Vệ sinh nhà ở (4/0)
Khoa YTCC - ĐHYHP
MỤC TIÊU
1. Trình bày được các đặc điểm vệ sinh vi khí hậu nhà ở
2. Trình bày được yêu cầu vệ sinh trong thiết kế, xây dựng nhà ở
3. Trình bày được khái niệm, triệu chứng và nguyên nhân của hội chứng nhà
kín SBS
4. Trình bày được các biện pháp dự phòng giảm thiểu ảnh hưởng của yếu tố
nguy cơ nhà ở không hợp vệ sinh đến sức khỏe.
NỘI DUNG
Từ lâu con người đã biết mối liên quan chặt chẽ giữa nhà ở và tình
trạng bệnh tật. Con người dành khoảng 1/3-2/3 thời gian trong 1 ngày để sinh
hoạt, nghỉ ngơi ở trong nhà ở. Nhà ở chính là áo giáp chắc chắn do con người
tạo nên để che chở cho cơ thể khỏi bị tác động có hại của môi trường thiên
nhiên xung quanh: mưa, nắng, bão, gió, nóng, lạnh và dã thú…Trong nhà ở,
con người tự tạo cho mình những điều kiện sống phù hợp nhất với sinh lý và
sức khoẻ. Tuy nhiên, nhà ở không phải là cái hộp kín tách rời khỏi thiên nhiên
mà là một bộ phận của tự nhiên được chọn lọc và hoàn chỉnh bởi bàn tay con
người. Nhà ở phải hoà hợp hữu cơ với môi trường tự nhiên xunh quanh.
Nhà ở sáng sủa, rộng mát thoáng, hợp vệ sinh sẽ làm cho con người
chóng hồi phục sức khoẻ sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt nhọc, tạo cho
con người cảm giác sảng khoái, dễ chịu, hạn chế lây lan các bệnh truyền
nhiễm… Nhà ở chật hẹp, ẩm thấp, thiếu ánh sáng, lưu thông không khí kém là
một trong những nguyên nhân làm cho con người có cảm giác mệt mỏi, nhức
đầu, khó ngủ, rối loạn điều hoà thân nhiệt, giảm chức năng tim mạch, hô hấp,
đau xương khớp… Nhà ở kém vệ sinh còn là điều kiện thuận lợi cho việc lây
lan và phát triển các bệnh truyền nhiễm như lao, bạch hầu, cúm, giun sán, viêm
họng…
Tổ chức Y tế Thế giới (1985) đưa ra 9 yêu cầu về nhà ở để đảm bảo
sức khoẻ cho dân cư:
1
Nhiệt độ thích hợp trong nhà ở về mùa hè là: 22 - 24
0
C.
1.2. Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí thích hợp trong nhà ở là 30 - 60%. Ở nước ta dưới
85% là tiêu chuẩn đề nghị.
2
Độ ẩm không khí quá cao hay quá thấp cùng với nhiệt độ không khí quá
cao hay thấp sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trạng thái nhiệt và tình trạng sức khoẻ
của con người.
1.3. Chuyển động của không khí
Sự chuyển động không khí là rất cần thiết đối với con người trong nhà ở.
Không khí thông khí có ảnh hưởng không tốt đến sự trao đổi chất và
trạng thái nhiệt của cơ thể, gây cảm giác không thoải mái.
Khi không khí chuyển động, làm bay hơi mồ hôi, thải nhiệt trong cơ thể.
Tình trạng sức khỏe con người bị ảnh hưởng không tốt khi ở lâu trong
nhà không thoáng khí.
Gió thích hợp trong nhà ở là 0,3 m/s.
1.4. Bức xạ
Trong nhà ở, bức xạ chiếu sáng là chính, không nên có bức xạ nhiệt.
