LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21-thế kỷ mới- Việt Nam đang có những bước chuyển
mình với nhiều thắng lợi , nhiều thành tựu lớn trong lĩnh vực kinh tế nhằm
phát triển một nền kinh tế vững mạnh theo kịp nền kinh tế chung của thế
giới .
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù hoạt
động trong bất cứ lĩnh vực nào đều có sự cạnh tranh mạnh mẽ với nhau. Để có
thể tồn tại và phát triển đi lên, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt và cung cấp
thông tinh chính xác về các hoạt động của doanh nghiệp để đề ra các kế hoạch
cho công tác quản lý . Và một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các nhà
quản lý phân tích kinh tế là việc quản lý lao động tiền lương, phân tích cho ra
được các thông tin chỉ số chính xác , kịp thời. Vì lao động và tiền lương có
ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ,
chi phí về lao động và tiền lương cũng ảnh hưởng lớn tới chi phí sản xuất
chung, tới lợi nhuận của doanh nghiệp .
Trong thời gian thực tập tại Nhà máy thuốc lá Thăng Long , nhận thấy
tầm quan trọng của công tác quản lý lao động và tiền lương em đã chọn đề tài
“Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tình hình lao động và tiền
lương ở Nhà máy thuốc lá Thăng Long thời kỳ 1995-2004.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương , không kể lời nói đầu và kết luận
Chương I : Những vấn đề chung về lao động và tiền lương
Chương II: Phân tích thống kê lao động và tiền lương của doanh nghiệp
Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tình hình lao
động và tiền lương ở Nhà máy thuốc lá Thăng Long thời kỳ 1995-2004.
Trong quá trình thực tập em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt
tình của thầy Bùi Huy Thảo , các cô chú, anh chị trong phòng tổ chức lao
động và tiền lương và các phòng ban khác trong Nhà máy ; nhưng do trình độ
1
b.Theo tác dụng của từng loại lao động đối với quá trình sản xuất , kinh
doanh.
_Công nhân sản xuất : bao gồm những người lao động và số học nghề
được trả lương. Hoạt động lao động của họ trực tiếp gắn với quá trình sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp của doanh nghiệp
_Lao động làm công khác : bao gồm tất cả những người lao động làm
công ăn lương còn lại ngoài số công nhân sản xuất và số học nghề được trả
lương như: cán bộ kĩ thuật, cán bộ quản lý kinh tế, quản lý hành chính , các
nhân viên giám sát, bảo vệ, thu mua nguyên, vật liệu... của doanh nghiệp
2.Định mức lao động và năng suất lao động
2.1.Định mức lao động
2.1.1.Khái niệm
Định mức lao động là sự quy định số lượng lao động sống hao phí để
hoàn thành một công việc nhất định trong sản xuất theo tiêu chuẩn quy định
và trong điều kiện cụ thể. Số lượng lao động hao phí đó gọi là mức lao động .
Định mức lao động trong doanh nghiệp là cơ sở để kế hoạch hoá lao
động, tổ chức , sử dụng lao động phù hợp có hiệu quả với quy trình công
nghệ, phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp . Định mức lao động xác
định được số lượng lao động sống, là cơ sở để xây dựng đơn giá tiền lương và
trả lương gắn với năng suất, chất lượng và kết quả công việc của người lao
động .
2.1.2.Các phương pháp định mức lao động
a.Theo phương pháp tiến hành :
_Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này dựa vào số liệu thống kê ở các
thời gian quá khứ kết hợp với kinh nghiệm của người xây dựng định mức để
đưa ra định mức mới . Bao gồm hai phương pháp:
+Phương pháp thống kê
+Phương pháp kinh nghiệm
Q : Số lượng lao động hay giá trị sản phẩm được tạo ra
L : Số lượng lao động hao phí để tạo ra sản lượng ( hay giá trị) sản
phẩm
Vì Q có thể được tính bằng sản phẩm hiện vật, sản phẩm quy chuẩn và
tính bằng tiền tệ ( GO,VA,NVA,DT,DT’) , còn L có thể được tính bằng số
người, số ngày_người và giờ_người thực tế làm việc để tạo ra Q, cho nên cứ
4
ứng với mối biểu hiện cụ thể của Q và L sẽ xét được một mức năng suất lao
động thuận và một mức năng suất lao động nghịch .
