LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian được học tập và nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế tài
chính Ngân hàng tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đến nay tôi đã hoàn
thành bản luận văn tốt nghiệp. Để có được kết quả này, trước hết là nhờ sự
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chu đáo và hiệu quả của PGS.TS Nguyễn Hữu Tài –
giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài. Tôi xin được bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc của mình tới thầy giáo Nguyễn Hữu tài.
Tôi cũng xin trân thành cám ơn các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy
lớp cao học Tài chính Ngân hàng khoá 15 nói chung và các thầy cô giáo trong
khoa Tài chính Ngân hàng nói riêng, những người đã cung cấp, truyền thụ
cho tôi nhiều kiến thức lý luận quý báu, để từ đó giúp ích rất nhiều cho tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thực tiễn công tác.
Và cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp, hỗ trợ, chia sẻ
động viên từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cơ quan trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành bản luận văn này.
Học viên cao học
Nguyễn Thị Lan Phương
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Thứ bảy, giải pháp mở rộng mạng lưới và tăng thời gian giao dịch với khách hàng x
Thứ tám, tăng cường công tác tuyên truyền thông tin, quảng cáo x
3.2.7 Giải pháp mở rộng mạng lưới và tăng thời gian giao dịch với khách hàng 74
3.2.8 Tăng cường công tác tuyên truyền thông tin, quảng cáo 74
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Reference source not found
Biểu 2.7: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo đối tượng Error: Reference
source not found
Biểu 2.8: Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2006-2009 Error:
Reference source not found
Biểu 2.9: Cơ cấu nguồn vốn phân theo loại tiền giai đoạn 2006-2009 Error:
Reference source not found
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong lĩnh vực Tài chính, Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan
trọng nhất của nền kinh tế, là huyết mạch trong lưu thông, luân chuyển vốn
và cung cấp các dịch vụ tài chính cùng các dịch vụ thanh toán khác. Trong
các năm qua, hệ thống Ngân hàng đã đạt được những thành tựu khích lệ, góp
phần to lớn vào việc kiềm chế lạm phát, hoàn thành nhiệm vụ bình ổn giá trị
đồng tiền, điều tiết và kích thích phát triển theo hướng ổn định và bền vững.
Song Ngân hàng cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức
mới như là sự cạnh tranh quyết liệt giữa các Ngân hàng Thương mại về thị
phần, thị trường vốn và đầu tư, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra
hết sức gay gắt trong năm 2008. Vì vậy, các Ngân hàng Thương mại đã và
đang cố gắng hết sức mình vào hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đa dạng hoá, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ
Ngân hàng, huy động mọi nguồn vốn với quy mô, cơ cấu và chi phí hợp lý
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tăng trưỏng và phát triển bền vững.
Thông qua việc nghiên cứu để hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hiệu
quả hoạt động huy động vốn đối với Ngân hàng Thương mại và xem xét, phân
tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy, tác giả đánh giá được những
thành công, tồn tại và các nguyên nhân của hoạt động này. Luận văn đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn để từ đó
làm cơ sở cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động
vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy.
dẫn đến lợi nhuận giảm. Ngược lại, nếu không đủ vốn cho vay, đầu tư Ngân
hàng sẽ mất cơ hội mở rộng hoạt động, mất đi khách hàng uy tín. Bất cứ một
sự không cân xứng về quy mô giữa nguồn vốn và sử dụng vốn đều gây ra cho
Ngân hàng những thiệt hại do thiếu vốn hoặc thừa vốn.
- Nguồn vốn huy động của Ngân hàng phải có sự tăng trưởng ổn định về
số lượng để thoả mãn nhu cầu kinh doanh ngày càng tăng của Ngân hàng.
Tuy nhiên, vốn huy động phải ổn định về mặt thời gian. Nếu ngân hàng huy
động được một lượng vốn đủ lớn nhưng lại thường xuyên không ổn định,
thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư,
cho vay sẽ không lớn, hiệu quả huy động vốn không cao, thường xuyên phải
đối đầu với vấn đề thanh khoản.
2. Cơ cấu nguồn vốn huy động:
- Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí
của Ngân hàng. Cơ cấu huy động vốn phải phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn.
Nếu cơ cấu nguồn vốn huy động không phù hợp, không đáp ứng được yêu
cầu sử dụng vốn thì sẽ không tối đa được dư nợ tín dụng và đầu tư, ngược lại
cơ cấu huy động nhiều mà sử dụng không hết thì hoạt động không hiệu quả,
ngân hàng vẫn phải chịu lãi suất trên phần vốn huy động thừa.