2. Yêu cầu vệ sinh khi thiết kế, xây dựng nhà ở
2.1. Nền nhà
Khu đất chọn làm nền nhà cần cao ráo, bằng phẳng, nền nhà làm trên đất
đồi sỏi, đất cát và đất pha cát thì sẽ khô ráo, tường sẽ không bị ẩm. Nếu nơi làm
nền nhà là đất sét, mạch nước ngầm ở nông (vùng đồng bằng) thì phải đắp nền
cao; cần đổ thêm cát, sỏi, gạch vỡ, đá… vào móng tường để chóng ẩm tường.
Độ cao tối thiểu của nền nhà cần bằng 30cm. Đất nền nhà cần nện kỹ. Nền
được láng bằng xi măng hoặc lát gạch thì càng tốt.
Tuỳ theo địa hình và khí hậu của khu vực, lúc làm nền nhà, cần chọn
hướng nhà thích hợp, đối với vùng đồng bằng nên chọn nhà hướng nam, đông
. Hàm lượng CO
2
trong không khí khí quyển
bình thường từ 0,3-0,4lít/m
3
không khí. Lượng không khí cần thiết đối với nhà
ở có thể tính theo công thức sau: L= (m
3
/giờ)
L: lượng không khí cần thiết (m
3
/giờ)
K: lượng CO
2
thải ra của một người (lít/giờ)
N: số người trong nhà
P2: lượng CO
2
cho phép (lít/m
3
)
P1: lượng CO
2
trong không khí (lít/m
3
)
Đối với nhà ở, giới hạn CO
2
cho phép là 0,7 lít/m
3
đối với việc tạo ra những điều kiện vi khí hậu dễ chịu, phù hợp với sức khoẻ
của con người ở trong nhà. Nếu không có biện pháp thông thoáng gió tốt,
phòng ở càng nhiều người, không khí ở trong phòng càng bị ô nhiễm nặng, cụ
thể là:
a. Nồng độ khí CO
2
trong không khí ngừng tăng lên
Mỗi giờ mỗi người thải ra 20,6lít CO
2
. Đun nấu, thắp đèn, nến…. còn
làm cho CO
2
trong phòng tăng thêm nữa. Dựa vào số lượng CO
2
thải ra trong
phòng mỗi giờ để tìm hệ số thoáng khí cần thiết, tức là số lần toàn bộ thể tích
không khí có ở trong phòng cần phải trao đổi với bên ngoài.
b. Lượng hơi nước trong không khí ở trong phòng sẽ càng nhiều, không khí
thở ra có độ ẩm là 100%. Con người thải hơi nước ra ngoài qua không khí thở,
mồ hôi bay hơi, áo quần ẩm ướt… nhiệt độ không khí càng cao thì lượng mồ
hôi do con người thải ra trong phòng càng nhiều, ngày trong trạng thái hoàn
toàn dễ chịu về nhiệt mỗi người một phút đều mất một lượng hơi nước 1,2-
4gam hay từ 71-240gam/giờ tuỳ tính chất lao động nặng, nhẹ
(G.KH.Sakhbazan, F.M.Slesiman,1977). Lượng hơi nước trong không khí cao
làm cản trở sự thải nhiệt bằng mồ hôi, làm tăng mất nhiệt cơ thể trong mùa rét,
làm các vi khuẩn và nấm mốc trong không khí dễ tồn tại và phát triền.
c. Tăng số lượng bụi và vi khuẩn trong không khí - theo dõi số lượng vi
khuẩn trong không khí tăng dần theo thời gian ngồi học của học sinh. Cụ thể là,
trước giờ vào học, số lượng vi khuẩn trong không khí của lớp là 2.000VK/ml,
trong giờ học 15.000VK/ml. Trước giờ tan học là 35.000VK/ml.
cao. Ngoài ra, tốc độ gió của quạt quá mạnh có thể gây cảm giác lạnh. Các máy
điều hoà không khí khi lắp đặt cho một căn phòng kín có khả năng chủ động
điều hoà các điều kiện vi khí hậu ở phòng theo ý muốn nhờ điều chỉnh được
các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ chuyển động của không khí. Đây là
phương thức điều hoà không khí trong nhà ở hiện đại. Nhược điểm cơ bản của
nó là đắt tiền, yêu cầu phòng ở phải bằng gạch và có cửa sổ được đóng kín
hoàn toàn; nơi không có điện và nhà tranh thì không thể áp dụng được.
