TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
***
BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI VỀ CNTT
Đề tài:
Ngữ cảnh xã hội của thời đại CNTT
Giáo viên giảng dạy: Trần Doãn Vinh
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Liên
Cao Thị Việt Hoà
Phùng Thị Nguyệt
Nguyễn Thị Hồng Xiêm
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
Lời mở đầu
CNTT được Chính phủ chọn là một trong bốn ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước. Mặc dù, lĩnh vực CNTT đã có những thành tựu đáng kể trong
những năm gần đây, nhưng chúng ta chỉ mới ở giai đoạn ban đầu xây dựng
ngành kinh tế công nghiệp này.
Bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế thế giới tiếp tục phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu. Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia sâu vào các chương trình của
ASEAN, hướng tới việc thiết lập một cộng đồng ASEAN vững mạnh tiếp tục
phát triển quan hệ đối tác chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên của APEC.
Tất cả đều là những vận hội mới cho phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác
kinh tế quốc tế, là cơ hội lớn cho ngành CNTT-TT Việt Nam.
CNTT-TT, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trên thế giới ngày
càng trở nên nhỏ bé. Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa hoạt động
kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn
cầu. Sự hội tụ công nghệ viễn thông - tin học - truyền thông quảng bá đang
diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và dẫn đến sự hình thành những loại
hình dịch vụ mới, tạo ra khả năng mới và cách tiếp cận mới đối với phát triển
kinh tế xã hội.
lí) đầu tiên. Cho tới nay nền công nghiệp công nghệ thông tin đã phát triển
qua 4 giai đoạn:
a. Hệ hệ thống trung tâm (Systems-centric system) 1964 đến 1981
b. Hệ máy tính cá nhân trung tâm (PC-centric system) từ 1981 đến 1994
c. Hệ mạng trung tâm ( Network- centric system) từ 1994 đến 2005
Hệ Nội dung dự án trung tâm ( projected content-centric system) dự
đoán phát triển trong khoảng 2005 đến 2015.
Tóm lại, Công nghệ thông tin có thể được coi là một công nghệ của đời
sống. Sự ra đời của nó thực sự đã tạo ra một bước tiến thần kì trong lịch sử
trước đây, đưa loài người sang một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên của khoa học
và công nghệ.
II. Toàn cảnh CNTT
1. Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới
Trong những năm gần đây, sự thay đổi nhanh chóng của CNTT-TT
khiến trong phương thức xếp hạng có nhiều thay đổi, nhiều chỉ tiêu xếp hạng
mới được bổ sung, còn trong các chỉ tiêu cũ thì các tiêu chí đánh giá cũng có
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 3 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
những thay đổi nhất định. Nói chung các thứ hạng của Việt nam không có các
thay đổi lớn.
Trong 5 năm trở lại đây, ngày càng có nhiều tổ chức quốc tế xếp hạng
các quốc gia hàng năm về các tiêu chí liên quan đến CNTT - Viễn thông. Các
bảng xếp hạng quan trọng thuộc về ITU (International Telecommunication
Union), Ngân hàng Thế giới, Diễn dàn Kinh tế Thế giới (World Economic
Forum - WEF), các tổ chức của Liên hiệp quốc (United Nation) như UNDP,
UNCTAD, UNPAN và các tổ chức tư vấn như IDC, BSA…
Chỉ số Nền kinh tế Tri thức (Knowledge Economy Index – KEI và
Knowledge Index - KI): Innovation + Education + ICT, tăng 14 bậc
Trong xu thế “phẳng hóa” và dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức, cùng
với việc Việt nam chính thức trở thành thành viên của WTO, việc đánh giá và
thông tin (gồm hạ tầng mạng và giáo dục đào tạo) và Sử dụng thông tin (các
số liệu liên quan đến mật độ máy tính, số người dùng Internet, số gia đình có
TV, số người kết nối mạng băng thông rộng và dung lượng thông tin thực tế
chuyển qua mạng). Chỉ số này được công bố trong báo cáo Measuring the
Information Society 2007, sau đó công bố lại trong World Information Report
2007.
