấy chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng, lấy tập trung dân chủ làm
nguyên tắc tổ chức vận hành.
- Quyền lực của nhà nước là thống nhất nhưng được phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan nhà nước khác nhau.
- Cơ sở xã hội của nhà nước là khối liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức dưới
sự lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Việt nam.
Câu 18: Trình bày quan điểm của triết học Mác - Lê nin về bản chất con người. Quan
điểm của Đảng ta về phát huy vai trò của nhân tố người trong sự nghiệp đổi mới.
I-Quan điểm của CN-Mác về bản chất con người.
“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”
Bản chất con người là sự thống nhất giữa bản chất tự nhiên và bản chất xã hội hay giữa mặt sinh
học và mặt xã hội.
Con người chịu chi phối bởi 3 hệ thống quy luật:
+ Quy luật sinh học.
+ Quy luật tâm sinh lý.
+ Quy luật xã hội.
Trong đó quy luật đầu tiên quyết định bản chất tự nhiên của con người, là tiền đề, là điều kiện,
nhân tố quyết định hình thành phẩm chất con người trong xã hội.
- Con người hoà hợp với giới tự nhiên là một bộ phận của giới tự nhiên là kết quả
phát triển lâu dài của thế giới vật chất.
- Con người có tính xã hội, trước hết bản thân hoạt động sản xuất của con người
mang tính xã hội. Hoạt động con người gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả xã
tế - xã hội”?
I-Văn hóa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội.
Văn hoá trong quan điểm của Đảng ta: văn hoá là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội mà nội
dung cốt lõi của nền văn hóa này là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
II-Vì sao văn hóa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội.
Để kinh tế phát triển nhanh, bền vững và ổn định thì phải có mô hình kinh tế phù hợp với quy luật
khách quan, vì vậy phải kết hợp 3 yếu tố: trí tuệ, kinh nghiệm và sự khôn ngoan. Cả 3 yếu tố này là chức
năng của văn hóa.
1-Văn hoá là mục tiêu vì:
- Mục tiêu phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nhân dân ta có mức sống cao và
cách sống đẹp.
- Phát triển kinh tế tạo cho con người hướng tới giá trị chân thiện mỹ - con người
phát triển tự do và toàn diện.
- Tạo cho sự phát triển kinh tế nhanh, an toàn và bền vững.
- Xây dựng và phát triển kinh tế phải tiến đến mục tiêu cuối cùng vì xã hội công
bằng văn minh, con người phát triển toàn diện.
2-Văn hoá là động lực.
- Nhận mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực.
- Bằng sự kết hợp hài hoà kinh nghiệm, tri thức và sự khôn ngoan, văn hoá định
hướng và làm nền cho sự lựa chọn các mô hình phát triển kinh tế.
- Vốn thiên chức của văn hóa là hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, văn hoá khơi
dậy tiềm năng sáng tạo vô tận của nguồn lực con người.
- Kế thừa và phát huy mọi truyền thống của dân tộc văn hoá có khả năng tiếp thu và
cải biến các yếu tố ngoại sinh thành yếu tố nội sinh để phù hợp với xu thế toàn cầu
hoá.
- Nguồn lực quan trọng nhất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con người. Do đó
muốn kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững phải bắt nguồn từ văn hoá, và
văn hóa là nguồn dinh dưỡng để phát triển kinh tế.
Nguyễn Bá Tể KHMT- CH_ K22 sưu tầm và biên soạn.
21