ĐHBK HÀ NỘI
Khoa Kinh tế và Quản lý
*******
Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc lập – Tù do – Hạnh phóc
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoài Lam
Líp: Quản trị doanh nghiệp Việt Pháp Khoá: II Kho¸: II
Họ và tên giáo viên hướng dẫn: Trần Thị Ngọc Lan
1. Tên đề tài tốt nghiệp:
Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính
của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
2. Các số liệu ban đầu:
- Thu thập tại Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
- Mét số tài liệu có liên quan
3. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
- Lời mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận TCDN và phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
- Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thương mại dịch vụ và
Xây dựng Hải Phòng
- Chương 3: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Thương mại dịch vụ và Xây
dựng Hải Phòng
- Chương 4: Một số đề xuất nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương
mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
4. Số lượng và tên các bảng biểu, bản vẽ: (kích thước Ao):
- Tù chọn để bảo vệ
5. Ngày giao nhiệm vụ thiết kế:
6. Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoài Lam Líp: Quản Trị Doanh Nghiệp
Tên đề tài: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình
hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
Tính chất của đề tài:…………………………………………………………
I. NỘI DUNG NHẬN XÉT:
1. Nội dung của đồ án:
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
11
I.1- Tài chính của doanh nghiệp thương mại
11
1.1. Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp thương mại 11
1.2.Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp 12
1.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp 13
1.3.1. Chức năng phân phối: 13
1.3.2. Chức năng giám đốc: 15
1.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp 16
1.5 Vốn và cấu thành vốn của doanh nghiệp 17
1.6. Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp 19
1.7. Phương pháp phân tích 21
1.8. Tài liệu để phân tích tình hình tài chính 23
I.2- Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 24
2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 24
2.2 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp 27
2.3. Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh 30
2.4. Phân tích khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh 35
ChươngII:QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNGTY THƯƠNG MẠI DỊCHVỤ VÀ XÂYDỰNG HẢIPHÒNG
38
I.SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN
PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY
DỰNG HẢI PHÒNG
38
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 38
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 39
1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 42
76
1.4. Phân tích hiệu quả hoạt động SXKD và khả năng sinh lợi của vốn 77
CHƯƠNG IV: MÉT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM CẢI THIỆN TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ
XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
81
IV.1. NHẬN XÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
81
1.1. Về tài chính: 81
1.2. Về tình hình thị trường thời gian tới 82
IV.2- MỘT VÀI Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH VÀ CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY
84
KẾT LUẬN 93
Phụ lục 01: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM
2000
95
Phụ lục 02: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
Lời mở đầu
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất cung
ứng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ trên thị trường với mục đích đem lại lợi
nhuận.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng
vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác.
Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có
hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp
một công cụ quan trọng cho công tác quản lý của chủ doanh nghiệp nói riêng và
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.
Không nằm ngoài những đối tượng xem xét kể trên Công ty Thương mại
dịch vụ và xây dựng Hải Phòng là một doanh nghiệp kinh tế độc lập, có tình
hình tài chính rất đáng được quan tâm như nguồn vốn chủ ở hữu thấp, các khoản
phải trả cao, chi phí lãi vay cao, khả năng thanh toán nhanh kém.
Sau một thời gian đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh ở Công ty Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng cho thấy hiệu quả
sử dụng vốn của công ty cần phải được nâng cao đặc biệt là nguồn vốn chủ sở
hữu . Do đó phân tích tình hình tài chính có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng qua
đó có thể tìm ra những phương hướng mang tính đề xuất và những biện pháp khả
thi nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đồng vốn của xí nghiệp góp phần
làm cho xí nghiệp đứng vững phát triển trong cơ chế thị trường.
Xuất phát từ ý nghĩa cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phân tích tài
chính với mong muốn được kết hợp giữa kiến thức quý báu thu được từ học tập,
những kinh nghiệm bổ Ých được tiếp thu qua đợt thực tập tốt nghiệp tại Công ty
Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng, cùng với sự hướng dẫn tận tình
của cô giáo Trần Thị Ngọc Lan em đã lùa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài
chính ở Công ty Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng và một số định
hướng nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ
và xây dựng Hải Phòng” làm đồ án tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đồ án tốt nghiệp được chia làm 4 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 3: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 4: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG
Như vậy, tài chính doanh nghiệp qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
sẽ tạo ra những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp đầy đủ tư liệu sản xuất, sức
lao động để doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh của mình.
