Tiểu luận Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất - Pdf 27

Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường đất với tư cách là thành phần môi trường của môi trường sinh thái
chung nên nếu như môi trường đất bị tiêu diệt thì môi trường sinh thái sẽ không còn
tồn tại được nữa. Ngày nay cuộc sống của con người càng phát triển kèm theo các tác
nhân lý hóa mà các thành phần của đất thay đổi làm cho đất bị ô nhiễm và ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe của con người. Vì vậy cần phải có biện pháp bảo vệ phòng
tránh và cải tạo những vùng đất bị ô nhiễm.
Ở Việt nam hiện nay có khoảng 2 triệu ha đất nhiễm phèn. Qua nghiên cứu cho
thấy việc sử dụng diện tích này một cách có hiệu quả phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, ngư nghiệp ngày càng trở thành một vấn đề cấp bách cho nền kinh tế quốc
dân. Nắm bắt được vấn đề trên rất nhiều nhà nghiên cứu và nhà khoa học đã dựa vào
nguồn gốc, sự phân bố phân loại cũng như thành phần, sinh thái môi trường của vùng
đất phèn để tìm hiểu những lý hóa tính, độc tính cũng như sự biến động độc chất trong
nó để tìm ra phương hướng sử dụng đất sao cho hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất. Chính
vì vậy nên em đã chọn đề tài : “ Đất phèn và xử lý phèn của đất”.
Do thời gian và trình độ có hạn nên em chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu tổng
quan về đất phèn cũng như phương pháp xử lý của nó. Nhưng nó sẽ là nền tảng của em
sau này khi nghiên cứu sâu hơn về đất phèn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Huy Bá đồng cảm ơn Thư Viện trường Đại
Học Công nghiệp đã tạo điều kiện cho em hoàn thành bài tiểu luận này. Do sự hiểu
biết và trình độ còn hạn chế nên mắc những sai sót, mong thầy cô góp ý để bài tiểu
luận của em được hoàn thiện hơn.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 1
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
MỤC LỤC
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 2
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẤT PHÈN
1.1. Định nghĩa
Đất phèn là đất chứa nhiều gốc sunphat (SO

Sự hình thành đất phèn là kết quả của sự tích tụ Pyrit trong điều kiện đất ngập
nước, ở đất chứa nhiều chất hữu cơ, sunphat, sắt, nhôm. Đất phèn được hình thành ở
vùng nước lợ hoặc ở vùng biển cũ và có sự tham gia của vi sinh vật trải qua các giai
đoạn như sau :
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 3
Ảnh phẫu diện đất phèn hiện tại ở Quỳnh Phụ Thái Bình
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
 Ion SO
4
2-
bị khử trong điều kiện thiếu Oxy , có sự tham gia của vi sinh
vật yếm khí. Trong giai đoạn này cần phải có đầy đủ hữu cơ để làm
nguồn thức ăn cho vi sinh vật yếm khí Thiobacillus.
 Tiếp đi phản ứng giữa sunphure H
2
S với sắt có trong đất để tạo thành
FeS
2
( Pyrit). Giai đoạn này nếu có đủ Canxi thì không sinh ra phèn.
Nhưng nếu thiếu Canxi thì phản ứng tiếp tục ở giai đoạn 3.
 Nếu có oxy xâm nhập quá trình oxy hóa FeS
2
sẽ xảy ra để tạo thành
FeSO
4
và H
2
SO
4
theo phản ứng :

(SO
4
)
3
+ H
2
O
Trong đất xuất hiện từng vệt màu vàng trấu, chính là màu vàng của Fe
2
(SO
4
)
3
.
Ở đây cũng có phản ứng thuận nghịch xảy ra :
Fe
2
SO
4
+ 2H
2
O  Fe(SO
4
)OH + H
2
SO
4
.
H
2

SO
4
2-
mà SO
4
2-
này có nguồn gốc
nước biển và trầm tích để tạo thành
sunphure sắt và các sunphure khác
 Giai đoạn 2: Sau đó cần có môi
trường oxy hóa sunphure sắt để tạo
thành H
2
SO
4
, Al
2
(SO
4
)
3
, FeSO
4
. Đất trở nên chua, hóa phèn.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 4
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
 Giai đoạn 3: Nếu trong đất có CaCO
3
thì phản ứng tiếp tục theo một chiều
hướng sau :

