TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
ae
ae
&
&
fb
fb
Đề tài môn học
BỘ BA BẤT KHẢ THI
GVHD: PGS.TS HỒ THỦY TIÊN
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
NHÓM PHẢN BIỆN_CHIỀU THỨ 4
TP.Hồ Chí Minh - Tháng 4 năm 2015
DANH SÁCH NHÓM 8: PHẢN BIỆN
STT HỌ TÊN LỚP MỨC ĐỘ HOÀN
THÀNH
1 Hoàng Thị Thanh Huệ 12DNH3 100%
2 Đào Văn Hừng 12DIF 100%
3 Lý Thị Ánh Linh 12DNH3 100%
4 Lê Thị Loan 12DIF 100%
5 Nguyễn Ngọc Khôi Nguyên 12DIF 100%
6 Nguyễn Đăng Ngọc Phụng 12DNH3 100%
7 Đỗ Thị Phượng 12DIF 100%
8 Lê Nhật Quyên 12DIF 100%
9 Nghiêm Thị Thu Sang 12DIF 100%
10 Nguyễn Thị Thu Thay 12DIF 100%
11 Nguyễn Duy Thiện 12DIF 100%
12 Nông Thị Thiên Trang 12DNH3 100%
13 Đinh Phan Hoàng Tuấn 12DIF 100%
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH BỘ BA BẤT KHẢ THI
0
– mY
Với X
0
là tổng giá trị xuất khẩu, mY là tổng giá trị nhập khẩu. Như vậy, xuất khẩu
không phụ thuộc vào mức sản lượng (thu nhập) quốc gia Y nhưng nhập khẩu là một hàm
của Y. Thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu (Y
d
) bằng tổng cung (Y).
Cán cân thanh toán của một nền kinh tế bao gồm hai thành phần chủ yếu là tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn, được diễn tả thông qua phương trình sau:
BP = NX + KA
Do NX chiếm tỷ trọng lớn trong tài khoản vãng lai nên NX được xem như là tài
khoản vãng lai và KA là tài khoản vốn (bằng tài sản trong nước được sở hữu bởi công dân
nước ngoài trừ đi tài sản nước ngoài được sỡ hữu bởi công dân trong nước).
Giả sử chu chuyển vốn là hoàn hảo, ta có tài khoản vốn là một hàm của chênh lệch
giữa lãi suất trong nước và lãi suất nước ngoài, cụ thể là:
KA = k( r – r
*
)
Nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài thì lợi nhuận đầu
tư trong nước cao hơn lợi luận đầu tư ra nước ngoài, công dân trong nước và nước ngoài
có xu hướng tăng mua tài sản trong nước và giảm mua tài sản nước ngoài, vốn có khuynh
hướng đổ vào trong nước. Nói một cách khác, nếu lãi suất trong nước (r) cao hơn lãi suất
nước ngoài (r
*
) thì tài khoản vốn sẽ thặng dư và ngược lại. Các khoản mục của một cán
cân thanh toán có thể có sự thâm hụt hoặc thặng dư nhưng cán cân thanh toán tổng thể
phải luôn luôn cân bằng
1
,
r
*
) trên đồ thị 1. Khi chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, đường IS dịch
chuyển đến IS
‟
, cắt LM tại G, nền kinh tế đạt cân bằng bên trong: sản lượng tăng đồng
thời lãi suất cũng tăng. Kết quả, dòng vốn có xu hướng chảy vào trong nước nên cán cân
thanh toán sẽ thặng dư và tỷ giá có xu hướng giảm. Để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải
đưa thêm lượng nội tệ vào nền kinh tế để mua ngoại tệ. Do đó, đường LM dịch chuyển
sang phải thành LM
‟
, tạo điểm cân bằng vĩ mô mới tại H. Đây là điểm cân bằng dài hạn
bền vững.
Hình 1: Quan hệ IS – LM – BP trong chế độ tỷ giá cố định.
r
IS'
IS
LM
LM'
BP > 0
G
BP
H
E
r*
F
BP < 0
Y* Y
Trong một trường hợp khác, xuất phát từ điểm E (Y
đường IS và BP dịch chuyển sang phải là IS
‟
và BP
‟
hình thành nên điểm cân bằng
mới tại J ở mức sản lượng cao hơn sản lượng cân bằng ban đầu. Như vậy, chính sách
tiền tệ có tác dụng mạnh để gia tăng sản lượng.