3.Vai trò của lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Dù bất kì là doanh nghiệp lớn hay nhỏ , doanh nghiệp công nghiệp hay
thương mại thì một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó là lao động .Người lao động là người
sản xuất chính , người tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp . Mặt nào
của sản xuất kinh doanh cũng cần đến lao động, đặc biệt với Việt Nam hiện
nay khi máy móc thiết bị còn lạc hậu chưa đồng bộ, tự động hoá còn chậm thì
người lao động lại càng quan trọng. Chi phí về lao động ảnh hưởng trực tiếp
đến tới chi phí sản xuất chung.
Nếu doanh nghiệp nào quan tâm chú trọng đến người lao động thì hiệu
quả sản xuất kinh doanh sẽ cao hơn, còn ngược lại người lao động chán nản
thiếu tích cực thiếu tính sáng tạo ảnh hưởng đến năng suất lao động .
II.CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG
1.Khái niệm về tiền lương và các khoản có tính chất lương
Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động,
sức lao động là hàng hoá và tiền lương là giá cả của sức lao động .
Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau.Tiền lương
trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động ( mua sức lao động) trả cho
phụ cấp, tiền thưởng
Phụ cấp là khoản tiền lương bổ sung vào khoản tiền lương chính . Có 3
nhóm phụ cấp như sau :
_Nhóm phụ cấp có tính chất đền bù : nhằm bù đắp những hao phí lao
động do điều kiện lao động đặc biệt hoặc những yếu tố ngành nghề đặc biệt
mà chưa có trong chế độ lương chung như phụ cấp độc hại , phụ cấp thêm
giờ, phụ cấp nguy hiểm .
_Nhóm phụ cấp mang tính chất ưuđãi như phụ cấp thâm niên, phụ cấp
trách nhiệm, phụ cấp vượt khung .
6
_Nhóm phụ cấp mang tính chất thu hút: là phụ cấp khu vực có tác dụng
thu hút nguồn nhân lực làm việc ở những nơi có điều kiện sống và sinh hoạt
khó khăn hơn các thành phố lớn, khu đô thị .
Tiền thưởng: là khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn
nguyên tắc phân phối theo lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều hình thức thưởng
như: thưởng sáng kiến, thưởng tiết kiệm , thưởng nâng cao chất lượng sản
phẩm, tăng năng suất lao động ...
Thu nhập : là khoản tiền mà ngoài tiền lương còn có các khoản tiền
thưởng , chia lãi và các khoản khác.
Thu nhập còn được phân biệt theo thu nhập trong doanh nghiệp và thu
nhập ngoài doanh nghiệp, thu nhập hợp pháp hay không hợp pháp . Hiện nay
ở một số doanh nghiệp, người lao động sống không chủ yếu bằng tiền lương
mà bằng các nguồn thu nhập khác từ doanh nghiệp hoặc từ ngoài doanh
nghiệp. Vì công tác trả lương hiện nay còn nhiều bất hợp lý nên có nhiều
trường hợp tiền thưởng nhiều hơn tiền lương , thu nhập ngoài doanh nghiệp
lớn hơn thu nhập trong doanh nghiệp.
2.Vai trò của tiền lương trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
người lao động sẽ mất niềm tin , không tạo động lực , làm hạn chế các động
lực cung ứng sức lao động... biểu hiện rõ nhất là tình trạng cắt xén thời gian
làm việc, lãng phí nguyên vật liệu, không có trách nhiệm đối với công việc
được giao, mâu thuẫn giữa người lao động với chủ doanh nghiệp ...
Như vậy tiền lương hợp lý sẽ tạo ra động lực mãnh mẽ để thúc đẩy sản
xuất phát triển và ngược lại sẽ kìm hãm sản xuất .
