GIỚI THIỆU CHUNG
Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng, trước đây là Công ty Cao su Đà Nẵng được thành lập tháng
12 năm 1975 từ một nhà máy đắp vỏ xe của quân đội Mỹ.
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, đến nay Công ty đã có thương hiệu, vị thế cả ở
trong và ngoài nước. Sản phẩm chính của Công ty là Săm lốp Ôtô, săm lốp Xe đạp, xe máy, lốp
đắp và cao su kỹ thuật.
Năm 2006 Công ty cao su Đà nẵng được cổ phần hóa và chuyển thành Công ty cổ phần cao su
đà nẵng theo quyết định số 3241/QĐ-BCN ngày 10/10/2005 với vốn điều lệ ban đầu là 49 tỷ đồng.
Hiện nay vốn điều lệ của Công ty tăng lên 150 tỷ và đang là thành viên của CLB doanh thu
1000 tỷ và là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam và Đông Nam Á sản xuất thành công
lốp ôtô đặc chủng siêu tải nặng công nghệ cao. Sản phẩm của Công ty đã được danh hiệu Sao
Vàng Đất Việt, Top Ten thương Hiệu Việt vào các năm 2005, 2006, 2007, 2008.
Công ty đứng thứ hai tính chung cho thị phần sản xuất săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy. Riêng thị
phần sản xuất săm lốp ôtô Công ty đứng thứ nhất chiếm 35% thị phần. Hiện nay Công ty đang duy
trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm JIS của Nhật và DOT
của Mỹ cho các sản phẩm Lốp ôtô, lốp xe máy, săm ôtô và săm xe máy.
1. TÓM LƯỢC NỘI DUNG
Xây dựng một bản kế hoạch marketing cho công ty cổ phần cao su Đà Nẵng.
_ Đầu tiên, phải hiểu rõ được thị trường, các đối thủ cạnh tranh.
_ Phân tích tình hình của doanh nghiệp hiện tại.
_ Hiểu rõ khách hàng đang cần gì, muốn gì.
_ Chỉ ra mục tiêu marketing.
_ Xây dựng chiến lược marketing.
_ Quyết định phương tiện marketing.
_ Lập ngân sách marketing
2. TÔN CHỈ HOẠT ĐỘNG
“An toàn trên mọi địa hình, vững chãi với sức tải lớn, luôn bền bỉ theo thời gian - DRC-
Chinh phục mọi nẻo đường”
CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG
Tên:
6. Xí nghiệp năng lượng.
ĐT: (0511)3847494.
Lĩnh vực hoạt động:
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm cao su và vật tư
thiết bị cho ngành công nghiệp cao su.
- Chế tạo lắp đặt thiết bị ngành công nghiệp cao su .
- Kinh doanh thương dịch vụ tổng hợp.
Các sản phẩm chủ yếu:
- Săm lốp ô tô
- Săm lốp xe đạp
- Săm lốp xe máy
- Lốp đặc chủng
- Cao su kỹ thuật.
Năng lực sản xuất:
- Săm lốp ô tô: 700.000 bộ/năm
- Săm lốp xe đạp: 5.000.000 bộ/năm
- Săm lốp xe máy: 1.000.000 bộ/năm
- Lốp đặc chủng: 20.000 chiếc/năm
- Cao su kỹ thuật: 3- 4 tỷ/năm
Công ty có 3 chi nhánh tại Hà Nội, ĐÀ Nẵng và TP. HCM ngoài ra còn co 1 trung tâm kinh
doanh tổng hợp và 5 xí nghiệp trực thuộc.và hơn 75 đại lý phân bổ trên khắp cả nước.
Lốp thành phẩm được chạy thử nghiệm trên máy đo cân bằng lốp ,máy chạy lý trình, ... Tất cả
sản phẩm lỗi được loại bỏ. Chỉ những sản phẩm đủ tiêu chuẩn chất lượng , gắn phiếu bảo hành
trước khi bán ra thị trường
.
* Các dòng sản phẩm của DRC
Lốp ô tô DRC được người tiêu dùng tin dùng nhờ chịu tải nặng, chịu mài mòn tốt, tuổi thọ
cao và được bảo hành chu đáo
- Dòng lốp tải nhẹ có nhiều qui cách , phù hợp với xe khách từ 24 -35 chỗ ngồi, các loại xe tải
DRC . Điều này thể hiện sự tự tin ,tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh của Công ty
* Chiến lược phát triển
Với lợi thế về nguồn nhân lực năng động, trách nhiệm ; sản phẩm DRC có thị phần lớn ,
được Tập đoàn hoá chất Việt Nam quan tâm chỉ đạo...