Hình 2: Quan hệ IS – LM – BP trong điều kiện tỷ giá thả nổi.
r
IS''
IS
IS'
LM
LM'
BP''
BP
G
K
BP'
E
r*
J
F
Y*
Y
K
*
Y
J
*
phát triển lên thành lý thuyết bộ ba bất khả thi. Lý thuyết bộ ba bất khả thi được phát biểu
như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ giá cố định, hội nhập tài
chính và độc lập tiền tệ.
• Chính sách tiền tệ độc lập
Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục đích
điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách đến tỉ giá hay tăng giảm, hay
các biến số vĩ mô khác.
9
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để
thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế. Chẳng hạn nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát triển
nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền và ngược lại. Trong các trường hợp
này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác.
Chính vì sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng
trưởng ổn định hơn. Tuy nhiên độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để chính phủ lạm
dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn.
Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm ẩn
nguy cơ lạm phát cao. Đó là chưa kể độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho chính phủ
tiền tệ hóa chi tiêu chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách. Hậu
quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm phát.
• Ổn định tỷ giá
Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn
định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của nền kinh tế giảm
đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ. Tất cả giúp làm cho môi trường
đầu tư tốt lên. Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức có mặt trái của nó. Tỷ giá quá ổn
định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài
truyền dẫn vào nền kinh tế.
Ví dụ lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa
mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên.
Ngoài ra tính quá cứng nhắc của tỷ giá còn ngăn cản không cho những nhà làm chính sách sử
dụng công cụ chính sách phù hợp với thực tế diễn biến cả nền kinh tế, nhất là khi đang có dấu
những năm gần đây. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính nhưng thiếu quy tắc điều tiết kèm
theo. Tình trạng bong bóng chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn
11
đến những bất ổn kinh tế vĩ mô một phần cũng do tự do hóa tài chính nhưng thiếu cơ chế giám
sát tương thích. Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu
cơ.
Sự kết hợp bộ ba bất khả thi
+ Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ
giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một công
cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài.
+ Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ
giá thả nỗi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá. Với lựa chọn này, chính phủ (NHTW)
được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc của
thị trường.
+ Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường
vốn đóng. Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn. Khi có kiểm soát vốn,
mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.
1.2.2. Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian
Toàn cầu hóa đang trở thành xu hướng chung của thế giới. Điều này càng gia tăng áp
lực cho các quốc gia khi buộc phải chọn một trong hai: hoặc là từ bỏ ổn định tỷ giá hoặc là từ
bỏ độc lập tiền tệ.Tuy nhiên, Frankel (1999) cho rằng một quốc gia vẫn có thể lựa chọn cơ chế
tỷ giá bán ổn định (half-stability) và chính sách tiền tệ bán độc lập (halfindependence). Và lý
thuyết bộ ba bất khả thi không thể ngăn cản một quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có
quản lý, dải băng tỷ giá, tỷ giá cố định có thể điều chỉnh hay bất cứ cơ chế tỷ giá trung gian
nào. Hơn nữa, ông đã nhấn mạnh rằng không có một chế độ tiền tệ duy nhất nào là tốt nhất cho
tất cả các quốc gia và thậm chí ngay trong chính quốc gia đó thì cũng không có một chính sách
tiền tệ duy nhất nào là phù hợp cho mọi thời đại.
Tam giác bất khả thi mở rộng
12
nghiên cứu đưa ra các lập luận hợp lý cho việc lựa chọn mẫu hình trung gian – không
nhóm quốc gia nào đạt được. Tuy nhiên, chi phí của việc gia tăng nắm giữ dự trữ ngoại
hối và các can thiệp vô hiệu hóa vào thị trường ngày càng gia tăng đã đặt một dấu chấm
hỏi lớn cho tính bền vững của mẫu hình này ở các nước mới nổi, cũng chính là, tính bền
vững của mẫu hình kim cương của bộ ba bất khả thi.
Hình 6: Mẫu hình kim cương
Nguồn: Aizenman, Chinn, Ito (2008).
Lý thuyết bộ ba bất khả thi của Mundell và Fleming ngày càng được hoàn thiện
dần từ mô hình Mundell-Fleming đến tam giác bất khả thi Mundell-Fleming, phát triển
thành tam giác mở rộng Yigang và Tangxian (2001) và cuối cùng là thuyết tứ diện của
Hausmann (2000).