hóa từng phần thành sunphua. Sự tác động qua lại giữa các ion sắt II và
sắt III với sunphit và sunphua cũng có sự tham gia của vi sinh vật. Như
vậy sự tạo thành Pyrit ( FeS và FeS
2
) cần có sunphat, sắt , chất hữu cơ đã
phân hủy, vi khuẩn có khả năng khử sunphat trong điều kiện yếm khí và
thoáng khí xảy ra luân phiên nhau qua không gian và thời gian.
 Đất phèn cố định : hay còn gọi là đất phèn hoạt tính. Khi đất phèn tiềm
tàng thoáng khí trong một thời gian lâu, khi mà mạch nước ngầm giảm
xuống dưới lớp đất chứa Pyrit trong nhiều tuần lễ để có quá trình phèn
hóa từ phèn tiềm tàng thành phèn hoạt tính. Lớp Pyrit còn ẩm ướt do sự
nâng lên của mặt đất hoặc bờ biển hoặc sự lên xuống thủy triều…và
được oxy thâm nhập, thì những hạt pyrit li ti, sẽ bị oxy hóa thành những
sunphat sắt 2 (dễ hòa tan) và axit sunphuric. Dưới tác dụng của vi khuẩn
Thiobacillus chuyển Fe
2+
thành Fe
3+
để tạo thành phèn. Sự xuất hiện của
Fe
3+
dưới dạng Fe
2
(SO
4
)
3
và của KFe
3
(SO

ta phân loại đất phèn theo các cách khác nhau. Ví dụ như phân loại của nhân dân vùng
đất phèn vùng Nam Bộ Việt Nam như sau :
* Nhân dân vùng đất phèn Nam Bộ xếp loại đất phèn theo kinh nghiệm sản xuất và
đặc trưng hình thái của đất phèn hoặc theo phẫu diện đất phèn:
 Phèn nóng: Chủ yếu do sunphat sắt FeSO4 , Fe2(SO4)3 tạo thành, ít nhôm và
sunphat nhôm. Mức độ độc hại loại phèn này ít hơn so với phèn nhôm. Trên
mặt nước ở ruông, ở kênh thường có một lớp váng vàng . Váng vàng này dính
vào tay chân khi làm ruộng, thường gây ngứa và dễ gây mục quần áo.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 6
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
 Phèn lạnh : Chủ yếu do sunphat Nhôm tạo nên Al2(SO4)3, loại này độc hại hơn
phèn nóng. Nước trên ruộng và trong kênh mương ở khu vực đất phèn này
trong suốt (nhìn thấy đáy kênh mương). ở những vùng này, trong vụ hè thu,
nếu không đủ nước tưới dễ bị xi phèn gây chết lúa và cây cối. Các loại động
thực vật rất khó sống và phát triển ở vùng này.
 Phèn đỏ : Một số vùng ở miền tây gọi là phèn đỏ, về bản chất phèn đỏ cũng
như phèn nóng, do Sunphát Sắt và Oxyt sắt ngâm nước gây nên. Nước trên
ruộng thường có váng vàng đỏ ánh trên mặt. Mức độ độc hại không cao.
 Phèn trắng : Về bản chất phèn trắng giống như phèn lạnh, do Sunphát nhôm
gây nên. Ở những vùng phèn nhiều và thiếu nước vào cuối mùa khô, muối
Al2(SO4)3 bốc lên mặt và kết tinh thành những hạt muối tròn có đường kính vài
milimét dính với nhau thành từng cụm, khi ẩm thì nhờn trơn, khi khô thì dòn,
nhẹ, dễ vỡ, dễ tan vào nước.Ở những vùng đất phèn xuất hiện loại muối này
trên mặt đất vào cuối mùa khô tức là đã đạt đến đỉnh cao của sự độc hại, vào
những trận mưa đầu mùa nếu lượng mưa không đủ lớn để rửa trôi và đưa muối
này ra những kênh lớn hoặc thấm xuống tầng sâu mà đọng lại ở một số vùng
trũng, thấp thì nước rất trong, nhưng rất độc hại. Trâu bò, lợn gà uống phải
nước này dễ bị chướng bụng và có thể dẫn đến tử vong.
 Phèn đen : Những vùng phèn có tầng hữu cơ lẫn lộn với hợp chất phèn thường
gặp ở những vùng trũng hoặc vùng rừng U minh. Phẫu diện thường có mầu