DRC đang đầu tư nhà máy mới sản xuất lốp xe tải Radial bố thép công suất 600.000 lốp/năm.
Đây là nhà máy có quy mô lớn , công nghệ hiện đại được xây dựng tại Khu công nghiệp Liên
Chiểu Đà Nẵng sẽ đáp ứng tốt chiến lược tăng tốc của Công ty
Với nhiều năm kinh nghiệm trong ngành sản xuất săm lốp , DRC tin tưởng sẽ tiếp tục đáp ứng
tốt nhu cầu của khách hàng trong nước và quốc tế, xứng đáng là Nhà sản xuất săm lốp xe hàng
đầu Việt Nam.
An toàn trên mọi địa hình, vững chãi với sức tải lớn, luôn bền bỉ theo thời gian - DRC-
Chinh phục mọi nẻo đường.
Một số hình ảnh Thiết bị , nhà xưởng
3. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
3.1 Tình hình thị trường chung
Năm 2011: Hứa hẹn một năm thắng lợi của cao su Việt Nam
Năm 2010 khép lại với những thành tựu đáng nhớ đối với ngành cao su Việt Nam.
Lượng xuất khẩu cao su năm 2010 đạt được khoảng trên 760.000 tấn, cộng thêm thuận lợi về giá
xuất khẩu có lúc đạt trên 4000 USD/tấn nên kim ngạch đạt trên 2,3 tỷ USD (tăng gần gấp đôi so
với năm trước). Tiếp tục phát huy những điều kiện thuận lợi của ngành cao su trong năm vừa qua,
năm 2011 hứa hẹn một năm thắng lợi hơn nữa của ngành cao su Việt Nam.
Tiếp tục phát huy những điều kiện thuận lợi của ngành cao su trong năm vừa qua, năm 2011 hứa
hẹn một năm thắng lợi hơn nữa của ngành cao su Việt Nam.
Những thuận lợi của ngành cao su Việt nam
Việt Nam hiện đang đứng thứ 5 thế giới về diện tích trồng cao su, đã phát triển thêm diện tích từ
30.000 - 40.000 ha và đứng thứ 4 thế giới về sản lượng xuất khẩu cao su tự nhiên. Sản lượng cao su
do ảnh hưởng bởi mưa sẽ tiếp tục đẩy giá cao su lên những mức kỷ lục mới. Xu hướng này đang
được minh chứng qua giá cao su trên thị trường châu Á tiếp tục đạt những đỉnh cao mới trong
những phiên giao dịch đầu năm 2011..
Những tín hiệu khả quan của nền kinh tế toàn cầu, cung ngắn hạn tiếp tục hạn hẹp đã làm tăng kỳ
vọng nhu cầu sẽ tăng mạnh đối với cao su, kéo theo giá sẽ tiếp tục phá vỡ những kỷ lục đã đạt
được trong ngắn hạn. Nhu cầu cao su của thế giới năm 2011 sẽ đạt khoảng 11,15 triệu tấn, còn sản
lượng cao su thiên nhiên của thế giới năm 2011 sẽ chỉ đạt khoảng 10,97 triệu tấn, do vậy giá vẫn
trong xu hướng tăng cao do cung thấp hơn cầu (theo Hiệp hội Cao su thế giới).
Với xu hướng nguồn cung cả năm 2011 sẽ tăng so với năm 2010, thì xu hướng giá có lẽ vẫn sẽ tăng
nhưng chậm lại so với những tháng đầu năm 2010, tức tăng chậm hơn nhu cầu của thị trường. Theo
đánh giá của các chuyên gia ngành hàng, từ nay đến giữa năm 2011, giá cao su xuất khẩu sẽ dao
động trong khoảng 5.000 USD/tấn. Dự báo giá cao su đến quý I/2011 sẽ tiếp tục ở mức cao do
nguồn cung thế giới lẫn trong nước tiếp tục thiếu hụt trong khi nhu cầu nguyên liệu cho các ngành
sản xuất săm lốp ô tô, nệm… trong nước ngày càng cao.
