Giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với du lịch - Pdf 26


1
MỤC LỤC

Mở đầu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN GẮN VỚI
DU LỊCH
1.1. Cơ sở của liên kết ngành............................................................................1
1.1.1. Quan hệ giữa lónh vực nông nghiệp với các lónh vực khác trong nền
kinh tế ......................................................................................................1
1.1.2. Sự phân cách kinh tế..........................................................................3
1.1.3. Kinh nghiệm phát triển của một số nước trong khu vực....................5
1.1.3.1. “Sự thần kỳ của Nhật bản” là kết quả của sự kết hợp hài hòa
giữa nông nghiệp và công nghiệp....................................................5
1.1.3.2. Đài Loan khai thác hợp lý tiềm năng của khu vực nông thôn .....6
1.1.3.3. Hàn Quốc phát triển mô hình làng mới Saemaul Undong để
khắc phục tình trạng phân cách kinh tế ...........................................7
1.1.4. Thực tiễn của Việt Nam.....................................................................8
1.1.4.1. Tạo sự bình đẳng về năng lực hội nhập của hai khu vực là một
vấn đề nan giải và cần nhiều nỗ lực trong tương lai........................8
1.1.4.2. Chênh lệch giàu nghèo gia tăng trong khi thời gian lao động
chưa được sử dụng ở nông thôn vẫn còn ở mức cao ......................10
1.1.4.3. Bất bình đẳng trong tiếp cận các dòch vụ giáo dục và y tế giữa
thành thò và nông thôn ...................................................................11
1.2. Liên kết nông nghiệp – du lòch với sự phát triển nông nghiệp
và nông thôn............................................................................................................13
1.2.1. Liên kết ngành với tính bền vững của hoạt động sản xuất
nông nghiệp ...............................................................................................13
1.2.1.1. Phát triển một nền nông nghiệp bền vững.................................13

2.2.3. Tình hình đời sống của người dân nông thôn miền núi.......................32
2.3. Tình hình phát triển du lòch ở Khánh Hòa ............................................33
2.3.1. Hoạt động kinh doanh du lòch tại Khánh Hòa .....................................33
2.3.1.1. Lượt khách lưu trú trên đòa bàn .................................................33
2.3.1.2. Hoạt động kinh doanh lữ hành...................................................34

3
2.3.2. Công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ
hoạt động kinh doanh du lòch............................................................34
2.3.3. Phát triển du lòch văn hóa....................................................................35
2.3.4. Hiện trạng môi trường tại các khu du lòch ...........................................36
2.4. Tình trạng liên kết phát triển du lòch – nông nghiệp...........................36
2.4.1. Tiềm năng liên kết phát triển nông nghiệp và du lòch........................36
2.4.2. Hiện trạng liên kết phát triển du lòch – nông nghiệp (nông thôn) ......39
2.4.3. Các hạn chế trong việc liên kết phát triển ..........................................40
2.5. Hiệu quả kinh tế giữa mô hình phát triển nông nghiệp và mô hình
phát triển nông nghiệp gắn với du lòch ......................................................41 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP –
NÔNG THÔN GẮN VỚI DU LỊCH
3.1. Đònh hướng phát triển du lòch và nông nghiệp của tỉnh Khánh Hòa .....44
3.1.1. Đònh hướng phát triển ngành du lòch đến năm 2010................................44
3.1.2. Đònh hướng phát triển ngành nông nghiệp đến năm 2010.......................46
3.2. Giải pháp thúc đẩy sự liên kết phát triển giữa
nông nghiệp-nông thôn với du lòch ............................................................47
3.2.1. Phương hướng chung.................................................................................48
3.2.2. Một vài giải pháp cụ thể ..........................................................................49
3.2.2.1. Giải pháp từ phía quản lý Nhà nước...................................................49
3.2.2.2. Giải pháp về phía đối tượng................................................................51