- Theo thống kê thì đất phèn hoạt tính hay đất phèn tiềm tàng thì đều có tỷ lệ sét
50 – 65%, ở các tầng sâu thì tỷ lệ sét cao hơn.
- Phần cơ giới nặng (sét cao) của đất phèn gắn liền với quá trình hình thành
của nó. Đất phèn lắng tụ trong phù sa biển nên vật liệu được mang về bồi đắp lên vịnh
hoặc biển cũ thường rất mịn. Thành phần rất mịn này đã tạo nên tỉ lệ sét cao, thành
phần cơ giới nặng.
 Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành phèn và gây nhiều khó
khăn cho quá trình sử dụng và cải tạo đất phèn.
 Ở Việt Nam thì thành phần cơ giới của đất phèn thuộc đồng bằng Bắc Bộ
thường có hàm lượng sét cao hơn các loại đất khác ở khu vực, nhưng vẫn nhỏ
hơn ở đồng bằng Nam Bộ.
2.1.3. Thành phần khoáng sét
Bằng phương pháp nhiễu xạ quang tuyến cho biết là thành phần khoáng sét của
hai phẫu diện đất đều giống nhau và gồm các loại sau :
 Khoáng illite : Là khoáng chủ yếu trong thành phần sét của đất và được nhận
biết bởi các đỉnh của cấu trúc có độ dài 10A
0
, 5A
0
, 3,3A
0
.
 Khoáng Kaolinnite : Là loại có lượng tương đối sau illite nhận biết bởi các đỉnh
7,1A
0
, 3,56A
0
.
 Ngoài ra còn một số loại khoáng có mức độ ít hơn trong thành phần của sét như
monmorilonite, nhận biết bằng các đỉnh 18A

6,9
60,1
58,2
59,3
55,2
61,2
27,2
15,8
23,9
8,7
21,3
Qua bảng thấy: Tính trương co của đất phèn rất lớn do hàm lượng sét cao và hàm
lượng hữu cơ lớn. Khi khoáng sét mất nước sẽ co lại. Mặt khác, khi chất hữu cơ mất
nước, cũng teo lại đã làm cho tỷ lệ co của đất này lớn. Như vậy, nguyên nhân của sự
trương co lớn có liên quan trực tiếp đến hàm lượng hữu cơ và hàm lượng sét trong đất.
Tính trương co của đất phèn có thể làm cho cây trồng bị đứt rễ khi đất cạn nước và có
liên quan đến công tác thủy lợi như xây dựng công trình, nứt nẻ bờ kênh, mất nước
trên kênh, vỡ kênh và hiện thẩm lậu của nước trong ruộng phèn
2.1.5. Nhiệt độ đất phèn
Nhiệt độ có liên quan đến độ ẩm đất, đến độ hòa tan không khí đến hoạt động
hệ vi sinh vật và liên quan đến đặc tính phèn của đất.
Việc sử dụng đất phèn phải lưu ý đến thực vật che phủ. Bởi vì sự chênh lệch
nhiệt độ sẽ làm bốc phèn, bốc mặn lên mặt đất, làm đất hóa phèn nhanh chóng và gây
hại cây trồng.
2.1.5. Tỷ trọng đất phèn
Nói đến tỷ trọng đất tức là nói đến trọng lượng tính bằng g/cm
3
đất khô kiệt mà
các hạt đất xếp sít vào nhau,không có khe hở. Tỷ trọng có liên quan đến thành phần sét
cát và chất hữu cơ trong đất. Kasinky đánh giá đất trồng với mức tỷ trọng như sau :

Theo các tác giả chú giải ở bản đồ đất Bắc Việt Nam, thì xếp loại đất:
Rất giàu mùn: >8%
Giàu mùn: (2 ÷ 8%)
Mùn trung bình: 1-2%
Rất nghèo mùn < 1%.
Thông thường tầng mặt có hàm lượng mùn cao hơn các tầng dưới. Bởi vì đất
phèn ở vùng trũng thường nhận sự rửa trôi các vùng khác đến và bản thân những cây
cỏ sống trên bề mặt của đất, chết đi, phân giải thành mùn và không bị rửa trôi.
2.2.2. Đạm trong đất phèn
Thông thường khi đất giàu chất hữu cơ và mùn thì sẽ giàu đạm. Bởi vì đạm là
sản phẫm phân giải của chất hữu cơ. Đất phèn nghèo đạm dễ tiêu, có nơi chỉ có vài
chục ppm thậm chí chỉ có vệt. Vì vậy việc bón đạm cho đất phèn là quan trọng.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 11
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
2.2.3. Lân ( P
2
O
5
) trong đất phèn
Lân trong đất phèn có nhiều dạng như lân hữu cơ, lân vô cơ , lân hữu – vô cơ
hay lân dạng hòa tan. Ví dụ lân ở dạng PO
4
3-
lân hữu cơ là lân trong liên kết của chất
hữu cơ. Đó là lân trong thân thể vi sinh vật ở rễ cây, những hợp chất hữu cơ đang phân
giải và mùn.
Nguyên nhân của sự rất nghèo lân ở đất phèn vì pH thấp độ hòa tan và tái tạo
lân yếu. Mặt khác lân vô cơ trong đất phèn thường tồn tại chủ yếu ở dạng
photphatcanxi có khả năng thủy phân.
2.2.4. Canxi trong đất phèn.