Như vậy, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu cao su của Việt Nam tận dụng tốt cơ hội trong những
tháng đầu năm 2011 thì kim ngạch xuất khẩu cao su năm 2011 có triển vọng sẽ tăng từ khoảng 4-
12% so với năm 2010. Nghiên cứu xu thế biến động của chuỗi khối lượng và giá trị xuất khẩu theo
tháng qua các năm gần đây, Trung tâm Tin học và Thống kê (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn) áp dụng mô hình kinh tế lượng dự báo khối lượng xuất khẩu cao su năm 2011 đạt hơn 760
ngàn tấn với giá trị đạt gần 3 tỷ USD. Đặc biệt cần tận dụng cơ hội ngay từ những tháng đầu năm
2011 đối với xuất khẩu cao su biên mậu qua thị trường Trung Quốc vì những tuần đầu năm 2011,
giá cao su thiên nhiên của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái đã đạt
đỉnh cao mới, 32.600 nhân dân tệ/tấn.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhận định, để tăng cường tính bền vững cho việc xuất khẩu và tiêu
thụ cao su, các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh cung cấp nguyên liệu cho các nhà công nghiệp chế
biến cao su trong nước. Nhu cầu cao su thiên nhiên trong nước dự kiến từ 16% hiện nay sẽ tăng lên
30% vào những năm 2020, tương đương khoảng 300- 400 ngàn tấn/năm; các doanh nghiệp
cũng nên đảm bảo chất lượng và bao bì đóng gói theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế để mở rộng
thị trường, chuyển sang xuất khẩu chính ngạch là chủ yếu.
Khó khăn cho thị trường cao su Việt Nam trong thời gian tới
xuất cao su lớn thứ 2 được cải thiện.
IRSG dự báo nhu cầu cao su toàn cầu (bao gồm cả cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp) sẽ tăng
lên 25,7 triệu tấn trong năm 2011, giảm so với mức dự báo đưa ra vào tháng 3/2011 là 26,1 triệu
tấn, nhưng vẫn còn cao hơn mức tiêu thụ của năm trước là 24,6 triệu tấn. Nhu cầu này được dự
báo sẽ tăng thêm trong năm 2012 lên đến 27,6 triệu tấn.
Nhu cầu cao su tổng hợp toàn cầu được dự báo tăng 5% trong năm 2011 và 9% trong năm 2012,
trong khi nhu cầu cao su thiên nhiên toàn cầu được dự báo tăng 3,8% trong năm 2011 và 5,4%
trong năm 2012.
ANRPC dự báo mức tăng trưởng của ngành cao su năm 2012 sẽ tăng trong khoảng từ 2,8%-3,8%.
Mặc dù mức tăng trưởng sẽ tăng chậm lại kể từ năm 2013 trở đi nhưng ANRPC vẫn đưa ra mức
tăng trưởng ngành cao su năm 2015 sẽ đạt khoảng 6%. Các năm kể từ 2016, sản lượng cao su
thiên nhiên toàn cầu được dự kiến chậm lại đáng kể. Sự thiếu hụt nguồn cung cao su thiên nhiên
hiện nay sẽ tiếp tục và sẽ thiếu cho đến năm 2018 ngay cả khi nhu cầu chỉ tăng ở mức vừa phải.
Theo đó ANRPC dự báo sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu sẽ tăng tối đa lên 10,3 triệu tấn vào
năm 2012, 12,2 triệu tấn vào năm 2015 và 13,4 triệu tấn vào năm 2018. Thái Lan và Việt Nam sẽ
có tốc độ tăng trưởng cao trong khi tăng trưởng tại Indonesia và Malaysia ổn định.
Theo Hải Quan Trung Quốc, nhập khẩu cao su thiên nhiên của nước này tháng 8 đạt 200 nghìn
tấn, tăng 70 nghìn tấn so với tháng 7/2011 và tăng 40 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2010. Dự báo
cả năm 2011 tiêu thụ cao su thiên nhiên của Trung Quốc đạt khoảng 3,5 triệu tấn, tăng 6,1% so với
năm trước.