- Cơ cấu của các ngân hàng có thể rất khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm
khách hàng, chiển lược kinh doanh, marketing của Ngân hàng. Nhìn chung cơ
cấu vốn được xem là hợp lý nếu các thành phần của nó đáp ứng được kế
hoạch sử dụng vốn, đồng thời với chi phí biến động thấp nhất :
+ Về đối tượng : một ngân hàng có thể huy động vốn đối với nhiều đối
tượng khác nhau nhưng nguồn vốn ổn định nhất vẫn là nguồn huy động từ
dân cư. Tuy nhiên, nguồn tiền gửi giao dịch của các tổ chức kinh tế cũng có
những lợi thế nhất định. Đó là chi phí huy động rẻ nên nếu ngân hàng có thể
iii
tính toán hợp lý chu kì thu chi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thì Ngân hàng sẽ chủ động hơn trong tính ổn định của nguồn vốn.
+ Về kỳ hạn: Thông thường các ngân hàng vẫn sử dụng một phần nguồn
Để đánh hiệu quả huy động vốn của NHTM về mặt chi phí huy động vốn
ta xét đến hai chỉ tiêu sau:
- Lãi suất huy động vốn bình quân = Chi phí huy động vốn/Tổng vốn
huy động.
- Chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân.
Chương 2. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Cầu Giấy.
Nhằm thực hiện chủ trương đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, ngành Ngân hàng đã có
những bước chuyển biến tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước,
từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, sánh vai
cùng các nước trong khu vực cũng như trên thế giới .
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nền kinh tế về các sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng, nhằm mở rộng mạng lưới và nâng cao uy tín của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hội đồng quản trị
đã ra quyết định số 28/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 13/01/2006 mở chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy trên cơ sở nâng
cấp chi nhánh cấp 2.
Hoà nhịp cùng với sự phát triển của Thủ đô nói riêng và đất nước nói
chung, Chi nhánh đã có những bước đi vững chắc khắng định uy tín và vị thế
của mình trên con đường đổi mới hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
v
Đến nay, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Cầu Giấy đã và đang triển khai thực hiện tất cả các sản phẩm dịch vụ tiện ích
của Ngân hàng hiện đại .
2.2. Thực trang huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Cầu Giấy.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn, Ngân hàng Nông nghiệp
Nguồn vốn tăng trưởng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn mở
rộng các loại hình đầu tư vốn như: dịch vụ cầm cố, cho vay tiêu dùng, thanh
toán, chuyển tiền, đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân.
2.3.2.1 Những tồn tại
Thứ nhất, khối lượng vốn huy động được chưa tương xứng với tiềm năng.
Thị trường Hà Nội là môi trường rất lý tưởng cho hoạt động huy động
vốn vì là nơi có mật độ dân số cao chủ yếu là những người có thu nhập, trình
độ dân trí và mức độ sử dụng các sản phẩm ngân hàng cao Hơn nữa kinh tế
chính trị an ninh xã hội trên địa bàn rất ổn định, hợp tác kinh tế quốc tế ngày
càng mở rộng, các dự án xây dựng và đầu tư tăng lên nhanh chóng, thu hút
nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế.
Thứ hai, Cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh chưa thực sự hợp lý.
- Trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh, nguồn vốn qua phát
hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng thấp.
- Tuy tốc độ tăng trưởng nguồn vốn khá cao nhưng chủ yếu tăng ở khu
vực tổ chức dẫn đến sự thiếu ổn định trong cơ cấu nguồn vốn.
- Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn còn thấp so với tổng nguồn vốn, các
loại tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất cao vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nguồn vốn điều này chứng tỏ rằng chi nhánh chưa thực sự có cơ cấu nguồn
vốn hợp lý, nhằm giảm thấp chi phí đầu vào.
vii
- Tiền gửi ngoại tệ tăng trưởng thấp hơn so với nội tệ do chưa có sự chủ
động và chăm lo đến việc huy động ngoại tệ.
Thứ ba, Hình thức huy động vốn còn đơn điệu và mang tính truyền
thống. Tiền huy động được chủ yếu tập trung ở các sản phẩm truyền thống,
chưa phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ hiện đại.
Thứ tư, Công nghệ Ngân hàng liên tục được đổi mới và hoàn thiện
song còn nhiều hạn chế.