Và ngược lại kết quả sản xuất kinh doanh cũng tác động trở lại tìnhhình tài
chính doanh nghiệp bởi để có được nguồn vốn thường xuyên nhằm đáp ứng mọi
nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp thì công việc sản xuất kinh doanh phải được
tiến hành ổn định và liên tục. Điều này thể hiện rất rõ ràng khi giá thành và chi
phí lưu thông giảm do tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư và chi phí khác
sẽ tạo khả năng tích luỹ và giảm bớt nhu cầu tiền tệ của doanh nghiệp. Tuy
nhiên ta cũng cần phải phân biệt tài chính doanh nghiệp với khả năng tài chính
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh nghiệp chính là tiền và các quỹ
tiền tệ và các quỹ tiền tệ mà doanh nghiệp hiện có và có khả năng huy động
được để đáp ứng cho các nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói một
cách khác đó chính là mục tiêu trước mắt, mục tiêu trực tiếp của tài chính doanh
nghiệp. Tài chính doanh nghiệp không phải là tiền hoặc là các quỹ tiền tệ nói
chung mà chính tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung và cho
hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng. Nhờ có nó mà các doanh nghiệp
thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi, tính toán và so sánh
trên cơ sở thước đo là đồng tiền. Mặt khác tài chính doanh nghiệp phải được vận
dụng một cách năng động và đo lường hiệu quả toàn bộ các hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp một cách chính xác và trung thực, đáp ứng lại
sự quan tâm của các đối tượng của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
1.2.Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ nắm vững tình hình kiểm soát vốn
SXKD hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn nhu cầu
vốn trong từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản
lý và thực hiện có hiệu quả.
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức khai thác và động viên kịp
thời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình SXKD, không để cho vốn bị
ứ đọng và sử dụng kém hiệu quả. Để làm điều kiện này tài chính doanh nghiệp
quyết định đến kết quả, tiến trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp do mét doanh nghiệp muốn hoạt động được cần phải có vốn. Đối với
doanh nghiệp Nhà nước, ngoài nguồn tài chính được ngân sách cấp khi thành lập
hoặc cấp bổ sung hàng năm thì doanh nghiệp còn có một nguồn tài chính khác.
Đó là nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp sau một quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh có lãi hoặc do nhận đóng góp tham gia liên doanh của các đơn
vị khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Đối với các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư
nhân thì ngoài nguồn vốn tự đóng góp và vốn tự bổ sung ra thì Công ty đó
không có nguồn vốn nào khác nữa. Muốn tăng thêm vốn thì các Công ty này chỉ
còn cách kêu gọi các cổ đông đóng góp thêm hoặc đi vay của Ngân hàng
- Hoạt động phân phối hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đã huy
động được để hình thành các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, các tài chính của
doanh nghiệp như tài sản cố định, tài sản lưu động , hoặc để đầu tư ở khâu
này yếu tố hiệu quả sử dụng vốn được đặt lên hàng đầu. Việc bố trí tỷ trọng hợp
lý giữa tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp phải tuỳ thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp, việc bổ sung vào các quỹ tiền tệ còn phải tuỳ thuộc
vào nhu cầu và tình hình tổ chức của doanh nghiệp thời gian tới Do vậy với
chức năng phân phối nguồn vốn của mình, tài chính doanh nghiệp phải xác định
được cơ cấu vốn hợp lý. Tuy nhiên có được một cơ cấu vốn hợp lý không phải
đơn giản, một phần là do lượng vốn của doanh nghiệp biến động thường xuyên
được bổ sung thêm do làm ăn có lãi hoặc bị giảm bớt neéu làm ăn thua lỗ, một
phần khác là do hoàn cảnh và điều kiện kinh doanh cũng thường xuyên biến đối.
Mặc dù vậy mỗi ngành kinh doanh cũng đều đưa ra một tiêu chuẩn chung nhất.