Thực tế cho thấy trong cơ chế thị trường , các doanh nghiệp nhất là các
doanh nghiệp nhà nước gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý nhân lực như
việc bố trí lao động không phù hợp với ngành, nghề, trình độ, thành tích lao
động của người lao động giỏi không được cấp lãnh đạo biết đến hoặc đánh giá
chưa chính xác, điều kiện lao động chưa được quan tâm... dẫn đến thu nhập
thấp.
8
Doanh nghiệp sử dụng tiền lương không chỉ với mục đích tạo điều kiện
vật chất cho người lao động mà còn với mục đích khác nữa là thông qua việc
trả lương để kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo ý đồ
của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại hiệu quả cao nhất
Xét về mặt kinh tế thuần tuý, tiền lương đóng vai trò quyết định trong
việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình .Người lao động dùng tiền lương để
trang trải các chi phí trong gia đình ( ăn ở, học hành, đi lại...) phần còn lại
dùng để tích luỹ.Nếu tiền lương bảo đảm đủ trang trải và có thể tích luỹ thì
nó sẽ tạo điều kiện cho người lao động yên tâm, phấn khởi làm việc, đó chính
là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất .
Từ những điều trên ta thấy được vai trò của tiền lương trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3.Các chế độ tiền lương
Chế độ tiền lương của hệ thống tiền lương là tất cả những văn bản quy
định mang tính chất pháp lý của Nhà nước, của bộ lao động thương binh xã
công nhân phải căn cứ vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định nhân
với hệ số lương tương ứng .
b.Mức tiền lương
Mức tiền lương là số tiền dùng để trả công lao động trong một đơn vị thời
gian xác định phù hợp với các bậc trong thang lương
Mức tiền lương = Tiền lương tối thiểu x Hệ số lương
Tiền lương tối thiểu được Nhà nước quy định theo từng thời kỳ trên cơ sở
trình độ phát triển về kinh tế- xã hội của đất nước và yêu cầu của tái sản xuất
sức lao động xã hội. Hiện nay mức lương tối thiểu là
c.Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp của
công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó
phải có sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm được
những công việc nhất định trong thực hành .
10
3.2.Chế độ tiền lương theo chức vụ
Chế độ tiền lương chức vụ là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà
các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp
áp dụng để trả lương cho lao động quản lý .
Khác với công nhân, những người lao động trực tiếp, lao động quản lý
tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng
trong lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động
sản xuất kinh doanh.Lao động quản lý lao động gián tiếp làm việc bằng trí óc
nhiều hơn, cấp quản lý càng cao thì đòi hỏi sáng tạo nhiều , kết hợp cả yếu tố
khoa học và nghệ thuật .
Đối với cán bộ và nhân viên trong doanh nghiệp, thông thường người ta
áo dụng hình thức tiền lương theo thời gian chế độ tiền lương chức vụ tháng.
Chế độ tiền lương theo chức vụ được hình thành thông qua bảng lương chức
_Trả lương sản phẩm tập thể : được áp dụng để trả lương cho một nhóm
người lao động khi họ hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định. Hình
thức này được áp dụng cho những công việc đòi hỏi nhiều người cùng tham
gia thực hiện, mà công việc của mỗi cá nhân liên quan đến nhau.
Ưu điểm : trả lương sản phẩm tập thể có tác dụng nâng cao ý thức trách
nhiệm, tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa các công nhân làm việc
trong tổ để cả tổ làm việc hiệu quả hơn, khuyến khích các tổ lao động làm
việc theo mô hình tổ chức lao động theo tổ tự quản .
Nhược điểm: hạn chế khuyến khích tăng năng suất lao động cá nhân
_Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: được áp dụng để trả lương cho
những lao động làm các công việc phục vụ hay phụ trợ, phục vụ cho hoạt
động của công nhân chính
Ưu điểm: khuyến khích công nhan phụ-phụ trợ phục vụ tốt hơn cho hoạt
động của công nhân chính, góp phần nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính.
Nhược điểm: tiền lương của công nhân phụ-phụ trợ phụ thuộc vào kết
quả làm việc thực tế của công nhân chính, hạn chế sự cố gắng làm việc của
công nhân phụ.