Thoáng khí tự nhiên là hình thức dùng các lực của không khí tự nhiên (lực gió
và lực nhiệt) để làm thay đổi không khí trong phòng. Không khí bên trong và
bên ngoài phòng sẽ trao đổi với nhau qua các cửa sổ, cửa ra vào, mái, kẽ
liếp…. đây là hình thức thoáng khí gắn liền với con người với không khí tự
nhiên. Điều kiện cơ bản để thoáng khí tự nhiên tốt là hướng nhà phải đúng, tức
6
là mặt nhà phải vuông góc với hướng gió chủ đạo hay ít nhất tạo với hướng gió
chủ đạo một góc 45
0
tránh đựơc gió nóng trong mùa hè, gió lạnh trong mùa
đông. Phòng có cửa sổ rộng vừa thông thoáng khí tốt vừa lấy được nhiều ánh
sáng tự nhiên vào trong phòng. Nhược điểm của thoáng khí tự nhiên là không
điều chỉnh được các yếu tố vi khí hậu ở trong phòng theo ý muốn. Thoáng khí
tự nhiên nếu biết tổ chức tốt có thể đạt được HSTK tới 10-20 lần, mỗi giờ một
trị số mà thoáng khí nhân tạo thường không mấy khi đạt tới được vì quá tốn
kém. Thoáng khí tự nhiên có thể tố chức còn được áp dụng phổ biến ở các phân
xưởng sản xuất.
Kết hợp cả hai hình thức thông thoáng khí tự nhiên và nhân tạo sẽ đem lại hiệu
quả thoáng khí cao nhất.
2.5. Chiếu sáng ở trong nhà
Ánh sáng trong nhà có ý nghĩa to lớn về phương tiện sinh lý và vệ sinh.
80-85% khối lượng thông tin về thế giới xung quanh được con người thu qua
thị giác. Ánh sáng trong nhà đầy đủ sẽ gây cho con người cảm giác sảng khoái,
2.5.2. Loại chiếu sáng
2.5.2.1. Chiếu sáng tự nhiên
Đối với Việt Nam, chiếu sáng tự nhiên là nguồn chiếu sáng chủ yếu vào
lúc ban ngày. Trị số chiếu sáng tự nhiên thường dao động trong phạm vi khá
lớn tùy thuộc vào mặt trời, độ trong suốt của khí quyển, trạng thái thời tiết và
các vị trí được chiếu sáng ở trong nhà (gần hay không gần cửa sổ). Ở ngoài trời
nắng, độ chiếu sáng có thể đạt tới 100.000lux, trong bóng râm có thể tới
10.000-20.000 lux hoặc vẫn cao tới 500 lux. Nguồn chiếu sáng tự nhiên trong
nhà ở không phải là tia nắng mặt trời mà là ánh sáng tự nhiên được khuếch tán
từ bầu trời.
Biện pháp có hiệu quả để tăng độ chiếu sáng tự nhiên trong nhà ở:
Tăng số lượng các cửa sổ và diện tích các cửa sổ. Tỉ lệ diện tích cửa
sổ trên diện tích phòng () được gọi là hệ số ánh sáng (HSAS). Các
phòng ở S phòng cần bằng 1:6- 1:8; lớp học, phòng khám bệnh, phòng
bệnh nhân 1:4- 1:8; phòng mổ 1:3.
8
Mở rộng góc ánh sáng và góc mảnh trời của các cửa sổ bằng cách:
hạn chế các vật che khuất cửa sổ, nâng cao mép trên của cửa sổ, mép
dưới cửa sổ cách nền nhà 75cm. Khoảng cách giữa các nhà theo chiều
dọc phải bằng 1,5-2,0 chiều cao của nhà cao nhất khoảng cách giữa hai
đầu hồi của nhà bằng chiều cao của nhà. Góc ánh sáng của cửa sổ ít
nhất phải bằng 270, góc mảnh trời ít nhất phải bằng 50. Điểm để tính
các góc trên là vị trí sâu nhất ở trong phòng tính tới cửa sổ gần nhất.
