Giải pháp phát triển bền vững đi đôi bảo vệ môi trường không khí tại uông bí quảng ninh - Pdf 26

MỤC LỤC
Có rất nhiều hình thức ô nhiễm môi trường là: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, ô
nhiễm phóng xạ, ô nhiễm sóng… Ô nhiễm không khí chính là một dạng của ô nhiễm môi trường, là một
hình thức ô nhiễm rất phổ biến và có tác hại nghiêm trọng đối với cuộc sống của con người. Trong số
các loại ô nhiễm môi trường thì ô nhiễm không khí là dễ lan truyền nhất, chỉ một lượng nhỏ khí thải
độc hại được thải vào bầu không khí thì sẽ được lan truyền đi rất nhanh, tác hại trở nên rất khó kiểm
soát. Ô nhiễm không khí đặc biệt do tác động xấu của con người trong khai thác tự nhiên cũng đã kéo
theo rất nhiều những tác động nghiêm trọng khác nữa đối với đời sống của chính con người 9
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì các nước đang phát triển ngày
nay đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá trầm trọng. Thực tế
cho thấy là nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị dồn vào thế buộc phải chống lại nạn
ô nhiễm công nghiệp. Các nhà máy đang hoạt động sạch hơn so với 1 thập kỷ trước đây,
và tổng phát thải đang bắt đầu giảm kể cả ở những vùng mà công nghiệp đang tiếp tục
tăng trưởng rất nhanh. Đã bắt đầu có các hoạt động làm sạch môi trường do các nước
đang phát triển cho rằng lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm lớn hơn rất nhiều so với các
chi phí. Sự nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua các chiến lược đổi mới lôi
kéo sự tham gia của cộng đồng, các nhà đầu tư và các nhà cải cách chính sách kinh tế vào
trận chiến chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Về phần mình, những cơ sở gây ô nhiễm
cũng khám phá ra rằng không có chỗ cho họ ẩn nấp nữa và cũng chứng tỏ rằng họ cũng
có thể giảm ô nhiễm một cách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo sản xuất có lãi nếu những
người làm quản lý môi trường đưa ra những khích lệ đích đáng. Ô nhiễm công nghiệp vẫn
tiếp tục là một cái giá quá đắt đối với các nước đang phát triển nhưng không có lý do gì
để tiếp tục coi ô nhiễm công nghiệp như là cái giá phải trả cho sự phát triển. Phát triển
bền vững hơn lúc nào hết đã khẳng định trở thành sự lựa chọn chiến lược hết sức đúng
đắn.
Uông Bí là một thị xã nằm ở phía tây của vùng mỏ Quảng Ninh có trữ lượng than
đá rất lớn (690 triệu tấn, chiếm 46% lượng than toàn tỉnh Quảng Ninh). Cũng giống như
nhiều địa phương khác trong tỉnh, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp năng
lượng than, nhiệt điện thì môi trường Uông Bí đang bị ô nhiễm trầm trọng. Trong đó, ô

khí thị xã Uông Bí.
Chương 3: Một số giải pháp chống ô nhiễm môi trường nhằm mục tiêu phát triển
bền vững thị xã Uông Bí.
CHƯƠNG I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍ THỊ XÃ UÔNG BÍ
1.1. Ô nhiễm môi trường không khí với yêu cầu phát triển bền vững
1.1.1. Yêu cầu phát triển bền vững (PTBV)
Phát triển bền vững là một khái niệm được nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi
trường và ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã hội
bước vào thế kỉ 21. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống
nhất về PTBV. Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) thì: PTBV
là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn
hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
PTBV bao gồm 3 thành phần chính là: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền
vững về môi trường.
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu và được nhắc tới đầu tiên trong
PTBV. Đó trước hết là sự phát triển về kinh tế để có thể đảm bảo cho những nhu cầu tối
thiểu của con người. Tuy nhiên cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế
giới thì PTBV còn đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc
với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn
tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Yếu tố
mới được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ
tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít trong giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng
như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.
Khía cạnh xã hội của PTBV yêu cầu chú trọng vào sự phát triển công bằng và xã
hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản
thân. Như vậy, trên khía cạnh xã hội PTBV bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức
khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về
quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên
trong cộng đồng xã hội.