nhất là những khu vực có điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa, v.v… phù
hợp cho phát triển các loại hình du lòch. Nó giúp cho người dân tại các vùng
tiến hành mô hình có tính chủ động hơn, tích cực hơn trong việc tiếp nhận sự hỗ
trợ của xã hội vì mục tiêu giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân nông thôn.
Khánh Hòa được lựa chọn làm đòa bàn cho việc phân tích mô hình này.
Khánh Hòa là đòa phương có hoạt động du lòch đang phát triển rất sôi động và
lại là đòa phương được đánh giá là “Việt Nam thu nhỏ”, với rất nhiều cảnh đẹp
quyến rũ, nổi tiếng cả nước và thế giới, với nhiều khu vực còn hoang sơ, biển,
sông và núi liên hoàn, và còn chứa đựng nhiều giá trò văn hóa kỳ thú, là nơi

5
sinh sống của nhiều dân tộc, nên sẽ là nơi khá lý tưởng để có thể thực hiện
việc liên kết phát triển theo mô hình này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục tiêu đặt ra cho việc nghiên cứu đề tài là phân tích các tác động có
thể có của mô hình phát triển nông nghiệp – nông thôn gắn với du lòch đến các
khía cạnh của đời sống của người dân nông thôn. Đề tài cũng sẽ chỉ ra các giải
pháp để mô hình này có thể đi vào thực tế và phát huy tối đa hiệu quả cần có
của nó trên đòa bàn nghiên cứu nói riêng, đồng thời làm cơ sở cho việc mở rộng
ra trên phạm vi cả nước nói chung. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên của đề tài xoay quanh các hoạt động phục vụ du lòch
có liên quan trực tiếp đến đối tượng trồng trọt của người dân trên đòa bàn phân
tích. Từ đó, một sự đánh giá về hiệu quả và mức độ tác động hiện tại của các
hoạt động này đến các chủ thể có liên quan sẽ được đưa ra.
• Vì nhiều lý do, đề tài này chỉ chủ yếu xác đònh hiệu quả kinh tế của
mô hình phát triển nông nghiệp – nông thôn gắn với du lòch, các khía cạnh
khác sẽ là hướng mở cho sự nghiên cứu sâu hơn về sau.
Đòa bàn nghiên cứu của đề tài tập trung tại một số khu vực có tiềm năng về tự

Gustar Ranis (1961) cho mô hình bằng việc phân tích vai trò lớn hơn của nông
nghiệp trong đẩy mạnh công nghiệp hóa thông qua việc ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật, nâng cao năng suất, sản lượng nông nghiệp, và vai trò của ngoại thương,
vay mượn và viện trợ nước ngoài trong quá trình tăng trưởng. Sau đó là sự xuất
hiện của mô hình “Tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa” do Harry Toshima
dựa trên tình hình thực tế từ các nước Châu Á mà đưa ra. Mặc dù Harry
Toshima không tán thành với Lewis về việc chuyển lao động từ khu vực nông
thôn sang khu vực thành thò, cho rằng điều này là không hợp lý, và đề xuất
phát triển công nghiệp ngay trên đòa bàn nông thôn, nhưng mô hình của ông
cũng xác nhận vai trò tích cực của nông nghiệp trong quá trình phát triển tại
các nước đang phát triển.

7
Đúc kết từ các lý thuyết phát triển kinh tế và thực tiễn phát triển của các
nước, tiến só Đinh Phi Hổ đã khái quát ra các vai trò của nông nghiệp trong một
nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang phát triển: 1) kích thích sự
tăng trưởng nền kinh tế; 2) đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh
tế.
• Nông nghiệp kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện qua các
mặt cụ thể như: a) cung cấp lương thực-thực phẩm; b) cung cấp nguyên liệu cho
các ngành công nghiệp; c) là nguồn thu ngoại tệ; d) nông nghiệp – nông thôn
phát triển đóng góp cho việc giảm nghèo.
Việc đảm bảo một nguồn lương thực-thực phẩm dồi dào là điều kiện cần
thiết để đảm bảo cho nền kinh tế của các nước đang phát triển có thể tăng
trưởng ổn đònh bởi vì vấn đề này liên quan mật thiết với vấn đề tiền công và
việc duy trì sức sản xuất của lực lượng lao động. Giải pháp nhập khẩu thì lại
không thực tế trong hoàn cảnh khan hiếm ngoại tệ. Ngoài ra, trong giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp mạnh và bền vững
là một nhân tố quan trọng hàng đầu
( )1