Theo Hội đồng cao su Ấn Độ, nhập khẩu cao su thiên nhiên trong tháng 8/2011 đạt 14,06 nghìn
tấn, giảm 42% so với cùng kỳ năm 2010 do giá cao su trong nước giảm xuống thấp hơn giá quốc
tế và Chính phủ Ấn Độ bỏ những ưu đãi về nhập khẩu lốp xe. Sản xuất trong nước tháng 8/2011
đạt 71,2 nghìn tấn, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước do mưa lớn ảnh hưởng đến Kerala, khu
vực khai thác cao su chính của Ấn Độ.
Biến động giá cả: gá cao su phục hồi nhẹ trong tháng 9 do nguồn cung hạn chế ở các nước sản
xuất chủ lực đặc biệt là thời tiết xấu ở thái Lan và nhu cầu tăng mạnh từ ngành ô tô toàn cầu là yếu
so với năm 2009. Sản lượng có thể tăng 5,3% trong năm tới nếu không có những biến đổi bất
thường về khí hậu.
Nguồn cung cao su tự nhiên năm 2010 của Thái Lan trong năm 2010 ước chỉ đạt 3,072 triệu tấn,
giảm 2,9% so với 3,164 triệu tấn của năm 2009.
Sản lượng cao su tự nhiên của Indonexia cả năm 2010 ước đạt 2,843 triệu tấn, tăng 16,5% so với
năm 2009.
Theo báo cáo của Ủy ban Cao su Malaysia, sản lượng cao su tự nhiên của nước này đã tăng 14,9%
trong 11 tháng đầu năm 2010 và có thể đạt 970.000 tấn tương đương mức tăng 13,2% so với năm
2009. Nếu giá vẫn ở mức thuận lợi như hiện nay, việc có thêm 45.000 ha có thể thu hoạch thêm sẽ
giúp Malaysia đạt được mức tăng trưởng 8,2%, đạt mục tiêu cung cấp 1,05 triệu tấn cao su cho
năm 2011.
Ấn Độ đã điều chỉnh giảm nguồn cung cao su trong năm 2010 xuống mức 845.000 tấn, chỉ đạt
mức tăng 3% so với năm 2009, so với mức kỳ vọng đưa ra hồi tháng trước 853.000 tấn tương
đương mức tăng 4%. Nguồn cung đã bị ảnh hưởng xấu bởi những cơn mưa bất thường trong quý
IV (từ tháng 10-tháng 12). Ủy ban Cao su Ấn Độ dự đoán diện tích cao su của nước này có thể mở
rộng 14.000 tấn trong năm 2011 sẽ làm sản lượng tăng thêm 5,3%, đạt 890.000 tấn.
Sản lượng cao su của Trung Quốc dự báo tăng 6,6%, đạt 690.000 tấn trong năm 2011 do diện tích
được mở rộng thêm 19.000 ha. Trong năm 2010, nguồn cung cao su của nước này có thể chỉ đạt
647.000 tấn, tăng 0,6% so với năm 2009 mặc dù diện tích đã được mở rộng thêm tới 24.000 ha.
Nguồn cung trong năm nay của Trung Quốc giảm là do tỉnh Hải Nam-nơi chiếm 51% tổng sản
lượng cao su tự nhiên của TQ đã bị ảnh hưởng bởi các trận bão trong tháng 10 vừa qua.
* Tiêu thụ
Tiêu thụ và nhập khẩu cao su tự nhiên của 3 nước Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia (chiếm 48%
nhu cầu cao su toàn cầu) trong 11 tháng đầu năm 2010 được thể hiện ở bảng sau:
Tiêu thụ và nhập khẩu cao su tự nhiên tính đến tháng 11 năm 2010
Tháng 1-Tháng 11/2009 Tháng 1-Tháng 11/2010
% thay đổi
Đơn vị: Nghìn tấn
Trung Quốc
Tiêu thụ cao su tự nhiên
USD/100kg trong tuần đầu tiên của năm 2010 lên mức 474,4 USD/100kg vào tuần cuối cùng của
năm, tương đương mức tăng 69,7%.
Biến động giá cao su tại một số thị trường
Tại Kottayam – Ấn Độ, tuy mức tăng giá cao su trung bình theo tuần có chậm hơn so với hai thị
trường Thái Lan và Malayxia nhưng giá trung bình của tuần cuối cùng cũng đã tăng 53,5% so với
giá trung bình của tuần đầu tiên.