Một trong những lý do dẫn đến PTBV trở thành một viễn cảnh “xa vời” của các
nước đang phát triển như Việt Nam là do hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa
đồng bộ để có thể kết hợp hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển bền vững: kinh tế - xã hội
và bảo vệ môi trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng có thể nói sự
yếu kém về năng lực và hạn chế về kinh nghiệm của bộ máy lập pháp, hành pháp là một
nguyên nhân chủ quan quan trọng. Cần khắc phục nhanh chóng điểm yếu này trong giai
đoạn phát triển tiếp theo nếu các nước đang phát triển không muốn ngày càng gia tăng
khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển.
Phát triển bền vững là một nội dung rất rộng và có tác động toàn diện đến mọi mặt
của đời sống xã hội. Sự quan trọng và phức tạp của nó đòi hỏi tất cả các thành phần kinh
tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục
đích dung hòa ba lĩnh vực của PTBV: kinh tế, xã hội, môi trường. Không một quốc gia
nào có thể đảm bảo sự phát triển bền vững cho riêng mình trong thế cô lập với phần còn
lại của thế giới kể cả các nước phát triển.
Trong một thời kỳ cụ thể, người ta có thể ưu tiên phát triển một mặt nào đó của
PTBV, song mức độ và thời hạn của sự ưu tiên đó chỉ có giới hạn. Từ những bài học kinh
nghiệm thực tiễn con người đã cảnh giác và tìm chiến lược phát triển mới, đúng đắn cho
mình đó là: coi các vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là
ba yếu tố cấu thành của xã hội. PTBV trở thành nhu cầu cấp bách và xu thế phát triển tất
yếu của hầu hết các nước trên thế giới.
1.1.2. Bền vững về môi trường
Vấn để ô nhiễm môi trường đang từng ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm song
song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người đang tăng
lên không ngừng cùng với việc môi trường cũng ngày càng đứng trước những thách thức
lớn hơn. Có thể khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần cho phát triển, chứ
không đồng nghĩa với phát triển, nhất là PTBV.
Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác động lẫn
nhau trong thế cân đối thống nhất: môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không
gian cho sản xuất xã hội. Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài
nguyên, rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi

phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm,
chất thải. Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội
của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Tác động của con người đến môi
trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần
thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng cũng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên.
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển KT-XH
thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên _đối tượng của sự phát triển KT-XH hoặc
gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động KT-XH trong khu vực. Ở các quốc
gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi truờng khác
nhau:
Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài
nguyên và năng lượng của loài người. Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh, hoạt động
của quá nhiều các phương tiện giao thông vận tải đã tạo ra một lượng lớn chất thải độc hại
vào môi trường (đặc biệt là khí thải). Hiện nay việc có được mua bán hay không quyền
phát thải khí thải giữa các nước đang là đề tài tranh luận chưa ngã ngũ trong các hội nghị
thượng đỉnh về môi trường, các nước giàu vẫn chưa thực sự chia sẻ tài lực với các nước
nghèo để giải quyết những vấn đề có liên quan tới môi trường.
Ô nhiễm do nghèo đói: Mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, song chỉ sử dụng
20% tài nguyên và năng lượng của thế giới, nhưng những người nghèo khổ ở các nước
nghèo chỉ có con đường duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên: rừng, khoáng sản,
đất đai… mà đa số các loại tài nguyên này không có khả năng hoàn phục. Nghèo đói là
thách thức lớn nhất đối với công tác BVMT hiện nay. Do vậy, để giải quyết vấn đề môi
trường, trước hết các nước nghèo phải giải quyết triệt để nghèo đói.
Để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môi
trường, vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và BVMT. Để
PTBV không được khai thác quá mức dẫn tới hủy hoại tài nguyên, môi trường; thực hiện
các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường;
bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng
cao nhận thức của nhân dân về BVMT
Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc.