kinh tế, các quan hệ này không chỉ về vật chất mà nó còn hình thành nên các
nhóm lợi ích, có vai trò cụ thể trong xã hội. Tùy theo điều kiện cụ thể và tùy
theo mỗi giai đoạn phát triển của mỗi nước mà vai trò của nông nghiệp thể
hiện cụ thể như thế nào, nhưng vai trò của nông nghiệp hay mối quan hệ của
nó với các lónh vực khác của nền kinh tế là không thể không thừa nhận. Quan
hệ giữa nông nghiệp với các lónh vực khác nằm trong hệ thống các mối quan hệ
tất yếu được hình thành trong tiến trình phát triển của xã hội, và chính các mối
quan hệ này đòi hỏi phải có một hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các lónh vực
trong xã hội.

Liên ngành
Trung
ương-
đòa
phương
Giữa các
nhóm hộ

Liên
vùng
Trong nước – Quốc tế

Sơ đồ 1: Các mối liên kết chính trong nền kinh tế
Nguồn: Đặng Kim Sơn, 2001.

dùng để kích thích khu vực công nghiệp trong nước phát triển ở giai đoạn đầu
của quá trình công nghiệp hóa (xem phụ lục 6 và 7).
Một nền kinh tế liên kết là một nền kinh tế mà trong đó: 1) các lónh vực
kinh tế khác nhau có sự liên kết với nhau một cách chặt chẽ; 2) không có sự
chênh lệch một cách thái quá về cơ sở hạ tầng cơ bản giữa các khu vực; 3) các
nhóm lợi ích trong xã hội (các giai tầng trong xã hội) có sự hỗ trợ qua lại lẫn
nhau, không hình thành những mâu thuẫn lớn. Trái ngược với một nền kinh tế
liên kết là một nền kinh tế phân cách. Trong nền kinh tế phân cách, mối quan
hệ giữa các lónh vực trở nên lỏng lẻo, các thò trường bò phân cách về mặt đòa lý
và xã hội. Sự phân cách không những tồn tại giữa các lónh vực mà trong nội bộ
các lónh vực cũng có khả năng hình thành những mảng riêng biệt. Năng lực
phát triển của các bộ phận dân cư trong xã hội rất khác biệt, nhất là giữa dân

10
cư nông thôn và dân cư thành thò, làm ảnh hưởng tới việc mở rộng thò trường và
khả năng tăng trường ổn đònh của nền kinh tế. Vấn đề này liên quan tới sự cách
biệt về mặt đòa lý, xã hội và chòu ảnh hưởng của các chính sách phát triển.
Sự phân cách trong một nền kinh tế là sản phẩm của ý thức của con
người, hay là sản phẩm của các chính sách phát triển kinh tế. Điều kiện cụ thể
của từng nước, trong đó điều kiện chính trò là phần nhiều và tiếp đến là điều
kiện tự nhiên (khác biệt giữa các khu vực về điều kiện tự nhiên) cũng có thể là
nguồn gốc hình thành nên sự phân cách trong một nền kinh tế.
Trong thực tế, không có một chỉ tiêu cụ thể nào có thể đánh giá được mức
độ liên kết của một nền kinh tế. Các nhà kinh tế chỉ dựa vào các dấu hiệu như:
mức độ chênh lệch thu nhập giữa các khu vực (khu vực truyền thống và khu
vực hiện đại), mức độ thu hút lực lượng lao động khu vực hiện đại (các ngành
công nghiệp được ưu tiên phát triển), khu vực nông thôn tiếp cận như thế nào
với sản phẩm của lónh vực hiện đại (“xét về kết cấu, ở một nền kinh tế liên
kết, các mối quan hệ cả phía cung và cầu đều phân bố đều về đòa lý và xã
hội”), v…v… để xác đònh một nền kinh tế có rơi vào tình trạng phân cách hay