Clay-Al + Mg
2+
+Na
+
→ clay - Mg, Na +Al
3+
.
Khi pH trong đất cao nhôm sẽ bị kết tủa theo phương trình sau:
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 12
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
Al
3+
+ 3H2O  Al(OH)3 + 3H
+
.
Lượng Mg
2+
trao đổi ở đất phèn thường cao hơn Ca
2+
khoảng 0,1- 17 lđl/100g.
Cũng như canxi, magiê có ít ở đất phèn nhiều còn ở đất phèn mặn và phèn tiềm tàng
ven biển, giàu manhê hơn. Magiê cần cho cây trồng, ở đất phèn không có biểu hiện
thiếu magiê.
2.2.6 Natri trong đất phèn
Ta thấy natri trao đổi (Na
+
) trong các loại phèn không thiếu, trong đó ở đất phèn
tiềm tàng và phèn mặn khá cao. Về mùa khô Na
+
bốc lên mặt tạo thành một lớp muối

nhưng ở đất phèn mặn Na lại là yếu tố hạn chế sự

phát triển của cây trồng.
2.2.7. Một số chất khác trong đất phèn
Kali: Trong đất phèn kali tổng số có thể từ 0,05 - 0,25%, không có biểu hiện
thiếu kali.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 13
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
Mangan (Mn
2+
): Mangan có trong đất với các hoá trị khác nhau Mn
2+
,Mn
4+
,
Mn
6+
và Mn
8+
. Điều đó dẫn đến sự có mặt phức tạp của Mangan trong các hợp chất
trong đất. Trong môi trường đất phèn Mangan thường ở dạng Mn
2+
, có hàm lượng cao
nhưng chưa gây độc cho cây trồng, nhưng khả năng di động của Mn+2 khá lớn.
Mn
2+
- 2e → Mn
4+
Vi lượng khác trong đất phèn: Trong các mẫu phân tích các vị lương trong đất
phèn Nam Bộ thấy: Đất nghèo đồng, nghèo coban, không nghèo kẽm.

, H2SO4, SO
4
2-
, HCl làm cho pH giảm.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng : pH tương quan nghịch với hàm lượng của
Al
3+

và Fe , SO4
2-
trong đất.
pH là yếu tố dễ nhận biết và là yếu tố đầu tiên đánh giá tính phèn của một loại
đất phèn, nhưng không nói hết được bản chất của đất phèn.
2.3. Độc chất trong đất phèn
2.3.1 Khái niệm
Đất phèn, xét về mặt tính chất và bản chất của nó, chính là xét về độc chất. Hay
nói đúng hơn là những ion gây độc cho cây và súc vật cũng như con người.
Một chất được gọi là độc, thường đi kèm với hàm lượng của nó có trong dung dịch
đất, cây cối và trong cơ thể con người. Ở mức độ nhất định nào đó là không độc, thậm
chí lại cần thiết cho cây trồng, nhưng mức độ tới hạn nào đó lại độc. Mức độ này tùy
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 14
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
thuộc vào bản chất của chất đó, tùy thuộc vào môi trường nó hoạt động, dạng nó tồn
tại và đối tượng nó gây độc. Có thể không độc hoặc chưa độc cho một cây nào đó
nhưng lại độc, thậm chí gây chết cho một cây trồng khác.
Ví dụ : NH4 là một chất dinh dưỡng cho cây trồng tuy nhiên khi hàm lượng
trong đất vượt quá 1/500 lại gây độc hại cho các loại cây trồng. Hay Mn
2+
có hàm
lượng vượt quá 1 – 10