Giới phân tích thế giới cho rằng do tăng trưởng công nghiệp của Trung Quốc, nước tiêu thụ nhiều
cao su nhất thế giới tháng 11 tăng 13% so với năm trước, kết hợp với nguồn cung toàn cầu thiếu
hụt, đã đẩy giá cao su liên tục đứng ở mức cao.
Theo phân tích của Hiệp hội Cao su Việt Nam VRA, có nhiều yếu tố tác động cùng lúc đã đẩy giá
cao su thiên nhiên tăng vọt trong thời gian này. Thiên tai đã làm cản trở việc khai thác mủ và
chuyên chở cao su: lũ lụt tại Thái Lan, mưa nhiều tại Malaysia và Việt Nam, núi lửa phun trào tại
Indonesia. Trong khi nguồn cung sụt giảm thì nhu cầu lại tăng cao. Lượng xe ô-tô và lốp xe tăng
trưởng cao không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều thị trường lớn khác: Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nhật,…
Bên cạnh yếu tố cơ bản về cung cầu, tác động của quá nhiều nhà đầu cơ tham gia vào thị trường
tương lai cao su càng đẩy giá tăng cao với tốc độ nhanh. Tỷ giá hối đoái của đồng đô-la giảm so
với đồng tiền của các nước sản xuất cao su cũng góp phần làm tăng giá cao su mà phần lớn tính
bằng đô-la.
II.Sản xuất và thị trường trong nước
* Sản xuất
Theo ANRPC dự báo, sản lượng cao su của Việt Nam sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng 2,8% trong quý
IV năm nay, điều chỉnh giảm so với mức dự báo tăng trưởng 3,8% được đưa ra tháng trước do
mưa nhiều, bất chấp việc người trồng cao su đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng
suất. Tổng sản lượng cao su của Việt Nam trong năm 2010 được dự báo tăng nhẹ, đạt 750.000 tấn
tương đương mức tăng 3,6% so với 724.000 tấn năm 2009. Năng suất trung bình ước chỉ đạt 1.658
kg/ha so với mức 1.717 kg/ha năm 2009. Năm 2011, sản lượng cao su của Việt Nam được dự báo
tăng 4%, đạt 780.000 tấn do diện tích được mở rộng thêm 5.000 ha.
Trong thời gian gần đây, tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đang chú trọng công tác
trồng mới cao su thay thế những vườn cây già cỗi cũng như hình thành các vườn cây mới sử dụng
giống tiên tiến, cho năng suất cao. Theo VRG, diện tích trồng cao su của tập đoàn là 270.000 ha,
(Đơn vị: Lượng = Tấn; Giá trị = 1.000 USD)
TT
Mặt hàng/Tên
nước
8 tháng/2010 8 tháng/2011 % 2011/2010
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
1 TRUNG QUỐC 252.432 674.171 274.834 1.166.133 108,87 172,97
2 MALAIXIA 27.059 71.039 32.903 142.187 121,60 200,15
3 ĐÀI LOAN 18.610 55.679 19.587 91.926 105,25 165,10
4 HÀN QUỐC 21.409 56.554 19.755 82.919 92,27 146,62
5 ĐỨC 15.881 48.715 16.923 82.237 106,56 168,81
6 HOA KỲ 12.991 32.615 13.484 51.921 103,79 159,19
7 THỔ NHĨ KỲ 7.488 21.069 7.767 34.927 103,73 165,77
8 NGA 10.965 33.858 6.827 34.291 62,26 101,28
9 NHẬT BẢN 6.526 21.022 6.249 31.794 95,76 151,24
10 ẤN ĐỘ 12.561 37.724 6.352 29.690 50,57 78,70
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu trong xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam. Trong
8 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu cao su Việt Nam sang Trung Quốc đạt 274.834 tấn, chiếm 61%
thị phần, trị giá khoảng 1,17 tỷ USD, với chủng loại xuất khẩu nhiều nhất là SVR 3L, SVR 10 và
cao su hỗn hợp. Đứng thứ hai là Malaysia, đạt khoảng 32.903 tấn, chiếm 7,3% thị phần, trong đó
chủng loại nhiều nhất là SVR 10, hỗn hợp và SVR 3L. Tiếp đến là thị trường Đài Loan chiếm
khoảng 4,7% thị phần, Hàn Quốc 4,4%, Đức 3,7%.