14
1.3. Dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi ở các nước đang phát triển
Do xu thế hội nhập tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng ở các nước đang phát triển nên
ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy dự trữ ngoại hối đóng vai trò trong mẫu hình bộ ba bất
khả thi, nhất là tại các nước đang phát triển.
Trong hơn hai thập kỷ gần đây, ngày càng có nhiều các nền kinh tế đang phát triển có xu
hướng thiên về lựa chọn chế độ tỷ giá trung gian cố định và thả nổi, như chế độ tỷ giá thả nổi
có quản lý, neo tỷ giá, hoặc dải băng tỷ giá. Chế độ tỷ giá hỗn hợp như thế đòi hỏi các quốc gia
phải tăng dự trữ ngoại hối để đảm bảo tỷ giá duy trì một vùng mục tiêu nào đó. Sau khủng
hoảng tài chính Châu Á, nhiều nước đang bắt đầu chuyển sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, tức
hướng về thị trường nhiều hơn. Mặc dù vậy dự trữ ngoại hối ở các nước đang phát triển nhìn
chung gia tăng khá ấn tượng. Dự trữ ngoại hối toàn cầu tăng khoảng 1 nghìn tỷ đô đến hơn 5
nghìn tỷ đô trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2006.
Dự trữ ngoại hối tích lũy diễn ra không đồng đều ở các nước. Trong khi tỷ lệ dự trữ
ngoại hối trên GDP tại các nước công nghiệp tương đối ổn định xấp xỉ 4% thì tỷ lệ dự trữ ngoại
hối trên GDP tại các nước đang phát triển tăng từ 5% đến khoảng 27%. Gần đây các nước đang
phát triển nắm giữ đến ba phần tư dự trữ ngoại hối toàn cầu. Trung Quốc là quốc gia có dự trữ
ngoại hối gia tăng ấn tượng nhất với tỷ lệ ngoại hối trên GDP từ 1% vào năm 1980 lên khoảng
41% vào năm 2006 (và khoảng 50% vào năm 2008).
Chinn và Ito đã phát triển ba thước đo để đánh giá mức độ độc lập tiền tệ (MI), ổn
định tỷ giá ( ERS) và hội nhập tài chính ( KAOPEN).
Độc lập tiền tệ MI. Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường bằng hàm đảo nghịch của
mức tương quan hằng năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở. Chỉ
số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
16
Trong đó: i: quốc gia sở tại, j: quốc gia cơ sở. Với công thức như trên, giá trị tối
đa, tối thiểu tương ứng là 1 và 0. Gía trị càng tiến về 1 có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc
lập hơn. Ví dụ nếu chúng ta muốn đo lường mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam, quốc gia sở
tại là Việt Nam và quốc gia cơ sở là Mỹ ( nếu chúng ta muốn xem xét thay đổi lãi suất VNĐ
với lãi suất USD).
Ổn định tỷ giá (ERS). Độ ổn định tỷ giá chính là độ lệch chuẩn của tỷ giá, được tính
theo năm dựa trên dữ liệu tỷ giá mỗi tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở.Độ ổn định tỷ
giá nằm giữa giá trị 1 và 0, càng tiến về 1 tỷ giá càng ổn định.
Cách thức đo lường độ ổn định tỷ giá như trên có ưu điểm là giúp chúng ta xác định
được chính sách tỷ giá trên thực tế mà một quốc gia đang áp dụng chứ không phải dựa trên
những gì mà quốc gia đó tuyên bố.
Hội nhập tài chính (KAOPEN). Trong các chỉ số đo lường bộ ba bất khả thi,khó nhất
là đo lường mức độ hội nhập tài chính. Muốn đánh giá mức độ hội nhập tài chính, chúng ta
phải đo lường mức độ mà một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn. Tuy nhiên việc đo lường mức
độ kiểm soát vốn rất phức tạp vì rất khó để phản ánh hết những phức tạp trong thực tế. Chẳng
hạn có quốc gia tuy tuyên bố mở cửa thị trường vốn bằng những chính sách khá thông thoáng
nhưng trong thực tế lại kiểm soát vốn bằng những biện pháp hành chính của các cơ quan chức
năng. Chinn và Ito (2006 , 2008) đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo
lường mức độ hội nhập tài chính.