Đối với ngành kinh doanh thương mại thì do đặc điểm riêng có của hoạt động
kinh doanh, cơ cấu vốn hợp ký là tỷ trọng vốn lưu động phải lớn hơn vốn cố
định. Tỷ trọng này lớn hơn bao nhiêu thì còn phải tuỳ thuộc vào tình hình đặc
điểm nghiệp vụ kinh doanh và điêù kiện hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Hoạt động phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
muốn giám đốc được bằng đồng tiền thì phải thực hiện được quy luật giá trị và
các nội dung của giám đốc tài chính như: giám đốc nguồn vốn, quá trình chu
chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng
tiền tệ, quá trình thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về kinh tế tiền
tệ
Vậy, qua tìm hiểu về hai chức năng phân phối và giám đốc của tài chính
doanh nghiệp ta càng thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa chúng, thấy được sự
nâng đỡ, phụ thuộc lẫn nhau giữa giám đốc và phân phối. Để thực hiện tốt chức
năng phân phối thì chức năng giám đốc cũng phải được chú ý, đề cao và ngược
lại. Phân phối chỉ hợp lý nếu giám đốc có hiệu quả và giám đốc chỉ được nâng
cao nếu phân phối luôn được thực hiện tốt.
1.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
Các chức năng của tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong thực tế qua
các hoạt động của con người. Do vậy việc thực hiện nó phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tè mà trước hết là cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường. Tiếp theo đó là chế độ hạch toán kế toán và quản lý tài chính của Nhà
nước, yếu tố thị trường tài chính và trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp giữ nhiệm vụ trọng
yếu. Tuy nhiên ta có thể thấy tài chính doanh nghiệp có 4 vai trò lớn:
+ Đảm bảo vốn và nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp qua việc
thực hiện hai chức năng nêu trên. Nó là điều kiện để cho hoạt động sản xuất
kinh doanh được thực hiện thuận lợi theo mục đích đã định hoặc thông qua tổ
chức khai thác nguồn vốn và sử dụng vốn.
+ Vai trò là đòn bẩy kinh tế: nhờ có các công cụ tài chính như đầu tư, lãi
suất, cổ tức, lãi tức, giá bán, tiền lương, tiền thưởng mà tài chính doanh nghiệp
trở thành biện pháp kích thích đầu tư, nâng cao năng suất lao động của doanh
nghiệp, kích thích tiêu dùng, kích thích quá trình sản xuất kinh doanh và điều
tiết sản xuất kinh doanh.
+ Vai trò kích thích tiết kiệm và kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao. Nhờ
có tài chính tiền tệ hoá tất cả các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp thông qua
không có một chuẩn mực nào cho cơ cấu vốn trong doanh nghiệp mà vẫn đề
chính ta cần xem xét ở đây là sự tài trợ cho các nguồn vốn của doanh nghiệp có
được vững vàng không, lấy từ nguồn nào sự phân bổ loại vốn đã phù hợp với
tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa Một trong những
nguyên tắc cơ bản của tài trợ vốn đó là doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài
hạn để hình thành tài sản cố định và nguồn vốn ngắn hạn để hình thành tài sản
lưu động. Cách tài trợ này mang lại cho doanh nghiệp sự ổn định và an toàn về
mặt tài chính. Do vậy phải hết sức tránh điều này.
Trong doanh nghiệp thương mại, ta đã biết rằng tỷ trọng vốn lưu động luôn
chiếm đa số trong tổng tài sản của doanh nghiệp đó nên một nghiên cứu thêm về
nó là rất cần thiết. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng
do đó vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn liên tục và traỉ qua rất
nhiều các giai đoạn biến đổi hình thái biểu hiện, từ tiền tệ đến hiện vật và từ hiện
vậy trở lại thành tiền tệ. Sự vận động của nó được thể hiện chính bằng công tác
T-H-T’, chứa trong nó chính là quá trình vận động và chu chuyển của hàng hoá.