Tăng cường mức phản chiếu ánh sáng của tường, trần và các vật
dụng ở trong nhà bằng cách dùng các màu sắc thích hợp. Hệ số phản
chiếu ánh sáng H.S.P.C.A.S. là tỷ lệ % giữa dòng ánh sáng phản xạ với
dòng ánh sáng chiếu tới. H.S.P.C.A.S. của màu trắng là 80%, màu vàng
là 40%, màu xanh là 25% màu đen là 3%, của tôn trắng là 65-70%,
kính mờ 30-45%, tường gạch và bêtông 32%, gỗ tấm màu sáng 35-
40%.
hơn 0,06 ưu điểm của chiếu sáng tự nhiên là ánh sáng
phù hợp với sinh lý thị giác, hiệu quả chiếu sáng cao,
không tốn kém.
Nhược điểm của chiếu sáng tự nhiên là vào ngày trời mưa, trời mù
sương độ chiếu sáng ở trong nhà thường thấp. Ngoài ra, độ chiếu sáng tự nhiên
còn bị biến động mạnh, theo thời gian hàng ngày, chiều tà và sáng sớm có thể
không đủ, nhất là mùa đông.
2.5.2.2. Chiếu sáng nhân tạo
Để bổ sung cho chiếu sáng tự nhiên, trong nhà ở phải có chiếu sáng nhân
tạo. Nguồn chiếu sáng nhân tạo có thể là đèn dầu, đèn điện, đèn măng song,
đèn đất, nến. Các loại đèn đất, đèn dầu hoả, măng sông, nến không tốt bằng
điện vì khả năng toả sáng thấp hơn, dễ bị tắt khi gió mạnh, toả nhiệt nhiều và
có thoát ra các khí độc như CO
2
axetylen, hơi nước, muội đèn. Khi thắp trong
các nhà đóng kín, trong địa đạo, hang, hầm kém thoáng khí, các nguồn sáng
này có thể gây độc bầu không khí và làm giảm hàm lượng oxy để thở.
Ở những nơi có điện, loại đèn điện có dây tóc nóng đỏ hiện đang được
sử dụng rộng rãi. Loại đèn này có thể chiếu sáng trong mọi điều kiện thời tiết,
hiệu suất ánh sáng từ 7%-12%, tuổi thọ trung bình của đèn 1000 giờ (người ta
10
lấy mức phát sáng của đèn bị giảm từ 30% trở lên so với mức phát sáng ban
đầu để quy định tuổi thọ của đèn điện). Đèn điện loại dây tóc nóng đỏ có nhược
điểm là dễ gây chói mắt, hiệu suất phát quang không cao, ánh sáng phát ra có
nhiều tia đỏ không giống như ánh sáng tự nhiên ban ngày, khi cháy lâu toả ra
nhiều nhiệt. Xu hướng chung hiện nay là thay thế các đèn dây tóc nóng đó bằng
đèn huỳnh quang có chứa khí trơ, thuỷ ngân.
Các đèn huỳnh quang phát ra tia sáng trắng gần giống như ánh sáng ban
ngày, năng suất phát sáng cao (gấp 2,5-3 lần đèn dây tóc nóng đỏ, tức là từ 30-
90 lumen cho mỗi oát năng lượng điện) tuổi thọ của đèn huỳnh quang lâu tới
3.2. Các triệu chứng của hội chứng SBS
Năm 1983 (WHO) đã xác định những triệu chứng của hội chứng SBS,
bao gồm: kích thích mắt, mũi, họng, da khô, niêm mạc khô, ban đỏ, mệt mỏi
tinh thần: nhức đầu, tăng các bệnh hô hấp. Hội chứng này thường xuất hiện vài
giờ sau khi ở trong phòng và cũng chóng hết sau khi rời khỏi phòng. Các dấu
hiệu cụ thể như sau:
Mắt: bị cay, bị ngứa. bị chảy nước, sưng nặng mi mắt
Mũi: mũi bị cay (Kích thích), chảy nước mũi, tắc mũi, chảy máu cam
Họng: bị ngứa, bị khô, đau.