Theo dự báo của Hiệp hội cao su Việt Nam lượng cao su xuất khẩu năm 2011 sẽ tăng khoảng 4%
và nhờ bổ sung nguồn cao su tạm nhập tái xuất Việt Nam có thể xuất khẩu gần 800.000 tấn, trị giá
xuất khẩu năm nay ước đạt trên 3 tỷ USD cao hơn mức 2,3 tỷ USD của năm 2010.
* Thương mại
Theo Công ty Công nghiệp cao su miền Nam, thị trường sản xuất lốp xe cao su Việt Nam sẽ phát
Nhận định dự báo:
Dự báo năm 2011 sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu đạt 9,96 triệu tấn, nhu cầu cao su toàn cầu
(bao gồm cả cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp) sẽ tăng lên 25,7 triệu tấn trong năm 2011. Nhu
cầu này được dự báo sẽ tăng thêm trong năm 2012 lên đến 27,6 triệu tấn. Khối lượng cao su xuất
khẩu của Việt Nam năm 2011 dự báo có thể đạt gần 820 ngàn tấn, giảm gần 3 ngàn tấn so với con
số dự báo của tháng 8 đạt giá trị kim ngạch lớn hơn, đạt hơn 3,629 tỷ USD, giảm gần 400 triệu
USD so với con số dự báo của tháng 8. Nguyên nhân chủ yếu là tác động của thị trường cao su thế
giới dẫn đến xu hướng giảm giá xuất khẩu trong những tháng gần đây.
_ Tuy cùng chủng loại, nhưng giá cao su Việt Nam xuất khẩu luôn thấp hơn so với Thái Lan,
Malaysia, Indonesia. Nguyên nhân khách hàng thường nêu ra là do chất lượng sản phẩm không
đồng đều.
“Thế” vẫn mạnh
Khai mạc mủ cao su
Năm 2010, vượt qua cả cà phê, với kim ngạch xuất khẩu đạt 2,388 tỷ USD, cao su thiên nhiên trở
thành mặt hàng nông sản xuất khẩu xếp thứ hai sau gạo và trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn thứ
10 trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.
Theo đó, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên trong nước để chế biến sản phẩm ước khoảng 140 nghìn
tấn, chiếm 18% tổng sản lượng cao su thiên nhiên của cả nước, tăng hơn năm trước 16,7% so với
cùng kỳ, cho thấy có sự tăng trưởng khích lệ trong lĩnh vực chế biến sản phẩm cao su.
Số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến hết 4 tháng năm 2011, kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng cao su đã thu về cho Việt Nam 876,27 triệu USD, tương đương với 199,93 nghìn
tấn, tăng 106,5% về kim ngạch và 26,9% về sản lượng so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong đó, nếu tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2011, cao su Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
Trung Quốc thu về được 536,56 triệu USD. So với năm ngoái kim ngạch tăng 88%. Chỉ tính riêng
tháng 4/2011 thì con số tăng là 44,42% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đa phần cao su thiên nhiên dùng để sản xuất, vỏ, ruột xe, găng tay, đế giày, phụ kiện cao su kỹ
thuật, băng tải, chỉ thun, nệm gối cao su... Trong đó, giá trị của vỏ, ruột chiếm khoảng 70% tổng
giá trị sản phẩm cao su.
Cụ thể, nhà máy Kumho (Hàn Quốc) tại Bình Dương với công suất 3 triệu vỏ xe tải hạn nhẹ và đã
khẩu mặt hàng cao su đã thu về cho Việt Nam 876,27 triệu USD, tương đương với 199,93 nghìn
tấn, tăng 106,5% về kim ngạch và 26,9% về sản lượng so với cùng kỳ năm ngoái.
Bên cạnh đó, có rất nhiều doanh nghiệp trong ngành cao su cho biết, họ không thể giao dịch mua
bán cao su qua Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) vì rắc rối trong thủ tục. Minh chứng cho
vấn đề này là kết quả và trị giá giao dịch qua VNX là rất thấp.
Trong khi, sàn giao dịch hàng hóa đã được Bộ Công Thương cho phép giao dịch thông qua quyết
định 4361 ngày 18/8/2010 và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào sàn giao dịch hàng hóa.
Vì thế, đã tạo ra hiện tượng doanh nghiệp chuyển sang giao dịch tại sàn các giao dịch cao su tại
Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc nhiều hơn khiến Việt Nam thất thu thêm một khoảng đáng kể.