12
_Trả lương sản phẩm khoán: là hình thức trả lương trọn gói cho người lao
động thực hiện một công việc hay một công đoạn nào đó .Hình thức này đựoc
áp dụng trong trường hợp sản phẩm khó xác định mức chi tiết hoặc khó quản
lý chi tiết về các kết quả trung gian của người lao động .Tuỳ hình thức khoán
(tập thể, cá nhân) mà đơn giá , thanh toán lương , chia lương áp dụng theo
lương sản phẩm cá nhân hay tập thể.
Ưu điểm: trả lương theo sản phẩm khoán có tác dụng làm cho người lao
động phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình
làm việc, thời gian lao động, hoàn thành nhanh công việc giao khoán
đơn giản và theo thời gian có thưởng.
_Trả lương theo thời gian giản đơn là số tiền lương nhận được của mỗi
người công nhân do mức độ cấp bậc cao hay thấp và thời gian thực tế làm
việc nhiều hay ít quyết định . Cách tính trả lương theo hình thức này có thể
tính theo tháng, tuần, ngày, giờ
Lương tháng: tính theo mức lương cấp bậc tháng
Lương ngày : tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc thực
tế trong tháng
Lương giờ: tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc.
_Trả lương theo thời gian có thưởng: là sự kết hợp giữa chế độ trả lương
theo thời gian đơn giản với tiền thưởng, khi đạt được những chỉ tiêu về số
lượng hoặc chất lượng đã quy định.
Chế độ trả lương này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ làm
công việc phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị...Ngoài ra,còn
áp dụng đối với những công nhân chính làm những khâu sản xuất có trình độ
cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá
cao, tự động hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng
Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy lương trả theo thời
gian đơn giản nhân với thời gian làm việc thực tế, sau đó cộng với tiền thưởng
Lương theo thời gian đơn giản, trong chế độ trả lương này không phụ
thuộc vào trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt
với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã
14
đạt được. Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm
và kết quả công tác của mình .
4.2Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương là tất cả các khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để trả cho
người lao động theo kết quả lao động của họ dưới các hình thức, các chế độ
ngày và các khoản phụ cấp khác trong tháng như tiền trả cho công nhân trong
thời gian nghỉ phép năm, phụ cấp thâm niên, phụ cấp chức vụ...
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG
Lao động và tiền lương luôn luôn có mối quan hệ mật thiết chặt chẽ với
nhau và không thể tách rời. Đây là mối quan hệ nhân quả, lao động là nguyên
nhân và tiền luơng là kết quả.
Công tác lao động tiền lương giữ vai trò quan trọng trong tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh nói chung . Nó gắn liền với lợi ích và tác động thường
xuyên đến yếu tố con người, bởi vậy nếu làm tốt công tác này thì hiệu sản
xuất kinh doanh sẽ tốt hơn . Để làm tốt công tác lao động tiền lương thì phải
giải quyết tốt mối quan hệ giữa lao động và tiền lương .
Tiền lương là giá cả của sức lao động , tiền lương dùng bù đắp sức lao
động đã mất và nuôi sống gia đình người lao động . Tiền lương nhận được
thoả đáng sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất
lao động . Mặt khác, khi năng suất lao động tăng dẫn đến lợi nhuận doanh
nghiệp tăng, do đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận
được cũng tăng lên , nó là phần bổ xung thêm cho tiền lương làm tăng thu
nhập và lợi ích của người lao động .
Để giải quyết mối quan hệ giữa lao động và tiền lương thì phải đảm bảo
các yêu cầu sau :
-Mức độ tăng năng suất lao động phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân.
-Đảm bảo tiền lương chi trả khi sử dụng lao động phải tăng lớn hơn hoặc
bằng tiền lương tối thiểu
16
-Đảm bảo quỹ tiền lương kế hoạch phải nằm trong khả năng chi trả của
nguồn tiền lương
-Nguồn lao động sử dụng phải cân đối với nguồn khả năng chỉ trả của quỹ
đó rút ra một số kết luận về phương pháp sử dụng lao động và phân phối tiên
lương hiện nay .
2.Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê lao động và tiền lương .