công nghiệp ở Nhật (1935-1980)
Nguồn: Đặng Kim Sơn (2001).
(∗)
(không chỉ các
ngành công nghiệp chế biến
mà cả các ngành cơ khí), coi
trọng công nghệ thu hút nhiều lao động làm
cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, góp
phần tăng nhanh thu nhập của nông dân (1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng
góp 29% và 1990 là 85% tổng thu nhập của nông dân) (Đặng Kim Sơn). Điều
này có thể thực hiện được là bởi vì chính phủ Nhật đã quan tâm đến kết cấu hạ
tầng, năng lượng và thông tin liên lạc trên khắp lãnh thổ ngay từ đầu. Ngoài ra,
chính phủ Nhật còn luôn kiên trì giữ giá nông sản ổn đònh có lợi cho nông dân,
ngay cả khi nông sản hàng hóa dư thừa.

0
5
10
15
20
25
12345
Tỷ lệ đóng góp của NN cho GDP (%)
0
50
100
150
200
250
300

những thế, dù bò điều tiết mạnh để phục vụ cho phát triển công nghiệp, nông
nghiệp còn đóng góp lớn cho sự phát triển của công nghiệp thông qua sự phát
triển của các ngành chế biến nông sản xuất khẩu (xem Phạm Đỗ Chí chủ biên,
phần IV), vấn đề phân hóa giàu nghèo trong giai đoạn này cũng được giải
quyết. Và thò trường nông thôn Đài Loan
trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa công
nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa
(từ 1956 đến 1966, thò trường trong nước
đóng góp 60% tăng trưởng của lónh vực
công nghiệp chế tạo).
Thành công của Đài Loan có được
là nhờ chính sách không ngừng nâng cao
thu nhập của người dân nông thôn và tạo sự liên kết hay phối hợp hợp lý giữa
nông nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa
thông qua việc phi tập trung hóa công nghiệp, đưa công nghiệp về phát triển tại
nông thôn (giúp thực hiện thành công “ly nông bất ly hương”), nhờ đó mà phát
triển được thò trường trong nước làm cơ sở để phát triển tiềm lực của quốc gia.

Để làm được điều này, Đài Loan phải có được sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn
nhân lực tại nông thôn (lưu ý: “hơn 2/3 dân số nông nghiệp tại Đài Loan có bằng cấp giáo dục
chính thức”, Phạm Quang Diệu, Đặng Kim Sơn (xem Phạm Đỗ Chí chủ biên)Nguồn: Phạm Đỗ Chí, 2003.
0
20
40
60
80
100

1.1.4. Thực tiễn phát triển của Việt Nam
1.1.4.1. Tạo sự bình đẳng về năng lực hội nhập của hai khu
vực là một vấn đề nan giải và cần nhiều nỗ lực trong tương lai
Cho đến nay, người dân nông thôn là thành phần dân cư vất vả tạo ra
phần lớn vật chất làm đầu vào cho sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu nhưng
họ cũng chính là thành phần dân số bò thiệt thòi nhiều so với khối dân cư thành
thò nói chung. Đây là vấn đề bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế.
Theo thống kê, các doanh nghiệp đang tiến hành hoạt động kinh doanh
trên đất nước Việt Nam phần lớn tập trung tại các trung tâm đô thò lớn (thành
phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 53,6% tổng số doanh nghiệp và 52,14% số
vốn đăng ký)
( )1
, và trong từng vùng cũng có sự mất cân đối về sự phân bố của
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tại các vùng nông thôn, số lượng doanh
nghiệp rất ít. Vấn đề này thể hiện một thực tế là người dân nông thôn, nhất là
người dân sản xuất nông nghiệp, đã và đang phải gánh chòu phần thiệt thòi
trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Người ta đã chứng minh rằng,
trong thực tế có sự tương quan giữa số doanh nghiệp và GDP/đầu người của