2.3.2.2 Nguyên nhân
huy động vốn mới được đặt tại trung tâm quận, nhưng số lượng còn quá ít so
với các ngân hàng cùng quy mô.
- Hoạt động marketing còn hạn chế, chưa có biện pháp tuyên truyền,
quảng cáo thường xuyên, sâu rộng các dịch vụ của ngân hàng và những tiện
ích của việc thanh toán qua ngân hàng. Nhiều người dân chưa biết được các
dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng chưa đi vào đời sống người dân như một
yếu tố không thể thiếu. Trên thực tế ngân hàng chỉ thông báo trên các phương
tiện thông tin đại chúng khi tăng lãi suất huy động hoặc áp dụng hình thức
huy động mới. Ngân hàng chưa có trang Web riêng để tuyên truyền quảng bá
hình ảnh và thương hiệu với thị trường.
3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy.
Trên cơ sở vận dụng các vấn đề lý thuyết đã được trình bày, tác giả đã
phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Cầu Giấy. Từ đó rút ra được những thành công, hạn chế
và nguyên nhân của hoạt động huy động vốn mà hiện nay Ngân hàng đang
ix
huy động. Những hạn chế của hoạt động huy động vốn đã nêu ở trên là cơ sở
để tác giả đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn
tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy.
Thứ nhất, thường xuyên phân tích diễn biến qui mô, cơ cấu nguồn vốn và
dự báo xu hướng biến động của lãi suất tại Ngân hàng.
Thứ hai, lựa chọn thị trường mục tiêu và chiến lược Marketing của ngân hàng
Thứ ba, xây dựng chiến lược sản phẩm huy động vốn
Thứ tư, Xây dựng chiến lược khách hàng
Thứ năm, sử dụng chính sách định giá linh hoạt
Thứ sáu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào hoạt động
ngân hàng
Thứ bảy, giải pháp mở rộng mạng lưới và tăng thời gian giao dịch với
khách hàng
của các nhà khoa học lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn, hàng nghìn
tỷ đồng chưa được huy động và sử dụng đầu tư hiệu quả.
Là một chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy mặc dù
mới được thành lập hơn ba năm nhưng đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong
mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh nhưng thực tiễn
đang đặt ra những thách thức mới đang ở phía trước do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới, những khó khăn từ môi trường kinh tế vĩ mô,
từ nội tại của mình và cạnh tranh càng gia tăng bởi có thêm hoạt động của các
tổ chức tài chính phi ngân hàng như Bảo hiểm, Quỹ hỗ trợ phát triển, Bưu
điện huy động tiền gửi tiết kiệm, Kho bạc huy động tiền gửi trái phiếu, sự ra
1
đời của pháp lệnh thương phiếu điều chỉnh các quan hệ tín dụng thương
mại…Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp giúp ngân hàng chủ động
nguồn vốn cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động này ngày càng trở nên
cấp thiết đối với NHTM Việt Nam nói chung và Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy nói riêng.
Nhận thức được điều đó, cùng với mong muốn sử dụng kiến thức đã
được học cũng như từ thực tiễn tại Ngân hàng, tác giả đã lựa chọn và triển
khai nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động
vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Cầu
Giấy” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn của
NHTM. Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Cầu Giấy.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương
địa phương và quốc gia của mình. Tình hình này đã gây khó khăn trong việc
trao đổi buôn bán hàng hoá. Để thoát khỏi bế tắc trên, một tầng lớp trung gian
đã xuất hiện- tầng lớp thương nhân chuyên làm nghề đổi chác tiền đúc.
Những người này trong tay có đủ các loại tiền đúc của các địa phương trong
một quốc gia thậm chí của một số quốc gia. Nhờ đó, mà người ta có thể đem
một loại tiền đúc này đổi lấy một loại tiền đúc khác mà mình đang cần, miễn
là phải trả lãi. Xã hội càng phát triển nền kinh tế các quốc gia đi lên, khối
lượng khách hàng đổi tiền ngày càng nhiều, trong tay những người chuyên
đổi chác tiền đúc đã tập trung được khối lượng vốn khá lớn, nhờ đó họ mở
mang được hoạt động của mình: làm thêm nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho
vay. Như vậy là, trong sự phân công tự phát của xã hội, bên cạnh tầng lớp
thương nhân thông thường đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân đặc biệt,
chuyên lấy tiền tệ làm đối thượng hoạt động. Đó chính là tiền thân của nghề
Ngân hàng.