_Hệ thống chỉ tiêu thống kê lao động và tiền lương phải phục vụ đúng
mục đích nghiên cứu
_Đối với các hiện tượng phức tạp, nhất là các hiện tượng trừu tượng, số
lượng chỉ tiêu cần nhiều hơn so với các hiện tượng đơn giản .
_Để thực hiện thu nhập thông tin, chỉ cần điều tra các chỉ tiêu sẵn có ở cơ
sở, nhưng cần hình dung trước số chỉ tiêu sẽ phải tính toán nhằm phục vụ cho
việc áp dụng các phương pháp phân tích , dự đoán ở các bước sau.
_Để tiết kiệm chi phí, không để một chỉ tiêu thừa nào trong hệ thống .
3.Hệ thống chỉ tiêu thống kê lao động và tiền lương của doanh nghiệp .
3.1.Nhóm I:Các chỉ tiêu phản ánh lao động
18
3.1.1.Chỉ tiêu phản ánh quy mô lao động của doanh nghiệp
Số lượng lao động của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi
tên vào danh sách lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản
lý sử dụng sức lao động và trả lương.
Ký hiệu : Số lượng lao động : L
Số lượng lao động có trong danh sách và số lượng lao động làm công ăn
lương của doanh nghiệp được thống kê theo số thời điểm và số bình quân
- Số lượng công nhân thời điểm : là số công nhân viên ghi trong
danh sách lao động của doanh nghiệp một ngày nào đó thuộc kỳ
báo cáo
- Số lượng lao động bình quân : là số lượng công nhân viên trong
danh sách doanh nghiệp đại diện cho cả kỳ báo cáo
n
L
∑
i
n
: Tổng các tần số ( với
∑
i
n
=n).
Trường hợp không có đủ tài liệu về số lượng lao động của tất cả các ngày
trong kỳ nghiên cứu, số lượng laođộng có bình quân được tính bằng phương
pháp bình quân theo thứ tự thời gian từ các số lượng lao động có ở cùng một
số thời điểm trong kỳ nghiên cứu. Nếu các khoảng cách thời gian bằng nhau,
số lượng lao động bình quân được tính theo công thức :
1
2
...
2
12
1
−
++++
=
−
n
L
LL
L
L
n
quá trình sản xuất sản phẩm.Tuỳ theo vai trò toàn bộ công nhân được chia
thành công nhân chính và công nhân phụ .
Học nghề là những người học kỹ thuật sản xuất dưới sự hướng dẫn của
công nhân lành nghề. Lao động của họ cũng góp phần trực tiếp vào việc tạo ra
sản phẩm của đơn vị.
20
_Lao động gián tiếp: cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ
Nhân viên kỹ thuật là những người tổ chức quản lý chỉ đạo kỹ thuật sản
xuất, kiểm tra kỹ thuật à kiểm tra chất lượng sản phẩm, được trả lương theo
thang lương kỹ thuật.
Nhân viên quản lý kinh tế là những người lãnh đạo chỉ đạo sản xuất kinh
doanh hoặc làm công tác nghiệp vụ như thống kê, kế hoạch, lao động tiền
lương…
Nhân viên quản lý hành chính là những người làm công tác tổ chức, hành
chính, quản trị, văn thư, đánh máy, lái xe con , bảo vệ, tạp vụ …
+Theo giới tính
Cơ cấu lao động theo giới tính cho phép đánh giá năng lực sản xuất xét từ
nguồn nhân lực, đào tạo và bố trí lao động cho phù hợp với đặc điểm từng
giới
+Theo độ tuổi
Cơ cấu lao động theo độ tuổi cho phép đánh giá năng lực sản xuất xét từ
nguồn nhân lực đào tạo và đào tạo lại lao động. Người ta thường kết hợp cat
chỉ tiêu cơ cấu lao động theo giới tính và theo độ tuổi thành cơ cấu tuổi giới
của lao động.