1.1.3.2. Ô nhiễm không khí và các yếu tố ảnh hưởng.
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong
thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó
chịu, giảm tầm nhìn xa.
Các dấu hiệu và tiêu chí đánh giá ô nhiễm môi trường không khí.
Dấu hiệu: có thể phát hiện ra ô nhiễm không khí thông qua những dấu hiệu bất
thường của một trong các yếu tố sau: sức khoẻ con người, đời sống sinh vật, khí hậu, hiệu
ứng nhà kính, mưa axit, mỏng màn ozôn và ảnh hưởng lên vật liệu. Sự thay đổi của các
yếu tố trên có thể được nhận thấy một cách dễ dàng nhưng cũng có thể phải cần đến
những chuyên gia, các nhà khoa học với những thiết bị công nghệ đo lường hiện đại.
Tiêu chí đánh giá ô nhiễm môi trường không khí: thường căn cứ trên 5 tiêu chí, bao
gồm: Bụi có kích thước nhỏ hơn 10 micron (PM10), khí SO
2
, NO
2
, CO và O
3
. Trong đó
bụi là chất ô nhiễm rất nguy hiểm vẫn ít được biết đến. Các hạt bụi kích thước nhỏ có khả
năng đi sâu vào phổi và gây nên những bệnh về đường hô hấp rất nghiêm trọng có thể dẫn
tới tử vong. Theo 1 nghiên cứu của ngân hàng thế giới năm 2000 cho thấy tại 4 thành phố
lớn của Trung Quốc là Trùng Khánh, Bắc Kinh, Thượng Hải và Thẩm Dương mỗi thành
phố đã có khoảng 10.000 người chết trước khi trưởng thành do bị nhiễm bụi.
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng môi trường nói chung và môi trường không khí nói
riêng đều do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành. Tiêu chuẩn đang được áp
dụng phổ biến hiện nay được ban hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2002 (Quyết định
35/2002/QĐ-BKHCNMT về việc công bố danh mục Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
bắt buộc áp dụng). QĐ này gồm 12 tiêu chuẩn liên quan đến chất lượng không khí.
Có 2 nguồn gốc chính gây ô nhiễm môi trường không khí là nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo.

hành lang quốc lộ 18: Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí - Hạ Long - Cẩm Phả tạo thành
mạng lưới đô thị quan trọng của tỉnh Quảng Ninh. Do đó thị xã có nhiều thuận lợi trong
giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, thu hút vốn đầu tư trong nước và quốc tế, được đánh
giá là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng trong phát triển KT-XH của tỉnh
Quảng Ninh.
Uông Bí nói riêng và Quảng Ninh nói chung vẫn được biết đến là một địa danh rất
giàu tài nguyên thiên nhiên, trong đó đáng kể nhất phải kể đến là tài nguyên khoáng sản
và tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch: Uông Bí là một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh quan
du lịch và di tích lịch sử của cả vùng từ Côn Sơn - Kiếp Bạc đến Bãi Cháy, Bái Tử Long;
là một trong 4 trung tâm du lịch lớn của Quảng Ninh. Khu du lịch, danh thắng, văn hoá
Yên Tử ở sườn nam dãy Yên Tử có sự kết hợp hài hoà giữa chiều sâu lịch sử với vẻ đẹp
của thiên nhiên, là một trong những trung tâm phật giáo của cả nước. Quần thể này trải
dài trên 25km tính từ điểm xuất phát là hồ Yên Trung đến điểm nút chùa Đồng ở đỉnh cao
1068m. Yên Tử là một tài sản vô giá về văn hoá và lịch sử, một thắng cảnh thiên nhiên
đặc sắc thiên phú cho thị xã Uông Bí.
Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản là thế mạnh của thị xã Uông Bí. Qua điều tra
khảo sát, khoáng sản lớn nhất của Uông Bí là than với trữ lượng rất lớn. Mỏ than Vàng
Danh trên địa bàn thị xã thuộc vùng than Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí có trữ lượng
690 triệu tấn (trữ lượng cả vùng là 1,5 tỷ tấn). Đây là mỏ than có điều kiện khai thác hầm
lò và một phần lộ thiên, chất lượng than tốt với nhiệt lượng là 7943 – 8217 kcal/kg.
Ngoài than, Uông Bí còn có các khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng như: đá,
cát, sỏi, đá vôi, đá sét… phục vụ yêu cầu phát triển không chỉ trên địa bàn mà cho cả các
khu vực lân cận, tạo nên cơ cấu công nghiệp khá đa dạng cho thị xã.
Bảng1: Danh mục các khoáng sản của thị xã Uông Bí
Stt Tên khoáng sản Trữ lượng Địa danh
1 Than đá 690 triệu tấn Uông Bí
2 Đá vôi 28 – 30 triệu tấn Xã Phương Nam
3 Đá sét 595.000 tấn Bãi Sỏi
(Nguồn: Thuyết minh điều chỉnh QH chung thị xã Uông Bí tỉnh QN đến2020)

