tiểu luận vận dụng quan điểm của đảng về đối ngoại để chứng minh sự hội nhập quốc tế là cần thiết và tất yếu của nước ta hiện nay,liên hệ với sinh viên cao đẳng nghề - Pdf 26

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động
và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động
lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp
độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở
thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và
đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của
hầu hết các quốc gia để phát triển. Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã trở thành
ngôn từ khá thân quen với hầu hết người Việt Nam. Trong công sở, nhà trường, ở quán
nước trên hè phố, thậm chí cả ở thôn quê, người ta đều sử dụng nó một cách rất thông
dụng. Tuy vậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu
nó một cách đầy đủ và ngọn nghành thì chẳng có mấy người. Giới học thuật và những
nhà hoạch định chính sách cũng còn hiểu rất khác nhau và vẫn tiếp tục tranh luận về
nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh nước ta đang “tích cực, chủ
động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua,
việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu hướng vận động cũng như hệ lụy
của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng
chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập.
Để đóng góp vào cuộc thảo luận nói trên, bài viết này đề cập một số khía cạnh về lý
luận và thực tiễn của khái niệm hội nhập quốc tế, tập trung vào vấn đề định nghĩa và
xác định bản chất, nội hàm, các hình thức và tính chất của hội nhập quốc tế; phân tích
tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tế như là một xu thế lớn của thế giới hiện đại.
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng
giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác. Những năm gần
đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng
ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dầu
vậy, cho đến nay vẫn không có một định nghĩa nào về khái niệm “hội nhập quốc tế”
giành được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và cả giới làm chính sách ở Việt
Nam. Từ các định nghĩa khác nhau nổi lên hai cách hiểu chính. Thứ nhất, cách hiểu
hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sự tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực. Thứ
hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế” là sự mở cửa và tham gia vào mọi mặt của

phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực/ngành) và hình thức (song phương, đa phương, khu
vực, liên khu vực, toàn cầu) rất khác nhau.
Kế thừa đường lối đối ngoại của 25 năm đổi mới, đường lối đối ngoại Ðại hội XI có
những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới, thể hiện ở những nội dung chính
dưới đây: Thứ nhất, về mục tiêu của đối ngoại, văn kiện Ðại hội XI nêu: 'Vì lợi ích
quốc gia, dân tộc'. Cùng với lợi ích quốc gia dân tộc, Ðại hội XI cũng đặt mục tiêu đối
ngoại là 'vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh'. Hai mục tiêu này thống
nhất với nhau. Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở cơ bản để xây dựng một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu
mạnh là phù hợp lợi ích quốc gia dân tộc và là điều kiện cần để thực hiện các lợi ích
đó. Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại 'vì lợi ích quốc gia, dân tộc' được nêu rõ trong
phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị tại Ðại hội Ðảng. Nói như vậy
không có nghĩa Ðảng ta chưa từng xác định mục tiêu đối ngoại là vì lợi ích quốc gia,
dân tộc. Từ khi Ðảng ra đời, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn luôn là mục tiêu phấn đấu
của Ðảng ta. Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định 'Lợi ích cao nhất
của Ðảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây
dựng và phát triển kinh tế'. Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh 'bảo vệ lợi
ích quốc gia, dân tộc' là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.Tuy nhiên, việc nêu rõ lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối
ngoại trong văn kiện Ðại hội XI của Ðảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ
hơn định hướng: Ðảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi
ích quốc gia, dân tộc, từ đó tái khẳng định sự thống nhất và hòa quyện giữa lợi ích của
giai cấp và lợi ích của dân tộc. Khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối
ngoại cũng có nghĩa là Ðại hội đặt lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắc cao nhất của
các hoạt động đối ngoại. Nói cách khác, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên
tắc mà tất cả các hoạt động đối ngoại, từ ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Ðảng đến
ngoại giao nhân dân, đều phải tuân thủ.
Thứ hai, về nhiệm vụ của công tác đối ngoại, văn kiện Ðại hội XI nêu rõ: 'Nhiệm vụ
của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn

khả năng tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài. Cùng với hội nhập kinh tế,
hội nhập trong các lĩnh vực khác sẽ tạo cơ hội lớn hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên
tiến của nhân loại, gia tăng mức độ đan xen lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở
thành bộ phận hữu cơ của khu vực và thế giới, chiếm vị trí ngày càng cao trong nền
kinh tế, chính trị và văn hóa toàn cầu. Hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực cũng tạo cho
chúng ta khả năng tận dụng được sự tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau giữa hội nhập
trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, từ hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác trong
các lĩnh vực khác chuyển sang hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực đặt ra cho
chúng ta một số thách thức mới. Tác động tiêu cực từ các diễn biến bên ngoài sẽ gia
tăng. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh, chính trị, xã hội từ bên
ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta; các loại tội phạm xuyên biên giới như:
Buôn bán ma túy, rửa tiền, thâm nhập tiền giả, tài liệu phản động, văn hóa phẩm
không lành mạnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể gây tác hại
đến mọi mặt của an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị xã hội.
Phạm vi và tốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng. Ðồng thời, yêu
cầu bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia,
phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, v.v sẽ ngày càng
lớn.Theo đó, để giảm các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội từ hội nhập
quốc tế, nội hàm và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an
ninh và văn hóa-xã hội cần phải được xác định phù hợp với thế, lực của đất nước và
bối cảnh tình hình đất nước sao cho hội nhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu
phát triển, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và vị thế quốc gia.Từ đường lối đối ngoại
trên cơ sở tuyên bố 'muốn là bạn', 'là bạn, là đối tác tin cậy', Ðại hội Ðảng lần thứ XI
hoàn chỉnh và bổ sung thêm cụm từ là 'thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng
quốc tế'. Nội hàm này thể hiện bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự
tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế/tổ
chức/diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu (ngoại giao đa phương), góp phần củng
cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, bổ sung, hỗ trợ hiệu quả cho
ngoại giao song phương. Nội hàm mới này là một trong những cơ sở để xác định một
trong những ưu tiên đối ngoại trong thời gian tới là 'xây dựng Cộng đồng ASEAN

châm ưu tiên trong triển khai đối ngoại, Ðại hội XI sẽ tạo ra nhận thức và đồng thuận
lớn hơn trong Ðảng và nhân dân về tính chất mới của sự nghiệp đối ngoại cũng như
nêu rõ hơn yêu cầu tham gia tích cực và chủ động hơn của mọi lực lượng trong hoạt
động đối ngoại, đồng thời đưa tới những bước tiến mạnh hơn theo hướng thống nhất
chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Ðảng, Nhà nước, các bộ/ngành và địa phương. Với
những bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại Ðại hội XI, chúng ta càng tin
tưởng chắc chắn rằng, sự nghiệp đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Ðảng sẽ tiếp tục thu
được những thắng lợi mới. Tuy nhiên, để đường lối sớm đi vào cuộc sống, cần phải có
nỗ lực vượt bậc trong tất cả các khâu, từ cụ thể hóa đường lối thành chính sách đến
xây dựng và triển khai chiến lược, kế hoạch, đề án đối ngoại. Là binh chủng chủ lực
trong đối ngoại, Ðảng bộ Bộ Ngoại giao đã và đang triển khai học tập nghị quyết Ðại
hội XI trong toàn thể Ðảng bộ và cán bộ của bộ; tổ chức nghiên cứu để đóng góp vào
quá trình cụ thể hóa đường lối đối ngoại, nhất là những vấn đề liên quan đến việc xác
định nội hàm, xây dựng lộ trình hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực chính trị, an ninh,
quốc phòng, văn hóa, xã hội. Bộ Ngoại giao cũng đang triển khai kế hoạch nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ của bộ, phối hợp với các địa phương bồi dưỡng kiến thức đối
ngoại cho các cán bộ đang công tác tại cơ quan ngoại vụ các tỉnh, thành phố; đồng
thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai định hướng 'thường xuyên bồi
dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp' đã được Ðại hội XI thông qua.
Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng, phối hợp chặt chẽ với các
ngành, các cấp, các địa phương, Bộ Ngoại giao sẽ nỗ lực vượt bậc, góp phần thực hiện
thành công đường lối đối ngoại Ðại hội XI. Hơn 25 năm đổi mới vừa qua, nước ta đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đây là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, trải
nghiệm và đổi mới tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực; trong đó, có đối ngoại quốc
phòng. Nếu như ở Đại hội IX, Đảng ta xác định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực”,thì Đại hội X, Đảng đã bổ sung: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và đến Đại hội XI,
Đảng ta đã phát triển chủ trương này thành: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Như vậy, Hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế, mà được mở rộng
trên các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực quốc phòng, an ninh và được thể hiện rõ