Lưu ý : chỉ số KAOPEN chỉ cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý dựa trên các
báo cáo của chính phủ cho IMF, WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan đến kiểm soát vốn và
ngoại hối.
18
Nước Mỹ đã chọn hai mục tiêu đó là sử dụng chính sách tiền tệ và lưu chuyển dòng vốn
tự do vào nền kinh tế. Mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu tư ra nước ngoài, đơn giản nhất là
gửi tiền cho 1 quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng
khoán, trái phiếu tại Mỹ. Mặt khác, Cục dự trữ liên bang Fed cũng sử dụng chính sách tiền tệ
để góp phần tạo việc làm và ổn định giá cả. Tuy nhiên, kết quả của quyết định này là sự bất ổn
đối với giá trị của đồng đôla trên thị trường ngoại hối.
Ngược lại, Trung Quốc lại có 1 cách lựa chọn khác. Ngân hàng trung ương nước này
thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì kiểm soát chặt chẽ đối với giá trị trao đổi của đồng nhân
dân tệ. Nhưng để hoàn thành 2 mục tiêu này, Trung Quốc phải hạn chế dòng vốn quốc tế, bao
gồm cả việc hạn chế công dân Trung Quốc chuyển tài sản ra nước ngoài. Nếu không có những
hạn chế đó, tiền sẽ chu chuyển ra và vào đất nước, khiến lãi suất trong nước bằng với mức lãi
suất do các ngân hàng trung ương nước ngoài thiết lập.
Phần lớn các nước châu Âu đã chọn cách thứ 3.Bằng cách sử dụng đồng euro để thay
thế cho đồng franc Pháp, mác Đức, lira Italia những nước này đã loại bỏ những biến động tỷ
giá hối đoái trong khu vực của họ.Thêm vào đó, dòng vốn tự do di chuyển trong các quốc gia
này.Nhưng cái giá của sự lựa chọn này là việc từ bỏ khả năng sử dụng chính sách tiền tệ.
• Kinh nghiệm áp dụng:
Kinh nghiệm áp dụng bộ ba bất khả thi của Trung Quốc:Trung Quốc là một quốc gia áp
dụng khá thành công bộ ba bất khả thi vẫn chưa tự do hóa dòng vốn. Trong những năm gần
đây, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ rất nhanh, thặng dư thương mại với Mỹ trờ
thành vấn đề làm cho Mỹ rất lo ngại, gây sức ép để buộc Trung Quốc tăng giá đồng Nhân dân
tệ.
Vấn đề đang làm đau đầu người Trung Quốc đã được giải quyết bằng cách chấm dứt
hành động can thiệp tỷ giá (sterilization) của ngân hàng trung ương nước này (là việc nhằm vô
hiệu hóa ảnh hưởng của sự can thiệp tỷ giá bằng cách tung ra các loại trái phiếu chính phủ để
ngăn cung tiền tăng quá nhanh. Người dân Trung Quốc đang trở nên giàu có hơn và đang lập
những kỷ mới về gửi tiết kiệm, trong bối cảnh những tài sản tiết kiệm này không dễ dàng gì
19
đầu tư ra nước ngoài được (do tài khoản vốn của Trung Quốc vẫn bị kiểm soát chặt). Bởi vậy,
mức yếu. Bởi vậy, khi cầu nội địa tăng lên thì họ dư sức tăng mạnh sản lượng và tức là tăng
cung để làm bão hòa toàn bộ lượng cầu mới tăng lên này. Tóm lại, cái gọi là “bộ ba bất khả
thi” hoàn toàn có thể là “bộ ba khả thi” trong một số trường hợp. Nền kinh tế Trung Quốc là
một minh họa rõ nét cho hiện tượng này.
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM
2.1. Tình hình bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
21
2.1.1 Tình hình các chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam.
Các chỉ số độ ổn định tỷ giá (ERS), độc lập tiền tệ (MI) và độ mở tài
chính(KAOPEN) ở Việt Nam có nhiều điểm đặc trưng riêng biệt nhưng dường như vẫn không
có thoát ra khỏi nguyên lý đánh đổi của bộ ba bất khả thi.
Bảng 11: Chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam qua các thời kỳ từ 1970 đến 2008
Chỉ số
1970 -
1981 -
1991 -
2001 -
Ổn định tỷ giá (ERS)
0.47
0.49
0.71
0.84
Độc lập tiền tệ (MI)
.