Chỉ số cơ hội số – Digital Opportunity Index (DOI): tụt 3 bậc và
chưa đạt điểm trung bình
Chỉ số này do ITU công bố tháng 5/2007, khác chỉ số ICT-OI là không
tính đến giáo dục, mà chỉ dựa trên các chỉ tiêu phát triển CNTT và viễn thông.
Chỉ tiêu này năm 2007 được xếp cho 181 nước, Việt nam xếp hạng thứ
126/181 với điểm số là 0.29 - chưa đạt được điểm số trung bình thế giới là
0.40. So với lần xếp hạng trước đó (thứ hạng 123), Việt nam tụt 3 bậc dù tăng
được 0.1 điểm (0.28 lên 0.29). ITU cũng công bố bản đồ thế giới và từng khu
vực trong đó màu sắc từng quốc gia phản ánh độ lớn/nhỏ của chỉ số này. Đậm
màu nhất (cao nhất) là khu vực Bắc Mỹ, Tây, Âu, Nhật bản và Australia.
Chỉ số sẵn sàng kết nối (Networked Readiness Index – NRI 2006-
2007): tụt hạng thêm 7 bậc
Theo định nghĩa của World Economic Forum (WEF), NRI là ''mức độ
chuẩn bị của một nước hay cộng đồng để tham gia và hưởng lợi từ các phát
triển của CNTT”. Chỉ số này do WEF công bố trong Global Information
Technology Report hàng năm và được tính từ ba yếu tố: môi trường điều phối
và kinh tế vĩ mô cho CNTT, sự sẵn sàng của cá nhân, doanh nghiệp và chính
phủ cho việc sử dụng và thụ hưởng CNTT, và mức độ sử dụng CNTT. Năm
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 5 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
2002 trong xếp hạng chỉ có 75 nước, năm 2003 có 82 nước, năm 2004 có 102
nước, năm 2005 có 104 nước, năm 2006 có 115 nước và năm 2007 lên đến
122 nước.
Năm 2007, WEF bổ sung thêm một số tiêu chí con để đánh giá được
chí The Economist – Anh) phối hợp với IBM Institute for Business Value.
Năm nay, các tiêu chí đánh giá được thay đổi cho phù hợp với xu thế phát
triển công nghệ cùng với việc bổ sung thêm các yêu tố “phi công nghệ” –
được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc triển khai các
ứng dụng CNTT-TT. Tiêu chí về cơ sở hạ tầng được bổ sung thêm yếu tố
phương thức kết nối, trong đó nhấn mạnh vai trò của kết nối băng rộng, đồng
thời đánh giá sự cam kết của chính phủ trong việc triển khai thẻ nhận dạng số
(digital indentity card). Với tiêu chí về sự chấp nhận dịch vụ điện tử của
doanh nghiệp và cá nhân thì ngòai thương mại điện tử thông thường được bổ
sung thêm các dịch vụ của chính phủ. Năm 2007 bổ sung thêm tiêu chí về
chính sách và tầm nhìn của chính phủ - xem đây là một trong các yếu tố quan
trọng trong việc phát triển CNTT. Các tiêu chí khác liên quan đến môi trường
kinh doanh, các điều kiện văn hóa - xã hội, môi trường pháp lý không có thay
đổi lớn.
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 8 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
Năm 2007, chỉ số của các nước đều tăng và khoảng cách số (digital
divide) giữa các quốc gia đã thu hẹp lại hơn (khỏang cách giữa quốc gia tốt
nhất và kém nhất từ 6.08 điểm giảm xuống 5.80 điểm). Yêu cầu về kết nối
mạng không chỉ giới hạn ở việc kết nối được hay không mà cần phải quan
tâm đến chất lượng kết nối: tốc độ, độ an tòan, tính tiện lợi. Kết nối băng
thông rộng đã trở nên phổ biến.