rất cao, trên mức chịu đựng của cây trông rất nhiều, vì vậy gọi là các độc tố trong đất
phèn.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 15
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
2.3.2 Các loại độc chất
2.3.2.1. Nhôm ( Al
3+
)
Độc chất nhôm có hoá trị là +3 (Al
3+
). Trong dung dịch khi pH = 4,1 nhôm sẽ
lắng tụ (điểm đó được gọi là điểm trầm lắng của nhôm). Trong môi trường axit H2SO4,
Al
3+
có khả năng di động mạnh.
Nhôm trong đất phèn, một phần là sản phẩm của sự rửa trôi tích tụ, trong quá
trình Feralit; phần chủ yếu do quá trình phèn hoá : sau khi đã có H2SO4, trong đất,
H2SO4 liền tác dụng vào keo đất đã giải phóng ra Al
3+
tự do, trong điều kiện đó pH
giảm xuống 2- 3,5 trong dung dịch, Al
3+
có thể ở dạng Al
3+
tự do, cũng có thể liên kết
với sắt, kali, và sunphat, tạo nên những sunphat sắt II và sunphát sắt III, nhôm lơ lửng
trong nước, khi gặp những hạt bụi sét, sẽ kéo các hạt bụi này lắng xuống đáy ruộng đó
cũng chính là nguyên nhân làm cho nước ở các vùng đất phèn nhôm rất trong.
Trong các tầng đất phèn Al
3+

bị đên nhưng mất hết lông hút, rễ ngắn nhất là trọng lượng rễ bị ảnh hưởng
lớn.
 Trong đất Al
3+
có thể ở dạng Al
2
(SO
4
)
3
là những tinh thể khi khô dòn, xốp
dễ vỡ, khi ẩm lờm nhờm, tê lưỡi hoặc có trong thành phần của
jarosite.Trong dung dịch đất, Al
3+
được giải phóng từ các alumin silicat khi
pH thấp.
 Trong đất phèn hoạt tính Al
3+
mới xuất hiện nhiều; còn trong đất phèn tiềm
tàng, Al
3+
vẫn chưa được xuất hiện mà còn ở trong keo đất.
Nhôm biến động rất phức tạp, tuy nhiên các nghiên cứu lại cho thấy nó có quan
hệ khá chặt chẽ với pH ở trong đất. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa pH môi trường và Al
3+
là một đường hyberbol, mà đường tiệm cận dưới pH = 2.95, nghĩa là pH giảm từ 6
xuống 2.95 thì Al
3+
tăng rất cao. Nhưng khi pH < 2.95, Al
3+

≥ 600ppm bắt đầu có ảnh hưởng, trên 1000 ppm gây
chết cây lúa. Tuy nhiên, Fe
2+
dễ bị oxy hóa thành Fe
3+
có màu vàng nâu đỏ, mà Fe
3+

độ hòa tan thấp nên ít độc.
Đất phèn nhiều Fe nông dân gọi là “đất phèn nóng”. Tuy không độc bằng Al
3+
nhưng Fe
2+
gây độc cho cây con, bộ phận rễ bị đen, chóp rễ bị vẹt, trong cây tích lũy
cao Fe do Fe đã xâm nhập vào cây.
2.3.2.4. Một số chất khác.
* Sunphat ( SO
4
2-
) và lưu huỳnh (S )
Cùng với Fe thì SO
4
2-
là một trong hai nguyên tố đầu tiên tạo nên phèn. Dạng
gây độc chủ yếu là : H
2
S, SO
4
2-
, SO

sắt III trở thành ion sắt II.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 18
Đặc điểm những viên hình cầu của các tinh thể Pyrit nhỏ
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
* Jarosit
Là một hợp chất, là kết quả của quá trình oxyhoá sunphite và Pyrit (đã
được trình bày phần cấu tạo đất phèn). Trong đất khi đã xuất hiện Jarosit tức là pH
trong đất thấp, kéo theo việc tăng hàm lượng các độc tố gây hại cho cây. Trong thực tế
không chỉ các độc tố Al
3+
, Fe
3+
,Fe
2+
, SO4
2-
, Cl
-
, H
+
gây hại cho cây mà chính hợp chất.
Jarosit được hình thành cũng tham gia phá huỷ các bộ rễ của cây.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 19
Những cụm tinh thể Pyrit đang phân hủy rễ cây
trong đất phèn
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
2.3.3 Biến động độc chất trong đất phèn
Sự biến động độc chất rất phức tạp, phụ thuộc nhiềuyếu tố. Tuy nhiên sự biến
động đó, cũng có quy luật nhất định, nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu các mối tương
quan này và đã cho những kết quả khá trùng hợp nhau.