ngày sự lựa chọn con đường phát triển theo hướng bền vững lại càng khẳng định là một
sự lựa chọn mang tính chiến lược đúng đắn. Cũng theo sự lựa chọn này, Uông Bí đã xây
dựng cho mình mục tiêu phát triển bền vững như sau:
- Xây dựng thị xã Uông Bí là một trung tâm công nghiệp, khai thác than, cơ khí,
điện; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; trung tâm đào tạo dạy nghề tiểu vùng phía tây
của tỉnh Quảng Ninh.
- Xây dựng thị xã trở thành một trung tâm du lịch – văn hoá lịch sử tâm linh phía
tây lớn nhất của tỉnh.
- Đổi mới trong phát triển kinh tế, tập trung xây dựng thị xã phát triển nhanh theo
hướng bền vững với cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, chú trọng nâng cao chất lượng sự nghiệp
văn hoá – giáo dục – y tế… thực hiện tốt chính sách xã hội, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội.
- Môi trường được đảm bảo, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, các “điểm
nóng” về môi trường:
Cải thiện chất lượng môi trường không khí do hoạt động công nghiệp, xây dựng,
giao thông, đặc biệt là ô nhiễm do bụi ở các khu vực nội thị, ven đô.
QH tuyến thu gom, bãi chôn lấp và xử lý chất thải rắn; quản lý chất thải rắn và chất
thải nguy hại thông qua triển khai, phổ biến các mô hình phân loại rác thải tại nguồn,
giảm thiểu, tái chế và sử dụng chất thải và thực hiện quản lý, lưu giữ, chôn lấp chất thải
đúng quy định.
Cải tạo và xây dựng mới hệ thống thoát nước thải, tập trung chỉ đạo xử lý ô nhiễm
nguồn nước, cải thiện môi trường nước ở các lưu vực sông.
Sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, giữ cân bằng sinh
thái; bảo vệ và phát huy đa dạng sinh học, các di sản văn hoá được bảo tồn và tôn tạo.
1.2.2.2. Yêu cầu bảo về môi trường không khí trong chiến lược PTBV thị xã.
Mục tiêu chống ô nhiễm môi trường là một trong 3 mục tiêu lớn, luôn được đặt
ngang hàng với các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của thị xã trong những năm qua.
Đối với môi trường không khí thì vấn đề lại càng trở nên quan trọng bởi lẽ không
khí chính là yếu tố quan trong hàng đầu đối với sức khoẻ của con người. Tất cả các mục