Trong báo cáo The 2007 e-readiness Ranking công bố tháng 4/2007,
Việt nam xếp hạng thứ 65 trong tổng số 69 nước – tăng 1 bậc so với năm
trước (3.73 điểm – tăng so với điểm 3.12 của năm 2006). Vị trí của Việt nam
trong danh sách năm 2003 và 2002 là 56/60, 2004 là 60/65, 2005 là 61/65 và
2006 là 66/68.
Về tiêu chí về chính sách và tầm nhìn của chính phủ, Việt nam được xếp
hạng 58/69.
Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm: giảm 2%, tăng 1 bậc nhưng
Dù giảm về % nhưng giá trị vi phạm của Việt nam tăng khá cao, từ 38
triệu USD lên 96 triệu USD, với mức độ vi phạm trung bình trên
1USD/người/năm. Nếu tính giá trị vi phạm trên đầu người thì mức trung bình
châu Á cao hơn Việt nam 3 lần và mức trung bình thế giới cao hơn Việt nam
6 lần.
Tổng hợp
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 10 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
2. Tình hình ứng dụng và phát triển CNTT-TT tại Việt Nam
Với tốc độ tăng trưởng cao và hàng hàng loạt chuyến viếng thăm,
làm việc, mở các trung tâm sản xuất, dịch vụ tại Việt Nam của các đại
gia công nghệ thông tin (CNTT) trên thế giới như Microsoft, Intel, IBM
và mới đây nhất là Google, Ebay đã khẳng định phần nào bức tranh
sáng sủa của ngành CNTT Việt Nam.
Một sự kiện cũng rất quan trọng là việc Việt nam trở thành thành viên
chính thức của WTO, cùng với việc chính thức tham gia toàn diện vào hiệp
định ITA với lộ trình giảm thuế cho các sản phẩm dịch vụ CNTT, trong đó
các sản phẩm đang có thuế nhập khẩu 5% sẽ giảm đều trong 3 năm về 0%
trong năm 2010, các sản phẩm có thuế nhập khẩu 10% sẽ giảm đều trong 5
năm về 0% vào trong năm 2012 và các sản phẩm thuế xuất 20%-30% sẽ giảm
đều trong 7 năm để về 0% vào năm 2014.
A. Tình hình CNTT
- Tình hình xuất/nhập khẩu CNTT: đều tăng, nhưng nhịp điệu
chậm lại, riêng phần mềm xuất nhập khẩu vẫn tăng tốt.
+ Năm 2006 kim ngạch nhập khẩu chính ngạch tăng 13.9% và kim
ngạch xuất khẩu tăng 18.3%. Tốc độ tăng trưởng có chậm lại khá nhiều so với
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 11 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
năm trước (năm 2005 con số tăng trưởng xuất khẩu/nhập khẩu là 59% và
36%). Trong năm 2006, kim ngạch nhập khẩu đạt con số 1 tỷ 412 triệu USD,
Canon - Việt nam (máy in, trên 650 triệu USD năm 2006 so với con số 450
triệu USD năm 2005). Trong báo cáo Tòan cảnh 2006, chúng tôi đã nhận định
“dự kiến trong năm 2006 Canon sẽ vượt Fujitsu về kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm CNTT” – điều này đã trở thành hiện thực, đến cuối năm 2006, Canon
đã trở thành doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngòai có doanh thu xuất khẩu
lớn nhất Việt nam không chỉ trong ngành CNTT. Doanh số xuất khẩu của
Fujitsu năm nay chưa đạt được 500 triệu USD – thấp hơn con số 515 triệu
USD của năm trước– lý do đưa ra là sự cạnh tranh trên quy mô toàn cầu của
các sản phẩm cùng loại sản xuất tại Trung quốc.
- Thị trường CNTT Việt nam: vượt ngưỡng 1 tỷ USD, tăng 22.6%,
trong đó phần mềm/dịch vụ tăng 43.9%.