Da: bị khô, ngứa ở mặt, ở tay, ban đỏ
Toàn thân: Nhức đầu, buồn nôn, chán ăn, chóng mặt, mệt hoặc quá mệt
mỏi, hồi hộp (bồn chồn), khó tập trung (chú ý kém, khó nhớ), mất ngủ,
khó cử động hay đau ở cổ, ở lưng, ngực,
toàn thân.
3.3. Nguyên nhân
Sự ô nhiễm không khí nhà ở khác với sự ô nhiễm công nghiệp, chủ yếu
do sự hoạt động của con người, do thiết kế phòng, vật liệu xây dựng, đồ đạc nội
thất, không khí lưu thông. Ô nhiễm từ bên ngoài không phải là nguyên nhân
chính nhưng không khí môi trường chung có chứa nhiều chất độc hại có từ
khói bụi của khí thải xe máy, ô tô, công nghiệp cũng có thể lọt vào trong nhà ở.
Một số nơi khu nhà kín mức độ ô nhiễm cao gấp hàng trăm lần ngoài trời.
Ô nhiễm từ bên trong là chính và bao gồm:
- Các chất hóa học: đây chính là nguồn ô nhiễm chủ yếu, xuất phát tử các trang
thiết bị trong nhà như keo sơn tường, thảm trải nhà, máy pholocopy, fax, gỗ
chế biến, thuốc sát trùng, thuốc tẩy rửa, hóa chất xịt phòng, khói thuốc lá, khí
ga, lò sưởi, hơi khí thải của con người.
12
Các chất hóa học thường có là khí CO
2
, CO, O
Xe ôtô tải 5T 80 - 98 Xe ôtô buýt 64 - 90
Còi ôtô 80 - 100 Còi xe lửa 75 - 105
Tầu điện ngầm 85 - 90 Máy bay phản lực 100 - 140
13
Để chống tiếng động bên ngoài gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong nhà
ở, cần tiến hành các biện pháp sau đây:
o Tăng cường trồng cây xanh xung quanh nhà ở, cây bụi
nhỏ và lá cây đều có tác dụng tốt đối với việc làm yếu hoặc làm
phản xạ lại các sóng âm thanh.
o Vật liệu làm nhà cần có khả năng cách âm nhất định.
Tác dụng là giảm âm của các vật liệu xốp rỗng và xù xì như gạch
rỗng (2 lớp), đá ong, vôi vữa trộn rơm rạ, mùn cưa ép tương đối
tốt.
o Đóng kín cửa, che rèm, mành cũng có tác dụng làm
giảm tiếng ồn dội vào nhà.
o Quy hoạch các vùng dân cư ở xa các nhà máy và quy
định những giờ yên tĩnh bắt buộc trong các khu dân cư, nhất là ở các
chung cư.
4.2. Chống nóng
o Hướng nhà:
o Yêu cầu là tránh được sức nóng, hưởng được gió mát về mùa hè,
tránh được gió lạnh về mùa đông.
o Các cửa sổ phải được mở rộng để thông hơi, thoáng gió, hướng
gió mát, che nắng, che ánh sáng mặt trời khỏi bị chói vào những
giờ oi bức.
o Hướng nhà tốt nhất là hướng Đông Nam, sau là hướng Nam,
hướng Tây Nam nên tránh ở những vùng gió Lào, hướng Bắc là
xấu nhưng vẫn có thể sử dụng được vì mùa hè hướng này nhận ít
bức xạ, mùa đông có thể che kín được.
o Tường nhà nên sáng màu, hấp thụ nhiệt ít.
3
và sự hơi nước thải vào không khí 20 - 22 g/giờ.
- Do da người đào thải lượng nước gấp 2 - 3 lần ở trên, sinh lý nhiều mồ
hôi
- Do hoạt động của đường tiêu hóa sinh ra H
2
S, indol, CO
2
.