là đường bộ và đường sắt đều có rất nhiều đoạn chạy qua nội thị là nơi tập trung rất nhiều
dân cư. Đường sắt chuyên dùng vận chuyển than Vàng Danh - Uông Bí toàn tuyến dài
17,5 km có tới 10 điểm giao cắt với đường đô thị. Các hộ dân sống dọc hai bên đường có
xe hay tàu than chạy qua hàng ngày vẫn đang phải ăn, uống, ngủ cùng với bụi than và các
chất độc hại phát ra từ động cơ xăng dầu của phương tiện chuyên chở than.
Dự kiến trong tương lai sản lượng than của Uông Bí liên tục tăng qua các năm:
2010: 5 triệu tấn, 2015: 6,5 triệu tấn, 2020: 8,6 triệu tấn, đó là chưa kể ngành than luôn
đưa ra những chiến lược, những biện pháp để tăng sản lượng khai thác than hàng năm.
Khối lượng than vận chuyển theo đó tăng không ngừng, các chuyến xe, tàu chở than vì
thế cũng ngày càng được tăng cường, đi theo sau những chuyến xe và tàu đó là khói và
bụi than nồng nặc.
Trong QH tổng thể đến 2020, thị xã sẽ xây dựng thêm 1cảng than mới, 2 nhà máy
nhiệt điện, và hàng loạt các nhà máy có sử dụng than làm nguyên liệu đốt vì vậy khối
lượng vận chuyển và bốc dỡ than ngày càng nhiều. Đồng nghĩa với nó là sự gia tăng
lượng khí thải vào bầu không khí của thị xã.
1.2.3.2. Hoạt động của các nhà máy nhiệt điện
Uông Bí hiện có 2 nhà máy nhiệt điện do được xây dựng từ lâu nên các nhà máy
này đều nằm trong khu vực nội thị, rất đông dân cư. Hàng ngày khi hoạt động các nhà
máy đều thải ra một lượng khói bụi làm đen cả một vùng trời. Đặc biệt khi nhà máy tiến
hành xả thải thì sẽ có một trận “mưa bụi” vung vãi khắp nơi. Theo ước tính nếu đã xử lý
bụi 95% thì hàng năm hai nhà máy trên cũng thải ra đến 1.200 tấn bụi/năm.
Trong tương lai khi có thêm 2 nhà máy nhiệt điện được tiếp tục xây dựng trên địa
bàn thì đây sẽ là một nguồn thải khói bụi lớn đối với bầu không khí vốn đã không trong
lành của thị xã. Uông Bí cũng dự kiến hoàn thành dự án nâng cấp và mở rộng nhà máy
nhiệt điện Uông Bí GĐ 2 thêm 300MW, đạt 710MW. Sau năm 2020 xây dựng thêm nhà
máy nhiệt điện Uông Bí III với công suất 600MW nhu cầu sử dụng than gia tăng kéo theo
nhiều tác động xấu đối với bầu không khí. Đó là chưa kể tới tác động của các hoạt động
vận chuyển nguyên liệu cho sản xuất điện của các nhà máy này.
1.2.3.3. Hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng.
Hiện tại trên địa bàn có 2 nhà máy hoạt động trong lĩnh vực này là nhà máy xi

đó và có xu hướng gia tăng cường độ trong tương lai, vì vậy nguy cơ bùng phát ô nhiễm
không khí là rất gần. Cần phải có giải pháp đối phó toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế - xã hội - môi trường, chỉ có như vậy phát triển bền vững mới trở thành mục tiêu thực
hiện được trong một thời gian không xa.
1.2.4. Dự báo biến đổi chất lượng môi trường không khí thị xã đến năm 2020
Trong những năm tới cùng với sự phát triển của cả tỉnh Uông Bí sẽ ngày càng phát
triển, mở rộng vì vậy việc đánh giá, dự báo tải lượng và xu hướng diễn biến môi trường
nói chung và môi trường không khí nói riêng là việc làm cần thiết. Dựa trên tính toán
lượng bụi trong không khí đo được từ các hoạt động, có thể dự báo lượng bụi trong không
khí do các hoạt động và nhà máy tạo ra như sau:
Bảng2: Dự tính lượng bụi thải ra của một số hoạt động chính
Đơn vị: tấn bụi/năm
Cơ sở sản xuất Năm 2010 Năm 2020
Sản xuất than 10.301 – 10.988 > 10.000
Nhiệt điện Uông Bí (xử lý 95%) 3.600 – 4.200 > 4.200
Cụm sản xuất xi măng Lam Thạch 1.500 – 2.000 2.000
Gạch Dốc Đỏ < 11 11 - 20
Giao thông (không tính đến vận chuyển than) 5,8 – 7,8 11- 15
(Nguồn: khoa địa lý trường ĐH KHTN, ĐH QGHN, 2005)
Ngoài lượng bụi thải ra không khí các hoạt động trên còn thải ra một lượng khá lớn
các chất độc hại vào không khí trong quá trình hoạt động như: CH
4
, CO
2
, SO
2
, NO
x
, CO,
VOC, Pb. Trong đó khai thác than hầm lò, giao thông và nhiệt điện là nhưng hoạt động

than
hầm

23-
28,
75
23 287
,5
287
,5
316,
25
212,
75
0,5
2
69
-
85
69 800 800 1.0
00
600 1,5
Gia
o
thô
ng
0,8-
1
30-
35

