Tiểu Luận Tình hình phát triển chăn nuôi Việt Nam, triển vọng và thách thức - Pdf 26

I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong 10 năm gần đây, tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi
của Việt Nam đã có bước tiến bộ rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Các
hệ thống chăn nuôi trong khu vực dự án được thống nhất chung trong hệ
thống canh tác rất truyền thống. Các loại hệ thống canh tác và vai trò của
vật nuôi trong các hệ thống này khá đa dạng tuỳ theo các điều kiện xã hội,
kinh tế, sinh thái và các nhóm người dân tộc thiểu số. Vật nuôi tham gia
vào quá trình sản xuất ngành trồng trọt (làm đất, phân bón), an toàn lương
thực và mặt khác chúng sử dụng các nguồn không sử dụng tới ủng hộ nhân
dân và của chung (phần còn lại của cây trồng, các vùng đấttrống của công
cộng để chăn nuôi, v v ) để tạo thêm và tích luỹ vốn, và biểu hiện cho sự
khá giả. Trâu và bò được nuôi để cho sức kéo, thịt, phân bón và để bán con
giống. Tại những vùng xa xôi hẻo lánh, trâu và bò thường được giữ như
một loại “ngân hàng vật nuôi” của hộ gia đình để bán và khi cần tiền mặt
để trang trải các khoản như chi phí giáo dục, y tế và dùng cho các dịp kỷ
niệm như lễ hội, đám cưới và đám tang. Lợn được nuôi để bán, để ăn trong
gia đình và cũng như dùng cho các dịp lễ tết. Gia cầm (gà và vịt) phổ biến
là thả vườn thường là tự bới tìm thức ăn và cũng là một nguồn cung cấp
chất đạm và tiền mặt. Cũng có khi dê được nuôi để lấy thịt. Chăn nuôi là
một nguồn vốn dự trữ và các đàn vật nuôi là một khoản rất dễ chia thừa kế.
Bên cạnh những hoạt động sản xuất tiêu dùng trong nước, chăn nuôi cũng
mang lại hiệu quả kinh tế cao từ xuất khẩu sang các nước.
Mặc dù hoạt động sản xuất chăn nuôi đóng góp đáng kể cho an toàn
lương thực và năng suất trang trại, ấn tượng chung là phần lớn các nông
dân nghèo trong khu vực dự án có kỹ năng chăn nuôi tương đối thấp.
Không có truyền thống sản xuất chăn nuôi và gây giống đầu tư thâm canh,
và các nguồn lực cần thiết cho kiểu hệ thống sản xuất này rất hạn chế.
Thiệt hại do các loại bệnh dịch trong chăn nuôi rất cao. Vì vậy, chăn nuôi
- 1 -
tốt hơn, cải thiện sức khoẻ vật nuôi, quản lý khu chăn nuôi, cũng như khả
năng tiếp cận với tài chính vi mô là những nhu cầu chính cần phải làm rõ.

- Đối với chăn nuôi đại gia súc
+ Đàn bò năm 1992 có 3.193,8 ngàn con, trong đó khoảng 12% bò
lai Sind. Từ năm 1994, Bộ Nông nghiệp và PTNT có chương trình cải tạo
bò Việt Nam đã nâng tỷ lệ lai Sind lên 25%. Sau khi chương trình kết thúc
vào năm 1998, tình hình cải tạo chất lượng đàn bò theo hướng Sind hoá
chậm lại. Đến nay, theo đánh giá của các chuyên gia chưa đạt 28%/tổng
đàn. Bò lai Sind có khối lượng trung bình ở con cái 210-230kg/con; ở con
đực 240-260kg/con. Bò vàng Việt Nam có khối lượng 180kg ở con cái;
200kg ở con đực.
Bảng 1. Số lượng đàn gia súc

m
Trâu Bò Lợn Gà Vịt,
ngan

(1000
con)
Tổng
số
(con)

sữa
(con)
(1000
con)
(1000
con)
ngỗng
(1000
con)

3
16.921 112.788 38.617 512,8
199
8
2.951,
4
3.987,
3
26.64
5
18.132 126.361 41.529 514,3
199
9
2.955,
7
4.063,
5
29.40
1
18.886 135.760 43.563 516,0
200
0
2.897,
2
4.127,
9
34.98
2
20.194 147.050 50.996 543,9
200