Thị trường CNTT Việt nam năm 2006 đạt con số 1 tỷ 15 triệu USD, tăng
22.6% - gấp hơn lần 3 tỷ lệ tăng trưởng chung của thế giới - trong đó phần
cứng tăng 15.8%, phần mềm/dịch vụ tăng 43.9%. Chi tiêu cho phần cứng tăng
trưởng không cao do giá phần cứng giảm khá nhanh, chi tiêu cho phần mềm
bị ảnh hưởng bởi sự giảm sút của thị trường phần mềm chính phủ trong năm
2006. Dù thị trường phần mềm chính phủ do kế họach 2006-2010 triển khai
chậm nên tăng chậm, tốc độ tăng trưởng của thị trường phần mềm vẫn cao do
dịch vụ nội dung số bù lại.
Đây là các con số tăng trưởng ấn tượng, cao hơn mức độ tăng trưởng
GDP và vượt mức tăng trưởng trung bình của Châu Á và thế giới. Dự báo của
IDC cho biết các năm sau con số tăng trưởng ở Việt nam chỉ ở mức 13-15%
(chưa tính dịch vụ nội dung số). Các ngành công nghiệp phần cứng, phần
mềm muốn tăng trưởng mạnh 35-40%/năm không thể chỉ dựa vào thị trường
trong nước mà phải hướng đến xuất khẩu.
Thị trường CNTT Việt nam 2000-2006 (triệu USD)
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 13 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
Sản phẩm CNTT ưa chuộng nhất 2007 bao gồm 33 chủng loại sản phẩm
- dịch vụ CNTT, được chia làm 7 nhóm, có thêm 5 nhóm được bổ xung , đó
* Công nghiệp phần mềm/dịch vụ CNTT: doanh số vượt ngưỡng 350
triệu USD
Ngành công nghiệp phần mềm/dịch vụ Việt nam đạt doanh số 360 triệu
USD trong năm 2006, trong đó 255 triệu USD từ thị trường nội địa (chiếm
70.1%) và 105 triệu USD từ gia công xuất khẩu (chiếm 29.9%), tăng 44% so
với năm trước. Gia công xuất khẩu phần mềm tăng 50%, thị trường phần
mềm/dịch vụ trong nước tăng 41.6%.
Nếu vẫn giữ được nhịp độ phát triển này, doanh số công nghiệp phần
mềm năm 2007 sẽ vượt ngưỡng 500 triệu USD – là mục tiêu chúng ta đã dự
kiến đạt trong năm 2005. Chậm 2 năm so với kế họach, tuy nhiên chúng ta hy
vọng các năm sau sẽ đi nhanh hơn nhiều.
Trong lĩnh vực công nghiệp nội dung số, VTC với lợi thế của các kênh
truyền hình số đã vượt qua VASC (VietnamNet Media Group) dành vị trí số
1.
* Công nghiệp phần cứng: Canon vươn lên vị trí số 1
Công nghiệp phần cứng đạt 1.38 tỷ USD, trong đó chủ yếu phục vụ xuất
khẩu với kim ngạch 1 tỷ 233 triệu USD và 147 triệu USD cho thị trường trong
nước. Phần đóng góp quan trọng ở đây là của các công ty 100% vốn nước
ngoài sản xuất ở Việt nam để xuất khẩu đi các nước khác.
Hầu hết các thương hiệu máy tính trong nước có doanh số 2006 dưới 5
triệu USD, chỉ có 2 công ty sản xuất máy tính thương hiệu Việt nam hàng đầu
có doanh số vượt ngưỡng 10 triệu USD còn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao,
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 15 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
trong đó FPT Elead tăng trưởng 35.8% với doanh số 18.2 triệu USD, CMS
tăng trưởng 49.5% với doanh số 13.9 triệu USD.
Canon vượt qua Fujitsu trở thành nhà sản xuất phần cứng lớn nhất. Năm
2006 được đánh dấu bởi việc các công ty CNTT phần cứng đa quốc gia tăng
cường đầu tư vào Việt Nam, trong đó có thể kể đến dự án của Intel (Tp HCM,
trên 1 tỷ USD), việc tăng vốn và mở thêm cơ sở sản xuất của Nidec Với sự
Dung lượng kết nối Internet quốc tế vẫn giữ được nhịp điệu tăng 150%
sau 12 tháng, từ 5795Mbps lên 8703Mbps, trong đó đầu mối kết nối chính là
VNPT quản lý trên 4805Mbps, ở vị trí thứ 2 là FPT Telecom trên 1860 Mbps,
sau đó là Viettel 1483Mbps. Ba doanh nghiệp này chiếm gần 95% dung lượng
kết nối Internet Việt nam đi quốc tế.