Quá trình này mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp tiếp
tục tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn lưu động chính là yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn lưu động
hợp lý cho phép doanh nghiệp có khả năng khai thác tối đa năng lực làm việc
của tài sản lưu động, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Mặt khác, nó còn góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển
vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.6. Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp:
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là xem xét kiểm tra đối chiếu
và so sánh số liệu về tài chính hình thành vơí quá khứ. Thông qua việc phân tích
hoạt động tài chính, người sử dụng thông tin (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các
nhà cho vay tín dụng, các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, dịch vụ và các nhóm
người quan tâm). Có thể đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các luồng tiền
mặt vào ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh tình hình khả năng thanh toán
cũng như khả năng tiềm năng hiệu quả sản xuất kinh doanh, rủi ro trong tương
chọn phương án sản xuất kinh doanh và đánh giá thực trạng tiềm năng của
doanh nghiệp.
* Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính:
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh, do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu
đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh
doanh, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tìnhhình các mặt hoạt động của
doanh nghiệp, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình các mặt hoạt
động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế. Những báo cáo này do kế toán
soạn thảo định kỳ, nhằm mục đích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài
chính của doanh nghiệp cho người cần sử dụng chúng. Các thông tin có được
đều phải qua phân tích các bao cáo tài chính kế toán.
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản
lý doanh nghiệp và cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động
tài chính xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các
phương pháp công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm giúp ngươì sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát lại, vừa xem
xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để nhận biết phán đoán,
dự báo và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.
1.7. Phương pháp phân tích:
Khi phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp cần sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau như:
- Phương pháp chi tiết (chi tiết theo các bộ phận, cấu thành chỉ tiêu, chi tiết
theo thời gian)
- Phương pháp so sánh xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so
Phương pháp dùa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chính
trong quan hệ tài chính. Sự biến đối các tỷ lệ đương nhiên là sự biến đổi các đại
lượng tài chính. Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu xác định được các
mức các giới hạn để nhận xét đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ
sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu sẽ được
phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh
toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động
kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
1.8. Tài liệu để phân tích tình hình tài chính:
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp người ta phân tích
phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau. Trong đó tài liệu quan trọng nhất được
sử dụng đó là các báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo tài chính doanh
nghiệp được quy định theo QĐ1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995.
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động SXKD
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Báo cáo thuyết minh, báo cáo tài chính và tình hình cụ thể của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính rất hữu Ých đối với việc quản lý doanh nghiệp, là nguồn
thông tin chủ yếu đối với người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là báo
cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình
hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính cũng như
kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
I.2- Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Chuẩn mực dùng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay
chưa tốt là những chỉ tiêu trung bình của ngành. Nếu một doanh nghiệp có các
chỉ tiêu tài chính phù hợp với mức trung bình ngành được gọi là chuẩn thì tình
hình tài chính được đánh giá là ổn định và vững chắc.
Nội dung phân tích hoạt động tài chính ở doanh nghiệp tập trung vào các
vấn đề sau:
biết cơ cấu của từng loại trong tổng số. Từ đó có thể đánh giá được mức độ hợp
lý hay chưa hợp lý của việc phân bổ vốn và dùa vào đây để nhận định xu hướng
biến động trong tương lai của từng khoản mục.
Phân tích kết cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầu
năm còn phải xem xét từng khoản vốn (Tài sản) của doanh nghiệp chiếm trong
tổng số để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng từng
khoản vốn (Tài sản) chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Nếu là doanh nghiệp
sản xuất phải có lượng dự trữ về nguyên vật liệu đầy đủ với nhu cầu sản xuất,
nếu là doanh nghiệp thương mại phải có lượng hàng hoá đủ để cung cấp cho nhu
cầu bán ra kỳ tới. Đối với khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanh
nghiệp bị chiếm dụng nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Ngoài ra khi nghiên cứu đánh giá sự phân bổ cuả TSCĐ và đầu tư dài hạn
trong tổng tài sản cần kết hợp sự biến động của nó với tỷ suất đầu tư để phân
tích chính xác rõ ràng hơn, qua đó có thể đánh giá xem xét doanh nghiệp sử
dụng hợp lý và hiệu quả TSCĐ hay không, quy mô Êy có đủ đảm bảo cho