đước nhọn, vẹt.
Hình 13: Rễ cây tràm
Ngoài các loại thực vật kể trên trong tầng thực vật bị vùi lấp còn thấy xuất hiện
các loại cây khác như : Dừa nước, chà là, tràm. Qua nghiên cứu người ta thấy, ở những
vùng đất mà chỉ có các loại thực vật này chôn vùi thì S tổng số rất ít, không có khả
năng gây chua nhiều, pH của đất ở vào khoảng 5,5 - 6 .Như vậy chủng loại và chiều
sâu của các loại thực vật bị vùi lấp có ảnh hưởng lớn đến mức độ sinh phèn trong đất.
* Thực vật hiện tại : Thực vật đang sống trên đất phèn cũng thay đổi theo tính
chất của mỗi loại đất.Thực vật ở vùng phèn tiềm tàng thường có các loại Chà là, Ráng
dại, Lác biển,bàng, năng kim. Nếu là vùng đất phèn tiềm tàng sâu trong nội địa, là
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 22
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
vùng trũng ngập nước gần như quanh năm, gồm các loại thủy sinh mọc chìm dưới
nước hoặc chìm trong nước một phần. Các loại cây này mọc thành rừng dày với bộ rễ
khoẻ, làm giảm tốc độ dòng chảy, làm lắng đọng phù sa biển, chứa nhiều lưu huỳnh.
Bản thân chúng cũng tích lũy lưu huỳnh, khi chết đi thải ra nhiều lưu huỳnh, là nguồn
gốc đầu tiên sinh ra đất phèn.
Thực vật ở vùng đất phèn nhiều thường có: Năng ngọt (ở đất phèn nhiều chỉ có
loại cây này và một vài loại cây khác nữa, năng Ngọt rất thích hợp với PH = 4-5).
Trong cây năng tích lũy nhiều SO4 (0,6-0,9% trọng lượng khô ) và Al3+ (500 - 1500
ppm). Đặc biệt ở trong rễ tích lũy gấp hai đến ba lần ở thân lá.
Hình : Cỏ năng kim
3.1.2 Vi sinh vật và các động vật
* Vi sinh vật trong đất phèn : Có nhiều loại vi sinh vật trong đất phèn, vai trò
của chúng cũng khác nhau trong quá trình hình thành đất phèn. Nhưng chúng thực sự
có ý nghĩa trong việc tăng tốc độ hình thành đất phèn.
Có nhiều loài sống được trong điều kiện PH rất thấp (pH=2). Các loài vi khuẩn
trong đất phèn lấy năng lượng để sống từ các phản ứng oxy hoá và phản ứng khử trong
quá trình tạo phèn, chúng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy nhanh quá trình hình
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 23

hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ và chất kích thích sinh trưởng, dẫn
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Diễm 24
Xử lý ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
đến sự lan truyền độc tố từ vùng này sang vùng khác. Ngoài ra
còn do phế thải của hoạt động công nghiệp cũng như sinh hoạt.
 Do những vùng đất phèn nặng và trung bình: Khi xuất hiện những
vùng phèn nặng và trung bình, các độc tố trong đất xuất hiện với
hàm lượng cao thì chúng không chỉ xuất hiện và gây ảnh hưởng
tại những vùng đất phèn, mà do ảnh hưởng của chế độ nước trong
khu vực các độc tố sẽ lan truyền sang những khu vực lân cận:
• Làm đất bị nhiễm chua, nhiễm mặn.
• Tính chất hoá học của đất bị thay đổi.
• Chất lượng nước bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi.
• Chất lượng nước ngầm bị nhiễm bẩn
 Do sử dụng phân bón. Khi bón phân khoáng chỉ có 50% được
cây trồng sử dụng. Lượng còn lại tham gia vào vấn đề gây ô
nhiễm môi trường đất
• Biến đổi thành phần tính chất của đất nếu không sử dụng hợp
lý.
• Làm chua đất.
• Biến đổi cân bằng dinh dưỡng đất cây trồng.
• Một lượng lớn xâm nhập vào nguồn nước,vào khí quyển
 Do thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ :
• Hay gây nên hiện tượng “ phóng đại sinh học”
• Tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường đất
 Do chất thải công nghiệp sinh hoạt:
• Chứa sản phẩm độc hại ở dạng rắn. Nhiều nghiên cứu gần đây
đã chứng minh 50% chất thải công nghiệp là rắn: than, bụi, sỉ,
quặng vv. Và từ đó ước tính 15% gây độc hại và nguy hiểm
cho con người và đất đai. Chất thải sinh hoạt ở dạng rắn cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status