Trong năm 2005, số kết nối Internet băng rộng ADSL tăng gần 300% so
với năm 2004, đạt con số 227.000 thuê bao. Đến năm 2006, số thuê bao
Internet băng rộng tăng 250% đạt con số 577.000 thuê bao, và đến tháng
5/2007 đạt con số 753.000 thuê bao. Sau 12 tháng, số kết nối băng rộng tăng
hơn 2 lần (tháng 5/2006: 310 ngàn). Cùng với Internet băng rộng, việc triển
khai rộng các điểm truy cập WIFI trong năm 2006 - nổi bật là 5000 điểm truy
cập của FPT Telecom - cũng là điểm đáng chú ý.
- Đào tạo nguồn nhân lực CNTT – tiếp tục chuyển biến về chủ
trương, vấn đề là tốc độ thực hiện chủ trương.
Một chủ trương quan trọng là cam kết của Việt nam khi tham gia WTO
mở cửa cho giáo dục quốc tế và chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo
nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học công nghệ. Quyết tâm này được thể
hiện quyết liệt hơn qua phát biểu của Thủ tướng chính phủ tháng 11/2006:“
Hướng chính ở đây là: Chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo đại học
thuộc các ngành kỹ thuật - công nghệ và dạy nghề để huy động các nguồn lực
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 17 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo”. Các trường đại học nước
ngòai đã chính thức được phép liên kết mở cơ sở tại Việt nam, và từ tháng
1/2009 được phép mở trường với 100% vốn đầu tư từ nước ngoài.
Năm 2006 là năm đầu tiên thực hiện Quy chế Đại học Tư thục được ban
hành năm 2005. Trong năm 2006, có 6 trường đại học tư thục được thành lập
(Bà rịa Vũng tàu, Tây đô, Chu Văn An, FPT, Kiến trúc Đà nẵng và Hoa sen) -
trong đó một trường nâng cấp đồng thời chuyển đổi lọai hình từ cao đẳng bán
công. Trong 6 tháng đầu năm 2007 chỉ thêm một trường đại học tư thục mới
Chỉ trong tháng đầu tiên của năm 2007, đã có hơn 20 website bị tấn
công với các hình thức tấn công phổ biến là tấn công trực tiếp, gián tiếp
và tấn công tên miền.
Số lượng máy tính ở Việt Nam bị nhiễm virus trong tháng 2/2007 là
2.094.000 máy tính. Số lượng virus mới xuất hiện trong tháng vừa qua là 197.
Số lượng virus xuất hiện trung bình trong 1 ngày là 7,04 virus.
Theo thống kê có tới 26% website tại Việt Nam có thể gặp nguy
hiểm với hình thức tấn công trực tiếp. Đưa dẫn chứng từ BKIS, trong
năm 2006, trong tổng số 340 website của các cơ quan, doanh nghiệp có
tên tuổi mà BKIS kiểm tra thì có tới 90 trong số đó có lỗ hổng. Đó cũng là
lý do giải thích tại sao chỉ riêng 2006, Việt Nam đã có 235 trang web có
tên miền .vn bị các hacker ngoại "ghé thăm". Rồi tình hình thương mại
điện tử Việt Nam "điêu đứng" vì tội phạm mạng. Đã có hàng loạt cuộc
tấn công trên mạng hướng vào các doanh nghiệp hoạt động Thương mại
điện tử gây nhiều trở ngại cho thị trường còn rất non trẻ của Việt Nam.