.
0.66
0.57
Độ mở tài chính
0.05
0.00
***
5.817
*
21.025
*
94.25
8
***
Độc lập tiền
tệ (MI)
Non-
0.48
0.47
0.50
0.44
Việt Nam
.
.
0.66
0.57
Chênh
.
.
-0.12
-0.12
F-
statistics
110.32
4
***
*
**
29.06
8
***
Nguồn: Trilemma Indexes do tác giả Hiro Ito cung cấp, tính toán của tác giả.
Bảng 11 thể hiện tình hình của 3 chỉ số này từ 1970 đến 2008. Chỉ số ERS chỉ mức
độ ổn định của tỷ giá có xu hướng gia tăng theo thời gian. Giai đoạn 1970 – 1990,chỉ số này
chỉ đạt giá trị ở mức trung bình (nhỏ hơn 0.5) nhưng 20 năm sau đã có những sự gia tăng rõ
rệt, đáng nói hơn là trong giai đoạn này ERS của Việt Nam đã vượt trên mức trung bình của
nhóm các nước NON-EMG DA. Nếu xét lịch sử chênh lệch giữa chỉ số này với mức trung
22
bình khu vực thì có thể khái quát sơ lược là ban đầu Việt Nam nằm dưới mức trung bình của
khu vực nhưng khoảng cách này thu hẹp theo thời gian và tiến đến vượt lên trên và vượt
ngày càng nhiều. Mức độ ổn định ở mức trung bình (nhỏ hơn 0.5) từ năm 1970 đến 1990
phản ánh những đợt phá giá trong giai đoạn này cùng với chính sách ba tỷ giá chính thức.
Trong giai đoạn này, tỷ giá thị trường tự do tồn tại song song với các tỷ giá của nhà nước.
Bởi vậy tỷ giá giai đoạn này sẽ không quá cố định.
Trong giai đoạn tiếp theo, NHNN thực hiện chính sách neo tỷ giá cùng với việc ấn
định các biên độ dao động. Mặc dù trong giai đoạn này NHNN cũng nhiều lần phá giá tiền
Đồng nhưng đi kèm mỗi đợt phá giá đó luôn là biên độ dao động cho phép, các biên độ nhìn
chung là rất nhỏ qua các thời kỳ, chính việc quy định biên độ dao động này đã làm cho tỷ
giá USD/VND gần như cố định, neo chặt. Biên động dao động cũng thay đổi theo thời gian
nhưng nhìn chung là rất nhỏ
Biên độ dao động tỷ giá USD/VND từ 1990 – 2011
Tương tự như ERS, chỉ sổ chỉ mức độ mở cửa tài khoản vốn KAOPEN cũng có xu
hướng tương tự. Chỉ số này có xu hướng gia tăng theo thời gian, trừ giai đoạn 1981 –1990
do chính sách đóng cửa của Nhà nước. Sau khi mở cửa hội nhập chỉ số này đã tăng lại phản
ánh sự hội nhập nhiều hơn vào nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam. So sánh với mặt bằng
chung của khu vực, độ mở của Việt Nam luôn thấp hơn khu vực, tuy nhiên cùng với xu
9
1-1995
19
9
6-2000
20
0
1-2005
20
0
6-2009
Trung
0.6
4.0
3.8
5.1
10.
17.
27.
Việt
.
.
.
4.2
6.6
10.
16.
Chênh
.
.
thông qua việc mua bán các chứng khoán gần như là không đáng qua số liệu các năm từ
2006 đến 2010 ( % tăng , giảm so với năm trước)
Bảng Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ 2006 - 2009
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Lạm
phát %
7,70% 12,63% 19.89 % 8.9% 11,75
%
Nguồn : NHNNVN
Từ trước cho đến nửa đầu năm 2007
– Chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức cung tiền trong lưu thông tăng vọt.
– Chính sách tài khoá mở rộng nhập khẩu lạm phát và hiệu quả đầu tư thấp
kinh tế không hấp thụ được nguồn cung tiền lớn và một phần nguồn vốn được
chuyển sang đầu tư vào các lĩnh vực không sản xuất và tiêu dùng.
Lạm phát tăng lên mức cao nhất trong vòng 7 năm kể từ 2001 (8,3%)
Nửa cuối 2007 đến nửa đầu 2008
25