1
Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

14
một đòa phương (đồ thò 1). Như vậy, người dân nông thôn không có nhiều điều
kiện để tăng thu nhập cho bản thân và cho gia đình tại khu vực họ sinh sống,
cách giải quyết mà họ cho là tốt nhất là di cư ra các khu đô thò với mong muốn
có nhiều cơ hội việc làm hơn.
Đồ thò 1: Tương quan dân số/doanh nghiệp và GDP/người phân theo đòa bàn tỉnh Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam – Kinh tế 2004-2005 Việt Nam và thế giới.

Các nước khác
2.79
Trung Quốc 0.80
Pakistan 1.80
n Độ 2.80
Mỹ 3.00
Việt Nam 4.01
Thái Lan 10.13
Xuất khẩu gạo thế giới năm 2004 (triệu tấn)
Giá gạo 5% tấm, USD/tấn, FOB
221
232
235
263
205
226 226
233
quý
I/2004
quý
II/2004
quý
III/2004

Để giải
quyết tình trạng này đòi hỏi chính phủ phải quan tâm hơn nữa đến việc thu hút
vốn đầu tư vào khu vực nông thôn, mà trước tiên là phải có biện pháp tận dụng
tốt nguồn vốn ODA để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở cho các vùng nông thôn,
các vùng nông nghiệp trọng điểm của đất nước.
1.1.4.2. Chênh lệch giàu nghèo gia tăng trong khi thời gian
lao động chưa được sử dụng ở nông thôn vẫn còn ở mức cao
Mặc dù đời sống của người dân Việt Nam nói chung được cải thiện nhưng
có một thực tế là khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. “Thu nhập của 20%
nhóm hộ giàu nhất so với 20% nhóm hộ nghèo nhất nếu năm 1990 mới có 4,1%
lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là 6,2 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1995
là 7 lần, năm 1996 là 7,3 lần, năm 1999 là 7,6 lần và năm 2002 đã lên 8,1 lần,
đến nay có thể cao hơn”
( )3
. Hệ số Gini cũng cho ta thấy sự bất bình đẳng đang
tăng dần, hệ số này tăng từ 0,33 năm 1993 lên 0,37 vào năm 2003. Sự chênh

1

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, ngày 26/7/2005, tin tức thời sự VTV
2
GS. Đào Công Tiến (2003), Nông nghiệp và nông thôn-Những cảm nhận và đề xuất, trang 16
3
Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2004-2005 Việt Nam và thế giới, trang 12

16
lệch này có nguyên nhân từ khả năng thụ hưởng thành quả của sự tăng trưởng
kinh tế giữa các nhóm dân cư là khác nhau và cũng chính là sự khác nhau giữa
khu vực nông thôn và khu vực thành thò.
Theo Đỗ Thiên Kính

Đỗ Thiên Kính (2003), Phân hóa giàu-nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống
cho người dân Việt Nam.
2
GS.Nguyễn Văn Thường (chủ biên), trang 20