III. Thị trường Việt Nam
* Sản xuất
_ Thực hiện chủ trương hợp tác giữa hai Chính phủ Việt Nam và Lào, Tập đoàn Công nghiệp Cao
su Việt Nam tiến hành trồng cao su tại Lào từ năm 2004 và mục tiêu đến năm 2015 đạt 100.000
héc – ta. Sau gần 7 năm tiến hành, đã có 3.000 ha đầu tiên cho khai thác mủ, dự kiến lượng mủ
khai thác sẽ ngày càng tăng.
_ Trong mấy năm trở lại đây, phong trào trồng cao su tiểu điền tại Bình Dương phát triển hết sức
mạnh mẽ. Trước mức lợi nhuận cao, nhiều nông dân đã bất chấp những quy luật sinh trưởng của
cây cao su mà trồng loại cây này xuống vùng đất thấp, trũng nước. Tại nhiều nơi, người dân còn
dùng máy xúc múc đất dưới lòng suối để san phẳng mặt bờ và trồng cao su ngay sát bờ suối hoặc
thay thế hoàn toàn các cây trồng có giá trị khác như điều, tiêu, cây ăn trái. Đã có nhiều khuyến cáo
về các hệ quả có thể xảy ra với những diện tích cao su trồng dưới vùng đất trũng nhưng bất chấp
các khuyến cáo này, nông dân vẫn cứ tiếp tục trồng và cho đến nay nhiều diện tích đã cho thu
hoạch. Thực tế cho thấy năng suất của các vườn cây trồng kiểu này không hề cao như nhiều người
mong đợi, lại phải tốn chi phí để phòng trừ sâu bệnh cao. Tuy nhiên, khi phong trào trồng cao su
xuống các vùng đất thấp vẫn chưa có dấu hiệu “hạ nhiệt” thì các cơ quan hữu quan cần có những
hướng dẫn cụ thể để người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, tránh các thiệt hại ngoài ý
muốn.
* Biến động giá
Tại thị trường Việt Nam, mở đầu giao dịch tuần 25 (13/6 – 16/6), giá cao su thiên nhiên đồng loạt
giảm. Các chủng loại SVRCV, SVRL, SVR 10, SVR 20 lần lượt sụt xuống 1,4 – 1,6% (tương
50.000 tấn so với năm 2010, đạt kim ngạch trên 3 tỷ USD.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
_ Theo Nhóm Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), thiếu hụt cao su thế giới năm 2011 sẽ được co
hẹp do triển vọng giá ngày càng lên cao đã và đang góp phần thúc đẩy người dân ở các nước sản
xuất cao su chủ đạo gia tăng hoạt động cạo mủ. Dự kiến mức sản lượng năm 2011 tăng 5,8% so
với năm 2010, đạt 10,9 triệu tấn đã giúp điều chỉnh dự đoán thiếu hụt giảm xuống còn 200.000 –
300.000 tấn, so với 400.000 tấn năm 2010.
_ Cung hạn chế ở các nước xuất khẩu chủ lực, đặc biệt là Thái Lan do ảnh hưởng thời tiết xấu,
cùng với mức dự trữ đang ngày càng eo hẹp của Thượng Hải phản ánh mức cung nghèo nàn trong
hai tháng 6 – 7. Trong khi đó, nhu cầu mạnh mẽ từ ngành ô tô toàn cầu sẽ giúp giãn rộng chênh lệc
– cung cầu, hỗ trợ đẩy giá trong các tháng tới. Theo một khảo sát mới đây của Reuters tiến hành
với các nhà phân tích, thương nhân và nhà đầu tư, giá cao su kỳ hạn tháng 11 tại Sở giao dịch
Hàng hóa Tokyo (Tocom) sẽ chốt tháng 6 ở 395,0 yên/kg, cao hơn 1% so với mức 390,7 yên/kg
cuối tháng 5. Giá kết thúc tháng 7 nhiều khả năng đạt 392,5 yên/kg, trong trường hợp được hỗ
trợ thêm từ đồng yên ngừng tăng thì giá có thể lên trên 400 yên/kg.