2006 cũng là năm đã bước đầu hình thành những đường dây tội phạm
công nghệ cao xuyên lục địa, khép kín, chuyên đánh cắp tài khoản tín
dụng, rửa tiền và hành xử theo luật riêng của giới cashout
Gác lại một năm 2006 đầy sóng gió, những vấn đề "nóng" của an ninh
mạng 2007 tập trung chủ yếu ở vấn đề bảo mật thiết bị di động. Sự phổ biến
của điện thoại thông minh trong năm này sẽ thôi thúc tội phạm chuyển mục
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 19 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
tiêu từ môi trường máy tính sang thiết bị di động. Những công nghệ kế nối
không dây như Bluetooth và Wifi đang ẩn chứa nhiều mối đe dọa. Rồi còn
xuất hiện cách phát tán virus qua thẻ nhớ hay còn gọi là SMishing
Chính vì vậy, thị trường an ninh mạng Việt Nam tuy quy mô nhỏ nhưng
có tiềm năng sẽ tăng trưởng thuộc vào hàng cao nhất trên thế giới. Dự báo
của Frost & Sullivan cho thấy, thị trường an ninh bảo mật mạng ở Việt
Nam, từ nay đến 2011, sẽ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 32%.
• Quyết định số 13/2007/QĐ-BBCVT ngày 15/6/2007 của Bộ Bưu chính
Viễn thông về việc phê duyệt quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế
trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
• Quyết định số 14/2007/QĐ BBCVT ngày 15/6/2007 của Bộ Bưu chính
Viễn thông về việc phê duyệt quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
• Quyết định số 15/2007/QĐ BBCVT ngày 15/6/2007 của Bộ Bưu chính
Viễn thông về việc phê duyệt quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Lần đầu tiên tất cả các khu vực trọng điểm đều có quy họach về CNTT
riêng cho khu vực mình. Năm 2006 cũng là năm đầu tiên chỉ số Vietnam ICT
Index được công bố xếp hạng các địa phương, bộ ngành trong việc ứng dụng
và phát triển CNTT. Nếu được làm tốt và duy trì đều đặn – đồng thời có tham
khảo tiêu chí đánh giá của quốc tế – chỉ số này sẽ giúp ích các địa phương,
các bộ ngành biết được vị trí của mình đang ở đâu trong bản đồ CNTT Việt
nam để định hướng phát triển.
Việc Việt nam gia nhập WTO trong năm 2006 và chuẩn bị thực hiện các
điều khoản trong ITA (miễn thuế nhập khẩu các sản phẩm CNTT-TT) cũng
đang được tiến hành khẩn trương để tham gia tòan diện vào sân chơi CNTT
tòan cầu - một sân chơi bắt buộc, hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng
không ít thách thức.
B. Ứng dụng CNTT tại Việt Nam
Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin (CNTT) trong các ngành, lĩnh
vực trọng điểm của nền kinh tế. Hình thành, xây dựng và phát triển Việt Nam
điện tử với công dân điện tử, CPĐT, DN điện tử, giao dịch và TMĐT để Việt
Nam đạt trình độ trung bình trong ASEAN. Để đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
1. Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
CNTT được đổi mới và tăng cường.
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 21 -
Nhiều Bộ, ngành cũng đã ban hành các văn bản thúc đẩy ứng dụng và phát
triển CNTT của đơn vị mình, hoặc trong lĩnh vực quản lý của đơn vị. Từ năm
2006, trong mục lục ngân sách nhà nước đã có dòng chi riêng cho CNTT.
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 22 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
(Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật về CNTT được ban hành từ năm
2001 đến nay trong Phụ lục 1 Báo cáo Tổng kết 5 năm 2001 - 2005 thực hiện
Chỉ thị 58 của Bộ chính trị).
Pháp lệnh bưu chính, viễn thông với tinh thần xóa bỏ độc quyền doanh
nghiệp (DN) trong kinh doanh dịch vụ viễn thông là một giải pháp đột phá tạo
điều kiện cho việc phát triển nhanh, mạnh các loại hình dịch vụ viễn thông đa
dạng, với chất lượng ngày một cao, giá ngày một rẻ, đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của xã hội. Các chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp
phần mềm với các ưu đãi cao đã có sức thu hút mạnh các DN đăng ký kinh
doanh và đầu tư trong lĩnh vực này.
3. Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng và Nhà nước đã có
bước phát triển mới, góp phần đổi mới lề lối làm việc, hiện đại hóa nền
hành chính, tạo tiền đề cho việc phát triển chính phủ điện tử.
Ứng dụng CNTT phục vụ công tác nghiệp vụ, quản lý và điều hành đã
tương đối phổ biến và ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong hệ thống
các cơ quan Đảng Quốc hội, Bộ, ngành và địa phương. Việc cung cấp thông
tin về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước, các chính
sách và hướng dẫn thủ tục hành chính trên mạng được triển khai ngày một tốt
hơn, là một bước tiến hướng tới chính phủ điện tử (CPĐT) ở Việt Nam. Trước
năm 2000 số các bộ, ngành và địa phương có trang tin điện tử chính thức có
rất ít, thì hiện nay 22/26 bộ và cơ quan ngang bộ, 56/64 tỉnh và thành phố trực
thuộc Trung ương đã có trang tin điện tử chính thức. Các trang tin điện tử của
Đảng (nay là Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam), Quốc hội, một số Bộ,
ngành và địa phương được cập nhật thông tin thường xuyên. Trang tin điện tử
Chính phủ (nay là Cổng thông tin điện tử của Chính phủ) được khai trương
Trong ngành Ngân hàng, hơn 85% các nghiệp vụ đã được xử lý bằng
máy tính với các mức độ khác nhau. Hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến,
hiện đại, liên ngân hàng, xây dựng theo các tiêu chuẩn quốc tế được đưa vào
sử dụng từ 5/2002. Hệ thống máy rút tiền tự động ATM, thanh toán bằng thẻ
thông minh (SMARTCARD, VISA CARD, ) đang từng bước được triển
khai tại nhiều tổ chức ứng dụng. Hệ thống thanh toán hiện đại không chỉ
mang lại lợi ích cho ngành ngân hàng mà còn cho cả toàn bộ nền kinh tế - xã
hội, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển TMĐT ở Việt Nam.
Trong kế hoạch ứng dụng CNTT ngành tài chính giai đoạn 2006-2010,
Bộ Tài chính xác định: Trong thời gian tới, CNTT và thống kê trước hết vẫn
là những công cụ hỗ trợ không thể thiếu và ngày càng quan trọng trong công
Liên - Nguyệt - Hoà - Xiêm - 24 -
Ngữ cảnh của xã hội CNTT
tác quản lý tài chính quốc gia, đồng thời sẽ vượt lên vai trò hỗ trợ, trở thành
một trong những động cơ dẫn dắt, thúc đẩy tiến trình cải cách và hiện đại
hóa”.
Các tổ chức tài chính và ngân hàng trong nước không còn cách nào khác
là phải chạy đua ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để nâng cao chất
lượng dịch vụ mới mong thu hút được khách hàng. Điều này làm cho quá
trình chuyển đổi ứng dụng CNTT trong các tổ chức này tại Việt Nam hiện
đang diễn ra khá mạnh. Có hơn 80% nghiệp vụ ngân hàng và hơn 85% giao
dịch của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được thực hiện bằng máy tính và
các ứng dụng CNTT hiện đại
Một số ngân hàng Việt Nam cũng triển khai Internet Banking nhưng chủ
yếu ở dịch vụ hỏi đáp thông tin tài khoản. Với dịch vụ này, chỉ cần qua
Internet khách hàng có thể thực hiện một số giao dịch mà không cần trực tiếp
đến các phòng giao dịch của Techcombank: quản lý các giao dịch tài khoản
và tra cứu thông tin về tài khoản; thực hiện thanh toán chuyển khoản trực
tuyến; tra cứu các khoản vay và khoản tiết kiệm với ngân hàng; liên hệ trực
tuyến với ngân hàng và đăng ký sử dụng sản phẩm, dịch vụ trực tuyến…