17
1.1.4.3. Bất bình đẳng trong tiếp cận các dòch vụ giáo dục
và y tế giữa thành thò và nông thôn
Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới việc ổn đònh và phát triển sức sản xuất
cũng như nâng cao thu nhập của người nông dân bởi nó có liên quan tới chất
lượng cuộc sống của họ và ảnh hưởng tới môi trường đầu tư. Vì thu nhập của
đại đa số người dân nông thôn là thấp nên khoản chi cho giáo dục cũng trở nên
eo hẹp, cơ hội để người dân nông thôn đầu tư cho con cái họ học lên cao thật
hạn chế (phụ lục 13). Không những việc học lên cao đối với người dân nông
thôn bò cản trở do vấn đề tài chính mà còn bởi vì các cơ sở đào tạo kỹ thuật,
các cơ sở đào tạo nghề, các trường cao đẳng và đại học tập trung ở xa nơi sinh
sống của họ mà cụ thể là tại các trung tâm đô thò, các thành phố lớn, đây là
một trở ngại không nhỏ, nhất là đối với những hộ nông dân. Ngoài việc cơ hội
học tập và học tập lên cao của người dân nông thôn bò hạn chế bởi những khác
biệt giữa nông thôn và thành thò, chất lượng giáo dục phổ thông mà con em các
hộ gia đình nông thôn được hưởng cũng thấp hơn nhiều so với ở thành thò. Lý
do của tình trạng này là khả năng cho con cái họ tiếp xúc các phương tiện giáo
dục hiện đại thật sự bò hạn chế, nhiều con em các gia đình nông thôn còn phải
phụ việc của gia đình, và quan trọng hơn cả là cơ sở vật chất và trình độ giảng
dạy phổ thông tại nông thôn thấp hơn thành thò (phụ lục 14).
Ngoài sự thiệt thòi về tiếp cận giáo dục, người dân nông thôn còn phải
chấp nhận sự hạn chế trong khả năng tiếp cận các dòch vụ y tế. Người ta cho
rằng không có gì đáng ngạc nhiên khi 20% dân số chiếm tỷ lệ cao trong số
những người sử dụng bệnh viện, trong khi nhóm 20% dân số nghèo nhất lại
chiếm tỷ lệ cao trong số những người sử dụng các trung tâm y tế xã và dựa

phát triển nên giá cả của nguyên liệu và chất lượng cũng như khả năng đa dạng
hóa sản phẩm từ nguồn nguyên liệu nông nghiệp vẫn còn nhiều bất ổn và yếu
kém so với các nước, chưa tận dụng được hết lợi thế của đất nước
( )1
.
Thứ hai là sự thiếu liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp. Các ngành
công nghiệp phục vụ cho phát triển nông nghiệp chưa thật phát triển, cụ thể là
công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế biến còn nhiều yếu kém, là nguyên
nhân của tình trạng xuất thô hàng nông sản còn nhiều và phụ thuộc lớn vào
nguồn cung phân bón từ bên ngoài. Ngoài ra, các ngành công nghiệp chế biến
lại tập trung ở đô thò, và phần lớn là sản xuất hàng hóa tiêu dùng với nguyên
phụ liệu phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung từ nước ngoài.

1
GS.TS. Bùi Xuân Lưu (chủ biên), chương III

19
1.2. Liên kết nông nghiệp - du lòch với sự phát triển nông nghiệp và
nông thôn
1.2.1. Liên kết ngành với tính bền vững của hoạt động sản xuất nông
nghiệp
1.2.1.1. Phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Thế nào là phát triển bền vững? Người ta cho rằng có rất nhiều đònh nghóa
về phát triển bền vững (TS. Trần Nam Bình)
( )1
và cũng có nhiều tranh luận về
các đònh nghóa này nhưng nhìn chung các đònh nghóa đều hướng vào việc đảm
bảo ba mục tiêu chung mà phát triển bền vững cần phải đáp ứng và cân đối là:
kinh tế, xã hội và môi trường. Do đó, phát triển bền vững đòi hỏi phải: liên tục
tăng sản phẩm trên đầu người; thành quả tăng trưởng được san sẻ tương đối

tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa – xã hội của các cộng đồng sống ở
nông thôn, và giảm thiểu khả năng bò tổn thương trong nông nghiệp, củng cố
lòng tự tin trong nông dân.
Ở bài viết này chỉ tập trung sự chú ý vào khía cạnh quan hệ giữa đời sống
của người dân nông thôn với phát triển nông nghiệp bền vững. Đời sống kinh tế
của người dân nông thôn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong thời điểm hiện
nay khi bàn tới việc phát triển nông nghiệp bền vững. Đối mặt với những áp
lực mưu sinh trong cuộc sống, người dân nghèo nông thôn “nhấn mạnh nhận
thức của họ, cho rằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên là mạng lưới an sinh
của họ” (xem Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, trang 68). Người nghèo nước
ta phần lớn tập trung ở vùng nông thôn và tham gia vào sản xuất nông nghiệp
nên vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay trước hết là vấn đề nâng
cao thu nhập cho người nông dân nghèo. Người lao động
nông thôn
Bẫy nghèo
khổ
Hành động từ bên
trong (của bản
thân người lao
động nông thôn)
Tác động từ
bên ngoài Khó khăn và thường
xuyên nảy sinh hậu
quả tiêu cực

khoản thu nhập mới và áp lực chạy theo sản lượng với mọi hình thức trở nên
giảm bớt.
Thông qua phát triển du lòch, bài toán tiêu thụ sản phẩm đối với người
nông dân trở nên dễ chòu hơn và còn có ưu điểm là không tốn công vận
chuyển, sản phẩm đến trực tiếp với người tiêu dùng.
Tài nguyên cho du lòch có sự gần gủi với tài nguyên nông nghiệp và sản
phẩm của hoạt động nông nghiệp cũng có thể trở thành tài nguyên và sản
phẩm phục vụ hoạt động du lòch mọi lúc mọi nơi.
Khác với việc thu hút hoạt động công nghiệp đòi hỏi phải có một cơ sở hạ
tầng hoàn thiện nhất đònh và đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải có
kỹ năng cụ thể và rõ ràng, việc đưa hoạt động du lòch về nông thôn tương đối
thuận lợi hơn. Hơn thế, xu hướng thưởng thức các giá trò do thiên nhiên mang
lại đối với người dân thành thò ngày càng rõ nét. Hoạt động thưởng thức các giá
trò văn hóa mới mẻ đối với những người khách quốc tế cũng là một nhu cầu có
thực và nông thôn chính là đòa bàn lý tưởng.
Do vậy, kênh du lòch đáng là một kênh cần phải được quan tâm để thúc
đẩy sự phát triển đời sống kinh tế của người dân nông thôn trong bối cảnh kênh
công nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn. Làm được việc này chính là giải tỏa
được một nguy cơ của sự phát triển không bền vững bắt nguồn từ sự khó khăn
trong việc mưu sinh của người lao động nông thôn do thiếu việc làm.
1.2.1.2. Du lòch bền vững với vấn đề bảo tồn hệ sinh thái
nông nghiệp và đa dạng sinh học

22
Theo nhiều tác giả, chính sách bảo vệ môi trường tốt nhất là đi từ gốc bao hàm
các biện pháp phòng ngừa dài hạn
( )1
, đòi hỏi phải hạn chế các phương pháp
canh tác dùng nhiều hóa chất và thúc đẩy sự hiểu biết về môi trường thông qua
thông tin tuyên truyền. Nhưng những biện pháp để thực thi chính sách như vậy

xem “Thương mại-môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam”, NXB CTQG, 1998, trang 31.
2
TS. Đinh Phi Hổ, trang 223.
3
Đỗ Thiên Kính, trang 87 và 150.