+Theo bậc thợ
Trong sản xuất, kinh doanh nếu doanh nghiệp bố trí lao động đảm nhận
các khâu công việc có trình độ chuyên môn, trình độ thành thạo đáp ứng được
yêu cầu kỹ thuật của công việc sẽ tạo cơ sở cho tăng năng suất lao động. Vì
nó.Mỗi tiêu thức chất lượng tham gia tính cơ cấu cho thông tin về chất lượng
từng loại lao động của doanh nghiệp xét theo tiêu thức đó . So sánh với cơ cấu
chất lượng theo yêu cầu để có kế hoạch hoàn chỉnh ( bổ sung hay giảm )
nhằm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng lao động của sản phẩm và công
việc
_Thâm niên nghề bình quân (
TN
)
∑
∑
=
i
ii
L
LN
TN
Trong đó: N
i
: Mức thâm niên công tác thứ i của lao động (i=
n,1
);
L
i
: Số lao động có mức thâm niên N
i
∑
i
L
: Tổng số lao động tham gia tính thâm niên nghề
22
Bậc thợ bình quân có thể tính cho một tổ lao động, một phân xưởng, một
ngành thợ của công nhân sản xuất. Chỉ tiêu cũng có thể áp dụng tính cho các
bộ phận lao động quản lý, lao động kỹ thuật...thuộc lực lượng lao động làm
công ăn lương của doanh nghiệp .Bậc thợ bình quân phản ánh trình độ chuyên
môn kĩ thuật và tay nghề của lao động tại thời điểm nghiên cứu.
_Hệ số đảm nhiệm công việc của lao động (H
dcvi
)
Bậc công việc thứ i theo yêu cầu
H
dcvi
=
Bậc thợ bình quân thực tế làm công việc i
Trị số của chỉ tiêu tính được phản ánh mức độ đảm bảo công việc của lao
động trong doanh nghiệp. Phạm vi quan sát mức độ đảm nhiệm công việc của
lao động tương tự như phạm vi quan sát bậc thợ bình quân. Nếu H
dcvi
>1: bộ
phận lao động đảm nhiệm công việc với yêu cầu lớn hơn khả năng, tình hình
sử dụng lao động của doanh nghiệp chưa đồng bộ với yêu cầu của công việc,
chất lượng sản phẩm sẽ giảm và tổn thất trong sản xuất , kinh doanh sẽ tăng.
+Theo trình độ văn hoá : cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá được dùng để
nghiên cứu năng lực sản xuất .
3.1.3.Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp
a.Các chỉ tiêu thống kê tình hình sử dụng số lượng lao động
Tại các thời điểm thống kê người quản lý và sử dụng lao động thường cần
các thông tin: số lượng lao động có mặt ở nơi làm việc, số lượng lao động
1
_Hệ số lao động được giao viêc ( H
2
)
Số lao động được giao việc tính BQ trong kỳ
H
2
=
S ố lao động có mặt bình quân trong kỳ
_Hệ số lao động chưa được giao việc ( H’
2
)
H’
2
=1- H
2
b.Các chỉ tiêu thống kê thời gian lao động trong doanh nghiệp
Quĩ thời gian làm việc của công nhân sản xuất trong doanh nghiệp được
tính theo hai loại đơn vị : ngày-người và giờ-người.
+ Quĩ thời gian làm việc theo ngày-người
_Tổng số ngày-người theo lịch là toàn bộ số ngày-người tính theo ngày
lịch của kỳ nghiên cứu.
_Tổng số ngày-người theo chế độ lao động là tổng số ngày-người Nhà
nước quy định người lao động phải làm việc trong kỳ nghiên cứu.
_Tổng số ngày người nghỉ lễ, nghỉ thứ bảy, chủ nhật bằng (=) Số lao
động có bình quân nhân với (x) Số ngày nghỉ lễ, thứ bảy, chủ nhật của kỳ
nghiên cứu.
_Tổng số ngày-người có thể sử dụng cao nhất vào sản xuất, kinh doanh là
quỹ thời gian tính theo ngày-người doanh nghiệp có thể huy động tối đa vào
sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
việc theo chế độ lao động cộng với (+) Số giờ-người làm thêm ngoài chế độ
lao động. Chỉ tiêu phản ánh toàn bộ khối lượng thời gian lao động tính bằng
25