- 4 -
2000 1.835.923 1.408.961 140.449 3.708,6 52.172
2001 1.989.291 1.513.279 153.410 4.161,8 64.703
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2002
- Đối với bò sữa năm 1992 có 13.080 con; năm 1999 có 29.401 con;
năm 2000 có 34.982 con. Từ khi Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT có
chương trình phát triển giống bò sữa (1999) đàn bò sữa đã tăng nhanh:
41.241 con (2001); dự kiến đến hết năm 2002 đàn bò tăng lên 54.000 con.
Như vậy, trong vòng 1 năm đàn bò tăng thêm 13.000 con bằng cả giai
đoạn 20 năm (1973-1992). Và trong năm 2000-2002 tăng 20.000 con bằng
cả giai đoạn 1992-2000. Năng suất sữa bò hiện nay đạt 2800-3700kg/chu
kỳ. Trung bình toàn đàn đạt 3400-3500kg/chu kỳ đối với bò lai F1, F2 và
F3 giữa lai Sind với bò Holstein Friesian. Bò thuần HF có sản lượng sữa
3850kg-5000kg/chu kỳ. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy có triển vọng
đạt 3800-4000kg/chu kỳ đối với bò lai F2 3/4 và F3 7/8 Holstein Frisian ở
các vùng đồng bằng. Hai vùng Mộc Châu và Lâm Đồng, nhất là vùng Lâm
Đồng có triển vọng nuôi bò đạt năng suất sữa 4500-7000kg/chu kỳ đối với
bò Holstein Friesian.
- Đàn trâu Việt Nam năm 1990 có 2854 ngàn con, năm 1994 tăng lên
2977 ngàn con (1994). Từ đó giảm dần còn 2819 ngàn con vào năm 2001.
Xu thế đàn trâu còn tiếp tục giảm.
- Đàn dê hiện có 569 ngàn con (2001) đang góp phần cho các hộ
chăn nuôi nghèo ở Trung du, miền núi có thêm thu nhập góp phần xóa đói
giảm nghèo.
1.2. Thức ăn chăn nuôi
Thức ăn chăn nuôi chiếm 70% chi phí giá thành sản phẩm chăn nuôi.
Do đó nghiên cứu và đầu tư công nghệ cho chế biến thức ăn chăn nuôi
trong 6 năm gần đây được quan tâm nhiều hơn. Các phương pháp nghiên
cứu hiện đại nhằm đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, công nghệ
- 5 -

lợn, gen Kappacasein và
β
-lactoglobulin trên bò. Một số gen hóc môn sinh
trưởng và sinh sản của gà và lợn góp phần chọn lọc cải tiến di truyền chất
lượng giống lợn và bò sữa của Việt Nam.
- ứng dụng công nghệ lên men để bảo quản phụ phẩm nông nghiệp
và thủy sản làm thức ăn cho chăn nuôi, sử lý chất thải chăn nuôi làm giảm
ô nhiễm môi trường và tạo nguồn khí đốt Biogas cũng là thành tựu của
việc ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.
2. Những thách thức đối với ngành chăn nuôi nước ta
2.1. Giá thức ăn gia súc cao, chất lượng thức ăn chưa được kiểm soát
Chi phí thức ăn trong giá thành sản phẩm chăn nuôi chiếm 70%. Do
vậy, giá thức ăn cao hơn các nước trong khu vực đã tác động bất lợi cho
phát triển chăn nuôi của Việt Nam.
- Nhìn chung giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đã giảm đáng kể
12% (cho 2 năm 2000-2001 do Nhà nước bỏ thuế nhập khẩu khô dầu đỗ
tương xuống 0%; thuế VAT được giảm từ 10% xuống 5%; lãi vay tín dụng
giảm ). Ví dụ: giá thức ăn cho lợn vỗ béo điều tra của IFDRI - Bộ Nông
nghiệp và PTNT, 1999 là 2.830 đồng/kg. Giá thức ăn tương tự của
Malaysia 175 USD/tấn = 2.625 đồng/kg, Việt Nam đắt hơn 7,8%; của
Philippine: 208 USD/tấn = 3.120 đồng/kg, trong trường hợp này ở Việt
Nam thức ăn chăn nuôi có giá rẻ hơn. Thức ăn hoàn chỉnh cho gà con ở
Việt Nam quý II/1999: 3840 đồng; năm 2002: 3700 đồng/kg; ở
- 7 -
Malaysia: 213 USD/tấn = 3200 đồng/kg, ở Việt Nam đắt hơn 15,6% so
với Malaysia.
- Chất lượng thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam do 136 nhà máy sản xuất
ra hiện nay có chất lượng rất khác nhau và giá bán cũng rất khác nhau.
Phần lớn các xí nghiệp nhỏ có chất lượng thức ăn chăn nuôi thấp.
- Theo tính toán, chỉ có thể khắc phục được trở ngại này nếu giảm