23
việc nâng cao học vấn so với việc tìm kế sinh nhai cũng không ngang bằng với
người dân thành thò. Một điểm cần chú ý trong số các phát hiện của ông Đỗ
Thiên Kính đó là trình độ học vấn cấp hai cũng không có tác dụng gì nhiều hơn
so với cấp một trong cuộc sống, và theo tác giả thì nội dung chương trình cấp
hai chưa gần với cuộc sống thực tế chính là nguyên nhân của nó (xem trang
122). Tất cả những yếu tố đó hội lại làm cho khả năng phát triển nhận thức về
vai trò quan trọng của việc bảo tồn sự đa dạng của hệ sinh thái, cũng như nhận
ra được việc làm nào là không có lợi cho môi trường tự nhiên của người nông
dân nhất là nông dân nghèo thật sự gặp trở ngại. Vậy thì sự liên kết ngành có
thể giúp giải quyết thực trạng này như thế nào.
Dễ thấy nhất là nó giải quyết được tính sinh động và tính thiết thực của
hoạt động phát triển ý thức của người dân sống ở vùng nông thôn về môi
trường. Có hai hướng tác động chính dựa trên nguyên tắc này của việc liên kết
là: 1) từ lợi ích có được của phát triển du lòch nông thôn, du lòch sinh thái sẽ tạo
động lực cho người dân hưởng lợi tham gia vào các chương trình và 2) các biện
pháp phối hợp chính sách của hai ngành tác động trực tiếp đến những công việc
thực tế thường ngày của người nông dân, làm cho họ dễ tiếp nhận hơn. Mô hình
du lòch cộng đồng tại thôn Dõi, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế là minh
chứng xác thực (bản tin thời sự VTV, ngày 28/8/2005). Người dân tham gia trực
tiếp vào hoạt động phục vụ du khách và ý thức về giữ gìn môi trường trở nên
phát triển.
1.2.1.4. Liên kết ngành với vấn đề phát huy sự tham gia
của cộng đồng nông thôn vào các hoạt động kinh tế - xã hội

án của họ và khi nó thành hiện thực thì diễn ra kết quả là sự di dời dân cư tại
nơi thực hiện dự án đi nơi khác. Ở trường hợp thứ hai, rất ít khi nguyên trạng
của môi trường sống tự nhiên được giữ lại. Chúng ta cũng dễ nhận thấy rằng
đối với những người đã trả tiền cho các tour du lòch thì khoản tiền họ đã chi cho
các công ty tổ chức tour được hiểu là đã bao gồm sự chi trả cho việc bảo vệ
môi trường (theo khảo sát tại Nepal)
( )2
. Do vậy, các hoạt động của họ không
được kiềm chế, họ chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn tối đa nhu cầu giải trí cho
chính mình. Việc giám sát xem các tác động của họ tới môi trường của một khu
du lòch sinh thái cũng tỏ ra hạn chế hơn so với việc du khách tự túc và được dân
đòa phương phục vụ (thực tế khảo sát đó cho thấy khách du lòch tự túc thường
xuyên thuê dân đòa phương làm người hướng dẫn), hơn nữa khảo sát còn cho
thấy thời gian để truyền tải các vấn đề có liên quan đến văn hóa và môi trường
sống của đòa phương thật sự thuận lợi hơn khi khách du lòch là tự túc do họ thích
ở tại nhà dân. Người dân sống trong khu vực được lợi hơn khi du khách hòa
nhập với cộng đồng dân cư trong khu vực và chi tiêu cho nhu cầu cá nhân tại
những nơi do người dân trong vùng cung cấp
3
.
Như vậy, việc phát triển du lòch liên kết với nông nghiệp - nông thôn mà
ở đó người dân là người trực tiếp cung cấp các dòch vụ (nhà trú chân gia đình,

1
TS. Nguyễn Văn Bảy (10/2000), “Phát triển cộng đồng nông thôn”, Tài liệu bồi dưỡng về nghiên cứu
phát triển nông thôn bền vững, Chương trình nghiên cứu Việt Nam -Hà Lan, TPHCM.
2
Matt Pobocik and Chritine Butalla (1998), “Development in Nepal: the Annapurna Conservation Area
Project”, Sustainable Tourism: a Geographical Perspective, Longman, New York, pp. 167.
3

òch
Thông
tin
không
hoàn
hảo
Điều kiện
đặc thù
Lãi suất ưu
đãi
Khả năng
huy động
tiết kiệm
Sự phát triển
của khu vực
nông thôn
Chi phí
giao
dòch
Quy mô
Sơ đồ 2: Các yếu tố gây trở ngại cho sự phát triển của các đònh chế tín dụng nông thôn
chính thức

Mật độ
Cấu trúc tổ
chức của các
đònh chế tín
dụng chính thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status