- Do bụi nhà cửa đặc biệt là bụi mang vi khuẩn do chuyển động không
khí trong nhà.
15
- Biện pháp:
+ Làm thoáng khí gián đoạn: mở cửa ra vào, cửa sổ, không khí bên
ngoài và bên trong biểu hiện suốt năm với một khoảng cách nhiệt độ dáng kể.
Do tỷ trọng của chúng khác nhau nên có những luồng không khí được thiết lập
duy trì sự cân bằng. Bằng cách thông gió này có lúc làm đổi mới không khí
trong vài phút. Cách làm này rất cần ở khu nhà tập thể.
+ Thông hơi liên tục: Nhờ vào những khe cửa ra vào và khe cửa sổ, nhờ
vào ống dẫn hơi, khói, thông hơi nhân tạo: máy điều hòa, quạt gió.
+ Bố trí kiến trúc trong nhà cho hợp lý để cho không khí nóng tự động ra
ngoài ở phía trên giáp trần nhà và không khí mới vào trong nhà ở phía dưới.
- Tốc độ không khí vượt qua lỗ hở vào trong nhà không vượt qua 0,5
m/s.
Như vậy, cần cải thiện chất lượng không khí trong nhà (IAQ) bằng việc
tăng cường giáo dục và thông tin.
4.4. Cung cấp đấy đủ ánh sáng trong nhả
Nhà ở thiếu ánh sáng ảnh hưởng đến thị giác, làm cho năng suất công
việc giảm. Để khắc phục tình trạng thiếu ánh sáng cho nhà ở cần phải biết sử
dụng triệt để ánh sáng thiên nhiên, đồng thời phải có ánh sáng nhân tạo bằng
chống ô nhiễm môi trường, thì các vấn đề vệ sinh môi trường sẽ rất phức tạp do
lượng các chất thải công nghiệp, thương mại và sinh hoạt đều tăng rất lớn. Vấn
đề này thường xảy ra ở các nước đang phát triển do không đủ kinh phí, phương
tiện, kĩ thuật, thiếu cán bộ kỹ thuật cần thiết và nhất là chính quyền chưa xây
dựng các pháp luật, quy chế chặt chẽ về quản lý môi trường.
Ở hầu hết các nước, một số lượng lớn dân không có đủ điều kiện để có
nhà ở đàng hoàng và đủ cơ sở hạ tầng cần thiết trên thế giới hiện nay
(WHO,1985) có khoảng 600 triệu dân cư dân đô thị và hơn 1tỉ dân nông thôn
sinh sống trong những nhà nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ, phải sống
chật chội, chung nhà và thiếu các điều kiện về các sơ sở hạ tầng như nước sạch,
môi trường không khí trong lành và chăm sóc y tế.
Ở các nước đã phát triển: nhà ở được cải thiện do đã có những quy chế
và quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị.
17
Nói chung nhân dân được tiếp tế đầy đủ nước sạch, các biện pháp vệ
sinh môi trường được thực hiện tốt. Nguy cơ về tiêu chảy và các đường hô hấp
của trẻ nhỏ thấp hơn 100 lần ở các nước đang phát triển.
Ở các nước đang phát triển, mối lo lắng lại nằm ở việc sử dụng các vật
liệu xây dựng. Trong các vật liệu xây dựng dùng cho các nhà ở (các cơ sở
thương mại, các nhà máy), amiăng- dùng để cách âm, cách nhiệt và chì- dùng
để sơn vẽ và làm các đường ống là những chất có nguy cơ gây bệnh chính.
Ngoài ra, còn có các hợp chất hữu cơ nguy hiểm khác bao gồm: alđêhit
focmic, choroforme, perchlothylene- được sử dụng trong xây dựng, trong các
đồ gỗ, bảo quản gỗ ; các chất tẩy rửa, keo dán và các dung môi, cũng như
nguyên tố phóng xạ Radon ở dạng khí được phân rã từ đất và các vật liệu xây
dựng. Các chất trên càng ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ cư dân khi điều kiện
thông khí không tốt.