2.4. Trong thập niên tới về cơ bản nước ta vẫn không tránh khỏi tình
trạng thiếu nghiêm trọng nguyên liệu thức ăn dùng cho chăn
nuôi
Trong 10 năm qua, hàng năm chúng ta phải nhập 30-40% nguyên liệu như
ngô, 80% nguyên liệu khô dầu đỗ tương, 50% nguyên liệu bột cá và các
loại thức ăn bổ sung như premix, axit amin tổng hợp. Theo dự báo của Cục
Khuyến nông và Khuyến lâm đến năm 2005 nhu cầu thức ăn tinh cho chăn
nuôi 10 triệu tấn, trong đó nước ta tự sản xuất được khoảng 7,6 triệu tấn
và cần nhập 2,4 triệu tấn. Đến năm 2010 nhu cầu thức ăn tinh sẽ gấp 1,6
lần con số nêu trên (khoảng 16-17 triệu tấn), trong đó trong nước ước đoán
chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu.
2.5. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi vẫn còn gặp khó khăn
- Thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đắt hơn trung bình của thế giới
khoảng 16% và so với khu vực 13%, do đó giá thành sản phẩm chăn nuôi
cao hơn.
Nhu cầu tiêu dùng thực phẩm thịt, trứng, sữa trong nước tuy vẫn tiếp
tục gia tăng do thu nhập của người dân tăng. Song giữa người sản xuất,
người giết mổ và người tiêu thụ sản phẩm vật nuôi có khoảng cách, thiếu
thống tin. Người chăn nuôi phải bán lợn hơi với giá thấp, còn người tiêu
thụ thực phẩm bị mua giá lại cao, chênh lệch đó người giết mổ hưởng lợi.
- 9 -
Trong khi đó thị trường nước ngoài sẽ càng có sự cạnh tranh gay gắt hơn
nhất là từ 2006 khi Hiệp định AFTA có hiệu lực hoàn toàn. Vì vậy rất cần
thiết cung cấp thông tin, tổ chức lại theo hệ thống giống từ chăn nuôi đến
giết mổ, tiệu thụ sản phẩm chăn nuôi.
2.6. Tình hình dịch bệnh vẫn là mối đe doạ tiềm tàng đối với vật nuôi
Một số bệnh truyền nhiễm như lở mồm long móng trâu, bệnh tụ
huyết trùng, bò, lợn, bệnh tiêu chảy ở lợn giai đoạn nhỏ, bệnh Newcattle,
Gumboro ở gà, bệnh dịch tả ở vịt v.v vẫn là những nguyên nhân gây rủi
ro và thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, nếu đàn gia súc gia cầm không

năm 2005 và 75 quả/đầu người năm 2010. Đưa đàn lợn lai nhiều máu
ngoại đạt tỷ lệ nạc cao. Theo đánh giá của chúng tôi số gia cầm có thể lên
trên 400 triệu con; ngược lại số lượng trâu có thể giảm còn 2,7 triệu con
năm 2005 và 2,5 triệu con vào năm 2010.
Bảng 3. Dự kiến chỉ tiêu đầu gia súc, gia cầm từ 2000- 2005 và 2010
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2000
Năm
2001
Năm
2005
Năm
2010
Lợn 1000 con 19.500 20.000 24.000 30.000
Gia cầm 1000 con 197.000 220.000 297.000 350.000
Bò 1000 con 4.146 4.220 4.200 4.600
Trong đó bò
sữa
1000 con 32 33 100 200
Trâu 1000 con 2.950 2.960 3.000 3.000
Dê 1000 con 500 530 650 800
Ong 1000 đàn 300 340 500 800
Tằm 1000 ổ 420 450 850 1.200
Nguồn: Cục Khuyến nông - Khuyến lâm

Việc xuất khẩu 50-100.000 tấn thịt xẻ các loại (tương đương 75-150
ngàn tấn thịt hơi trong tổng số 3,6 triệu tấn thịt hơi trong năm 2010, chiếm
- 11 -
4-5% tổng số thịt sản xuất ra) vào năm 2005 và 2010 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT thể hiện thị trường nội địa là quan trọng trong hướng tương lai