Sản xuất trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển dẫn đến những quan hệ
giao dịch về tiền tệ ngày càng phát triển và đa dạng. Bên cạnh nghiệp vụ nhận
tiền gửi và cho vay lấy lãi, những thương nhân đổi tiền đã làm cả việc thanh
4
toán thay cho khách hàng, giúp họ tránh khỏi rủi ro đem tiền từ địa phương
này đến địa phương khác. Như vậy những thương nhân đó đã dần dần thoát
khỏi vị trí ban đầu của họ và bước sang lĩnh vực làm trung gian hoạt động về
tiền tệ. Họ đã thực sự trở thành những người làm nghề Ngân hàng.
Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải có một tổ chức chuyên
kinh doanh đặc biệt - chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ trong quan hệ
vay mượn - đó là NHTM, một trung gian tài chính được hình thành lâu đời
nhất. Vậy Ngân hàng Thương mại là gì? trước hết NHTM được hiểu là một
doanh nghiệp vì NHTM hoạt động như các doanh nghiệp khác: có vốn riêng,
mua vào, bán ra, có chi phí và thu nhập có nghĩa vụ nộp thuế ngân sách cho
nhà nước, có thể lãi hoặc lỗ, có thể giàu lên hoặc phá sản NHTM kinh
doanh dịch vụ tiền tệ không trực tiếp tạo ra của cải vật chất như các Doanh
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển
các khoản thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó là bước chuyển tiếp từ
chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng (là người
mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng : Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích
cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay
tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng
và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu
dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng
tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh
nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
- Tài trợ cho dự án : Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng
6
nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại
hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho
vay để đầu tư vào đất.
1.1.2.3. Mua bán ngoại tệ :
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua bán) ngoại tệ- một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua
bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những
giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ
chuyên môn cao
1.1.2.4. Bảo quản vật có giá :
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và giao cho khách hàng
trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách hàng tờ biên
nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất
cứ lúc nào cho giấy chứng nhận nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như
tiền- dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân
bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày
càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng
của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn
của tổ chức tín dụng khác….
1.1.2.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán được thiết bị, đặc biệt là thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản
xuất và thương mại đã cho thuê các thiết bị. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có
thể mua. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa
chọn thuê cá thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó
8
ngân hàng mau thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường
phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản thuê.
Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, và
được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
1.1.2.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lí tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát
triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác
đầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di
chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi ngân hàng như chuyên gia
tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lí tài chính, về
thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
1.1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do
chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán,
cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng
khoán khác mà không phải nhờ đến kinh doanh chứng khoán. Trong một
a. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT)
Tiền gửi của các TCKT là một bộ phận vốn tiền tệ tạm thời được giải
phóng khỏi quá trình luân chuyển chưa có nhu cầu sử dụng hoặc được sử
10
dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời gian nhất định. Thông thường
các TCKT có các loại tiền gửi sau:
a.1. Tiền gửi không kỳ hạn (TGKKH)
Là khoản tiền gửi mà người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra sử dụng vào
bất kỳ thời điểm nào mà ngân hàng luôn luôn phải thoả mãn các nhu cầu đó.
Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
* Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi không kỳ hạn mà khách hàng gửi
vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán, chi trả về hàng hoá, dịch vụ
hoặc các khoản chi trả khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Loại tiền gửi này là nguồn vốn rẻ nhất mà ngân hàng huy động
được, nó bao gồm: thanh toán giao dịch, tài khoản séc…
* Tiền gửi không kỳ hạn, phi giao dịch: là các khoản tiền gửi không kỳ
hạn mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và để
hưởng lãi, khi cần họ có thể chi tiêu ngay, không có nhu cầu sử dụng các công
cụ thanh toán không dùng tiền mặt.
a.2. Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH)
Là các khoản tiền gửi có sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền giữa
người gửi tiền và ngân hàng.
Phần lớn các khoản tiền gửi có kỳ hạn đều có nguồn gốc tích luỹ trong
quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp. Bộ phận tiền gửi này thường là
các loại tiền gửi về các loại quỹ chuyên dùng, các khoản lãi chưa phân
phối, các khoản dự phòng. Hình thức này thường chỉ xuất hiện đối với các
doanh nghiệp hoạt động mang tính thời vụ. Về nguyên tắc người gửi tiền
chỉ có thể rút tiền khi đến hạn, song trên thực tế để khuyến khích và thu hút
các nguồn tiền tệ nhàn rỗi ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút tiền
trước hạn nhưng không được hưởng lãi suất hoặc chỉ được hưởng với mức