Ở những khu chung cư, và căn hộ thông khí không được tốt do dùng
điều hoà khí hậu, hoặc ở các vùng lạnh do tiết kiệm năng lượng sưởi ấm, người
dân thường bị một «hội chứng nhà kín» SBS với triệu chứng như mệt mỏi kinh
như: lao, cúm, viêm màng não phát triển nhiều hơn.
Những căn nhà kém vệ sinh ở sát nhau tạo ra điều kiện thuận lợi cho các
vectơ sinh sống từ loài chân khớp như chấy rận, ghẻ, bọ chét, ruồi và muỗi
đến các động vật như chó mèo, chuột, chim các loại. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy
tăng cao ở cộng đồng và các cư dân đó.
Những đợt sốt xuất huyết và ổ dịch sốt rét lưu hành cũng thường thấy ở
khu dân cư này.
Chúng ta phải nói thêm đến ý thức của nhân dân các khu vực này quá
kém, các tập quán vệ sinh cá nhân không tốt làm gia tăng tình hình bệnh tật.
Các tổ chức y tế địa phương không thâm nhập được tới các hộ dân, phần nữa là
do giao thông không thuận tiện, lối vào các hẻm, các khu nhà quá chật hẹp gây
trở ngại cho việc cấp cứu bệnh nhân, và chữa cháy khi có hoả hoạn.
Các cư dân sống ở trong các điều kiện nhà ở như trên phần thì lo lắng
phải giải toả, phầnthi lo mưa bão cháy nhà, mức độ ô nhiễm bụi, tiếng ồn quá
cao, tình cảnh chung thiếu thốn tạo nên những stress trường diễn làm cho sức
khoẻ càng suy yếu hơn.
19
Hiện nay đất nước chúng ta đang quy hoạch các khu đô thị mới, trong đó
việc trồng các cây xanh trong thành phố có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta, từ 1/2 - 2/3 đất khu vực dân
cư cần được trồng cây xanh, vườn rau, luống hoa, thảm cỏ Ở vùng rừng núi
có sẵn bụi cây và các cây cao thì nên giữ lại ít nhất 1/3 diện tích cây xanh của
rừng tự nhiên, không nên chặt phá hết.
Ngoài những lợi ích về thẩm mỹ, kinh tế các thảm cây lá xanh còn có tác
dụng to lớn về mặt bảo vệ sức khoẻ và chống ô nhiễm môi trường xung quanh.
Bóng cây cao, thảm có, vườn hoa được bố trí một cách hài hoà khéo léo sẽ
tạo cho con người những cảm giác thoải mái dễ chịu trong lúc mệt mỏi. Nhiều
nghiên cứu đã xác nhận tác dụng tích cực của cây xanh: cải thiện điều kiện khí
tượng (giảm nhiệt độ không khí trong mùa hè, che nắng, cản gió mạnh )
chống cát bụi, hút hơi khí độc, giảm tiếng ồn, nhả oxy và kháng sinh thực vật
tay môn Khoa học môi trường - Sức khỏe môi trường.
6. Bộ môn Vệ sinh-Môi trường- Dịch tễ, Đại học Y Hà Nội, 2001. Vệ sinh-
Môi trường-Dịch tễ tập 1. NXB Y học.
7. Nhà xuất bản Oxford, 2001. Sức khoẻ môi trường. Bản dịch trường đại học
Y tế công cộng 2010
8. Bộ môn Vệ sinh-Môi trường- Dịch tễ, Đại học Y Hà Nội, 1995. Vệ sinh
môi trường tập 1. NXB Y học
9. Phân loại môi trường – Nguồn http://www.wattpad.com/139190-ph
%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng
10.Oxford University Press, 2006. Oxford handbook of public health practice.
Second edition.
11.Dade W. Moeller, 2005. Environmental Health. Third Edition. Harvard
University Press, Cambridge, Massachusetts, London, England.
12.http://engineering.dartmouth.edu/~cushman/courses/engs37/PP-
P2ranking.pdf
21