các trung tâm này tiếp tục năng động cải tiến, đầu tư nâng cao tiến bộ di
truyền giống, tạo giống mới, nâng cao năng lực cạnh tranh.
w Một số trại giống thuần, cụ kỵ, ông bà được đánh giá là có chất
lượng tốt, nếu bị lỗ thì cần giải quyết theo 2 hướng:
- Nhà nước trợ giá theo số lượng giống ông bà, bố mẹ thực tế cung
cấp cho các trại phía dưới theo hệ thống giống hình tháp.
- Mặt khác, trại giống gốc này tự nhân cấp bố mẹ để cung cấp cho
sản xuất nhằm giảm lỗ (sản xuất ít giống ông bà hơn). Đồng thời, khuyến
khích các trại giống gốc này sản xuất tinh, sản xuất lợn đực để cung cấp
cho các trạm thụ tinh nhân tạo các địa phương.
4.2. Chính sách liên quan đến sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi
- Tăng cường kiểm tra, thanh tra chất lượng thức ăn chăn nuôi. Tăng
cường năng lực cho các phòng phân tích để tham gia đánh giá chất lượng
thức ăn chăn nuôi. Đồng thời đưa ra một số tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn
quốc gia về thức ăn chăn nuôi; chính xác trong đăng ký nhãn hiệu thức ăn.
- Tạo nguồn nguyên liệu thức ăn với giá thành hạ. Tạo điều kiện để
người sản xuất ngô lai trong nước, nâng sản lượng từ 2133 ngàn tấn (trong
đó dành cho chăn nuôi ước 1,2 triệu tấn) tăng lên 5 triệu tấn cho chăn nuôi
vào năm 2010. Nếu sản xuất ngô trong nước không đủ, cho phép nhập
khẩu lúc trái vụ và với mức thuế suất 0%. Mức thuế này là tương đương
với các nước trong khu vực đang áp dụng.
- Hỗ trợ nghiên cứu dinh dưỡng vật nuôi và khuyến nông trong áp
dụng sản xuất, chế biến và sử dụng thức ăn chăn nuôi khoa học và hợp lý.
4.3. Chính sách liên quan đến vệ sinh thú y và chế biến sản phẩm chăn
nuôi
- 13 -
- Tăng cường vác xin phòng bệnh theo quyết định 166 và 167 của
Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2001 đối với một số bệnh truyền nhiễm
ảnh hưởng đến kinh tế chăn nuôi.
- Đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm chẩn đoán thú y vùng và đào

sinh học của vật nuôi và chu kỳ quay vòng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và
mua con giống cho hình thức đầu tư chăn nuôi thâm canh tập trung này.
4.7. Chính sách cho công tác nghiên cứu khoa học và khuyến nông
- Tăng cường năng lực cho các phòng thí nghiệm
- Đào tạo cán bộ nghiên cứu và khuyến nông viên
- Ưu tiên cho nghiên cứu theo chương trình dự án trọng điểm, theo
hướng đi thẳng vào công nghệ cao, hiện đại nhưng phù hợp với điều kiện
thực tế Việt Nam như: nghiên cứu giống cao sản, nghiên cứu trang thiết bị
chuồng trại, tiểu khí hậu chuồng nuôi (theo phương pháp làm mát đối với
vật nuôi sinh sản ). Nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn theo hướng: cân bằng
acid amin, vitamin, khoáng, năng lượng, nghiên cứu tiêu hoá hấp thu bằng
phương pháp hiện đại.
- Nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin để quản lý giống bò sữa,
bò thịt giống gốc và giống lợn cụ kỵ, ông bà.
- Nghiên cứu chế biến sản phẩm chăn nuôi, đảm bảo an toàn thực
phẩm trên cơ sở phát triển nền nông nghiệp hữu cơ.
- Nghiên cứu hiệu quả kinh tế, hệ thống chăn nuôi, thị trường tiêu thụ
sản phẩm chăn nuôi. Từ đó rút ra cơ sở khoa học đề ra chính sách kinh tế,
thị trường liên quan đến lĩnh vực chăn nuôi.
- 15 -
III. KẾT LUẬN
Ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam trong 10 năm qua được đầu tư ít,
chỉ chiếm 4,0% so với tổng đầu tư cho nông nghiệp. Tuy vậy, tốc độ phát
triển chăn nuôi đạt 4,4%/năm, tương đương tốc độ phát triển của trồng trọt
(4,4%/năm) và cao hơn tốc độ phát triển dịch vụ nông nghiệp (3,2%)/năm,
đóng góp 19% giá trị sản xuất nông nghiệp trong nông nghiệp với giá trị
tổng sản phẩm năm 2000 là 24.960 tỷ đồng (tương đương 1,65 tỷ USD).
Các chính sách liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nghị quyết
số 6-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ chính trị đưa chăn nuôi thực sự trở
thành ngành sản xuất chính; Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status