pháp hòa bình. Trong thời gian tới, trên cơ sở quán triệt tư duy mới của Đảng về chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại quốc phòng cần thúc đẩy các
mối quan hệ quốc phòng cả song phương, đa phương phát triển theo chiều sâu, nhằm
nâng cao hiệuquả và tính bền vững của các mối quan hệ mang tính chiến lược
Quan điểm của Đảng ta về kinh tế đối ngoại giai đoạn hiện nay
Một là, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên tình thần giữ vững độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo vệ môi trường.
Hai là, thực hiện nhất quán phương châm Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu
vực; thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, song không để
bất cứ quốc gia nào, tập đoàn kinh tế nước ngoài nào chiếm vị thế độc quyền ở bất kỳ
lĩnh vực nào trong nên kinh tế nước ta.
Bà là, hội nhập kinh tế phải dựa trên cơ sở vững vàng về chính trị, ổn định về kinh tế,
phát huy tối đa nội lực , phát triển nền kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế đất nước, của từng ngành và của mỗi doanh nghiệp.
Bốn là, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải kiên trì và giữ vững phương
châm bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại.
Năm là, phải luôn đề cao cảnh giác trước những âm mưu của các thế lực thù địch.
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ
giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với
nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các
quốc gia-dân tộc. Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế
lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường
đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc
tế thống nhất. Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói
riêng và hội nhập quốc tế nói chung.
Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ
ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu

tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực
của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới .
Tuy nhiên, hội nhập không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước
trước nhiều bất lợi và thách thức, trong đó đặc biệt là:
Một, hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành
kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt kinh tế-xã
hội.
Hai, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài
và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường
quốc tế.
Ba, hội nhập không phân phối công bằng lơi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm
khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu-nghèo.
Bốn, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào các ngàng sử
dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp. Do vậy, họ
dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.
Năm, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước (theo quan
niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việc duy trì an ninh và
ổn định ở các nước đang phát triển.
Sáu, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị
xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.
Bảy, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố
quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp…
Như vậy, hội nhập đồng thời đưa lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước. Tuy nhiên,
không phải cứ hội nhập là đương nhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích và gánh mọi
bất lợi như đã nêu trên. Các lợi ích và bất lợi nhìn chung ở dạng tiềm năng và đối với
mỗi nước một khác, do các nước không giống nhau về điều kiện, hoàn cảnh, trình độ
phát triển… Việc khai thác được lợi ích đến đâu và hạn chế các bất lợi, thách thức thế
nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi

hiểu thông lệ quốc tế và khả năng sử dụng tiếng Anh tốt. Tiếp tục duy trì và phát triển
các mối quan hệ hợp tác quốc tế đã có, chủ động mở rộng mối quan hệ hợp tác mới
với các tổ chức, các viện/trường ngoài nước theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá
trong hợp tác. Sau khi cơ sở 2 của trường được sử dụng, nhà trường chủ động tiếp
nhận các chương trình hợp tác đào tạo có chất lượng, liên kết đào tạo ở các bậc học
theo định hướng hội nhập quốc tế, trao đổi chuyên gia và sinh viên trong công tác
giảng dạy và học tập, phát huy tối đa khả năng trong công tác đào tạo, nghiên cứu
khoa học và các chương trình giao lưu biểu diễn nghệ thuật với các nước trên thế giới.
Tóm lại, trong thời kì hội nhập và xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, hoạt động hợp
tác quốc tế đã và đang trở thành một động lực quan trọng trong quá trình phát triển
của các trường đại học, cao đẳng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status