_ Hiện tại, giá cao su các loại giao tiền mặt đang ở trên 4,6 USD/kg. Cao su tấm hun khói RSS3
của Thái Lan vẫn được chào mua trên 5 USD/kg. Consortium Cao su Quốc tế (IRCo) nhận định,
giá cao su thiên nhiên khó có thể giảm xuống dưới 4 USD/kg trong quý III năm nay. Theo IRCo,
dù kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại, đặc biệt ở các nước tiêu thụ hàng đầu như Trung
Quốc, Ấn Độ và các nhà đầu tư còn tỏ ra khá do dự ở một số thời điểm, cung cao su sụt giảm
mạnh mẽ trong khi nhu cầu từ các nhà sản xuất lốp xe ở các thị trường đang nổi lên về tiêu thụ cao
su (Trung Đông, Braxin và Nga) vẫn tăng vững vàng sẽ hỗ trợ cho giá. Tuy nhiên, kỳ vọng thị
trường cao su kỳ hạn trong quý III cũng sẽ không quá cao bởi kinh tế Mỹ chưa qua bất ổn, tình
hình nợ châu Âu ngày càng nghiêm trọng và chính sách thắt chặt tiền tệ ở Trung Quốc.
_ Các nhà phân tích nhận định giá cao su tại sở giao dịch hàng hoá kỳ hạn Tokyo (TOCOM) sẽ
quay trở lại mức kỷ lục cao như hồi tháng 2 là 537,70 yên/kg trong ba tháng tới. Việc giá giảm sâu
hồi tháng 3 xuống chỉ còn 335 yên/kg không làm rối xu hướng tăng giá kéo dài từ mức thấp
99,80 yên/kg hồi năm 2008, bởi đó là đoạn đầu của chu kỳ sóng giá hình chữ “IV”. Lần giảm tiếp
theo trong giai đoạn 2 là từ mức cao 481,90 yên/kg xuống mức thấp 353,20 yên/kg hồi tháng 5,
để hoàn thiện chu kỳ điều chỉnh “a – b – c” tạo ra sóng “IV”. Một sóng tăng giá hình chữ “V” có
+ Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển khu công nghiệp Hố Nai;
+ Công ty cổ phần Sông Côn;
+ Công ty TNHH BOT 741 Bình Dương;
- Các công ty sẽ cổ phần hoá:
+ Công ty Cao su Bà Rịa;
+ Công ty Cao su Phước Hòa;
+ Công ty Cao su Bình Long;
+ Công ty Cao su Lộc Ninh;
+ Công ty Cao su Đồng Phú;
+ Công ty Cao su Phú Riềng;
+ Công ty Cao su Tân Biên;
+ Công ty Cao su Krông Buk;
+ Công ty Cao su Eah Leo;
+ Công ty Cao su Chư Păh;
+ Công ty Cao su Chư Prông;
+ Công ty Cao su Mang Yang;
+ Công ty Cao su Chư Sê;
+ Công ty Cao su Kon Tum;
+ Công ty Cao su Bình Thuận;
+ Công ty Cao su Quảng Trị;
+ Công ty Cao su Quảng Nam;
+ Công ty Cao su Quảng Ngãi;
+ Công ty Cao su Hà Tĩnh;
+ Công ty Cao su Thanh Hoá;
+ Công ty Cơ khí cao su;
+ Công ty TNHH một thành viên Cao su Tây Ninh.
_ Mục tiêu, chiến lược, điểm mạnh, điểm yếu, thị phần, lợi nhuận của một trong số các đối
thủ trên:
CTCP Cao su Sao vàng
Vị thế Công ty
có thời hạn 30 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Vốn điều lệ ban đầu của
Công ty được thành lập là 3.200.000 USD, trong đó Cao su Sao Vàng đóng góp 7%.
Triển vọng Công ty
• Việt Nam hiện là một trong những nước sản xuất cao su thiên nhiên (NR) lớn trên thế giới,
nguồn lao động rẻ và dồi dào, khí hậu rất thích hợp để phát triển cây cao su.Về sản lượng
xuất khẩu cao su, Việt Nam xếp thứ 4 sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia.
• Nhu cầu sử dụng các sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu cao su như săm lốp ô tô, xe máy,
máy bay trong những năm gần đây có sự gia tăng đáng kể. Những nhân tố này đã trở thành
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm săm lốp các loại như Công
ty Cổ phần Cao su Sao Vàng.
Rủi ro Kinh doanh chính