3.0
00
510
Kết quả trên chỉ mang tính chất tham khảo do rất khó xác định biến động trong các
ngành sản xuât ảnh hưởng đến môi trường không khí. Tuy nhiên kết quả này cũng cho
thấy cái nhìn toàn diện về các vấn đề môi trường không khí trong tương lai khu vực thị xã
Uông Bí để từ đó có các giải pháp, QH và quản lý hiệu quả nhằm làm giảm các tác động
tiêu cực của các hoạt động phát triển lên môi trường, trong đó có môi trường không khí.
1.2.5. Kết luận về sự cần thiết chống ô nhiễm môi trường không khí thị xã Uông
Bí.
Thực tế đã cho thấy rằng nếu muốn phát triển bền vững thì không thể không chú ý
đến vấn đề bảo vệ môi trường, môi trường chính là một cực quan trọng mà nếu thiếu thì
hai cực kinh tế, xã hội còn lại cũng không thể bền vững được. Có nhiều ý kiến của các
nhà kinh tế môi trường cho rằng các chỉ số đo lường sự phát triển kinh tế hiện nay như
GDP hay GNP đã không phản ánh đúng trạng thái thực của một nền kinh tế bền vững.
Nghĩa là chỉ hô hào sự tăng trưởng GDP hằng năm bao nhiêu phần trăm, nhưng không
cho biết được rằng với sự tăng trưởng đó, nguồn vốn tự nhiên bị hao mòn đến mức nào;
chất lượng môi trường và cuộc sống bị tụt giảm tới đâu. Cần tính toán đầy đủ sự tái tạo
của tài nguyên, khắc phục ô nhiễm mới thấy được giá trị thực của GDP. Lấy ví dụ của
Mexico, chi phí cho môi trường làm giảm đến 12% GDP. Còn ở Trung Quốc, tính toán
thử 1 năm thì thấy rằng tổn thất do suy thoái tài nguyên làm GDP giảm đi xấp xỉ 10%.
Điều đó có tính định hướng để cảnh báo rằng nếu phát triển kinh tế mà không chú ý đến
các vấn đề môi trường thì sẽ có sự tăng trưởng giả tạo, mà cái nợ này sẽ gán cho tương
lai.
Uông Bí là một đô thị trẻ (được thành lập từ ngày 28/20/1961), nền kinh tế lại
được phát triển chủ yếu trên nguồn tài nguyên sẵn có, trong đó công nghiệp khai thác
than, nhiệt điện và sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng gạch ngói có đóng góp lớn cho
nền kinh tế (chiếm trên 80% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn). Tuy nhiên sự phát triển
của các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp khai khoáng, nhiệt điện đã vượt quá
khả năng hoá giải của môi trường tự nhiên và khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ

công nghiệp thì môi trường và hệ thống cơ sở hạ tầng đã không thể đáp ứng kịp yêu cầu
cho sự phát triển đó. Chính vì vậy môi trường của Uông Bí vẫn ngày càng bị ô nhiễm
nặng nề hơn. Công tác bảo vệ môi trường vẫn chỉ là sự hô hào của các cơ quan chuyên
trách và sự cam kết còn mang nặng tính hình thức của các doanh nghiệp. Các hoạt động
bảo vệ môi trường chỉ mang tính chất chung chung mà chưa có sự can thiệp chuyên sâu
của các nhà khoa học, sự chung tay của cả xã hội trong việc giải quyết từng vấn đề của
từng môi trường cụ thể. Trong cùng tình trạng đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí
cũng mới chỉ được đề cập đến trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, chưa có các
giải pháp chuyên biệt nên chưa thực sự giải quyết được vấn đề một cách hiệu quả và triệt
để nhất. Để góp phần phát huy tiềm năng sẵn có của thị xã, khắc phục tình trạng sử dụng
chưa hợp lý tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay công tác
quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là một trong những khâu quan trọng
cần được tiếp tục quan tâm, củng cố và đẩy mạnh.
2.1.1. Các chủ trương chính sách.
- Hệ thống các chính sách của nhà nước.
Vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam được thực sự quan tâm bắt đầu từ cuối
những năm 80, đầu những năm 90 và đặc biệt là năm 1993, Luật bảo vệ môi trường đã
được ban hành, đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở
nước ta. Có thể nói đây là văn bản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực
hiện công tác bảo vệ môi trường. Đây là lần đầu tiên các khái niệm cơ bản có liên quan
đến bảo vệ môi trường đã được định nghĩa, xác định làm cơ sở cho việc vận dụng vào
hoạt động quản lý môi trường. Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường được pháp
luật quy định. Qua hơn 10 năm thực hiện Luật, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã
có những chuyển biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và
hoàn thiện. Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động và toàn diện của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế, Luật Bảo vệ môi trường đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được sửa đổi.
Chính vì vậy Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Luật có

Cấp thị xã: Có 3 cán bộ chuyên trách đảm nhiệm công tác quản lý về môi trường,
tuy nhiên năng lực của những cán bộ này còn yếu kém. Phòng tài nguyên và môi trường
thị xã vẫn được biết đến là cơ quan quản lý môi trường, tài nguyên chung cho toàn thị xã
nhưng ngay trong cơ quan này cũng chưa hẳn có một cái nhìn đầy đủ về hiện trạng không
khí thị xã. Môi trường đất, nước hay không khí chưa được phân biệt một cách rạch ròi để
có những biện pháp xử lý riêng thích hợp, hiệu quả.
Cấp phường, xã: Chưa có cán bộ chuyên trách đảm nhiệm về công tác bảo vệ môi
trường. Các xã, phường hầu như không có một hoạt động đáng kể nào trong công tác
quản lý bảo vệ môi trường nói chung cũng như môi trường không khí nói riêng. Công tác
quản lý môi trường vẫn được coi là công việc của các cấp cao hơn, có chăng cũng chỉ là
các hoạt động hưởng ứng sự phát động các hoạt động bảo vệ môi trường mang tính chất
thường niên vốn đã không lấy gì làm phong phú và hiệu quả của tỉnh và thị xã.
Các doanh nghiệp có hoạt động gây ô nhiễm môi trường: Một số doanh nghiệp
khai thác khoáng sản, sản xuất điện, xi măng có phòng kỹ thuật công nghệ - môi trường
đã bố trí 01 cán bộ chuyên trách phụ trách các vấn đề về môi trường phát sinh. Trong các
doanh nghiệp này công tác môi trường cũng chưa được quan tâm đúng mức chứ chưa nói
tới các doanh nghiệp không có cán bộ chuyên môn phụ trách lĩnh vực không thể thiếu
này.
Như vậy, có thể thấy được rằng so với tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay
thì đội ngũ quản lý môi trường của thị xã còn rất thiếu và yếu. Với một địa bàn rộng và có
rất nhiều các hoạt động gây ô nhiễm nghiêm trọng như Uông Bí thì đội ngũ quản lý môi
trường như trên là rất “mỏng”, không thể nắm bắt đầy đủ và kịp thời các tác động của các
hoạt động kinh tế, xã hội với môi trường. Bên cạnh đó, đặc biệt là sự yếu kém trong năng
lực chuyên môn, quản lý của đội ngũ cán bộ môi trường và cả một số ban ngành liên quan
đã làm mất đi uy tín cần có của cơ quan môi trường Uông Bí. Chính điều này đã làm cho
thái độ cũng như động thái từ phía các cơ sở gây ô nhiễm còn hết sức hình thức và chậm
chạp. Các cơ quan môi trường của nhà nước chưa thể hiện được vai trò đầu tầu, dẫn
đường của mình trong công tác bảo vệ môi trường_một công việc khó khăn, đòi hỏi rất
nhiều thời gian và nguồn lực.
2.1.2.2. Các hoạt động chống ô nhiễm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status