MINH GIẢI TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN ĐỂ TÍNH TOÁN THÔNG SỐ VỈA VÀ ĐỀ XUẤT KHOẢNG THỬ VỈA GIẾNG A1X, CẤU TẠO B, BLOCK 11.1, BỂ NAM CÔN SƠN - Pdf 27

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

GVHD: Kó sư Lê Quốc Thònh
TP.HCM ngày tháng năm 2009
SVTH: Phạm Thò Hồng - 1 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức

I.2. Hệ số thành hệ F 46
I.3. Điện trở suất và độ dẫn điện 47
I.4. Độ bão hòa 48
II. Các phương pháp điện 49
1. Phương pháp điện trường tự nhiên 49
2. Phương pháp điện trở suất 51
III. Các phương pháp phóng xạ 55
1. Phương pháp Gamma ray tự nhiên 55
2. Phương pháp Neutron 58
3. Phương pháp Gamma Gamma ( Density) 61
IV. Phương pháp sóng siêu âm (Sonic log - DT) 65
B. Cơ Sở Tài Liệu Giếng Khoan 68
1. Tài liệu đòa chấn 68
2. Tài liệu giếng khoan 69
CHƯƠNG IV: CƠ SỞ TÍNH TOÁN ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN VÀ
ĐỀ XUẤT KHOẢNG THỬ VỈA 72
I. Cơ Sở Tính Toán Đòa Vật Lý Giếng Khoan 72
1. Tính Vsh 72
2. Tính độ rỗng (density, neutron,sonic) 74
SVTH: Phạm Thò Hồng - 3 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
3. Tính nhiệt độ vỉa và nhiệt độ giếng khoan 78
4. Biện luận giá trò a,m,n 80
5. Tính độ bão hòa nước 80
6. Biện luận các giá trò cutt-off 82
II. Đề Xuất Khoảng Thử Vỉa 85
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 89
SVTH: Phạm Thò Hồng - 4 - Khóa 2005

Nam đặc biệt là sự hướng dẫn tận tâm của Thạc só Nguyễn Anh Đức và Kó
Sư Lê Quốc Thònh. Bên cạnh đó là sự quan tâm chỉ bảo của các thầy cô bộ
môn Dầu khí cùng các bạn sinh viên khác. Vì vậy em xin chân thành cảm ơn!
Do thời gian thực hiện hạn chế, nguồn tài liệu thu thập chưa đầy đủ
cùng với sự hiểu biết hạn hẹp nên đề tài khó tránh khỏi thiếu sót về mặt nội
dung lẫn hình thức trình bày. Kính mong được sự cảm thông và đóng góp ý
kiến của Quý Thầy Cô cùng các bạn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Phạm Thò Hồng - 5 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Bể Nam Côn Sơn có diện tích 100.000km
2
, nằm trong khoảng giữa 6
0
00

đến
9
0
45

vó độ Bắc và 106
0
00

đến 109
0
00 độ kinh Đông. Ranh giới phía Bắc của bể là đới

Tháng 11 năm 1975, các công ty dầu khí Việt Nam được thành lập, vì
thế công tác tìm kiếm thăm dò được đẩy mạnh.
SVTH: Phạm Thò Hồng - 7 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
Các công ty AGIP và BOW VALLEY khảo sát 14.859km đòa chấn 2D
với mạng lưới 2x2 km và khoan thêm 8 giếng (04A-1X, 04B-1X, 12A-1X,
12B-1X, 12C-1X, 28A-1X, 29A-1X).
Trên cơ sở công tác khảo sát đòa chất, đòa vật lý giếng khoan, các công
ty đã thành lập một số bản đồ đẳng thời theo các tầng phản xạ ở các tỷ lệ
khác nhau.
Các công ty dầu khí Việt Nam đã xác đònh 1 số bản đồ đẳng thời và
bản đồ cấu tạo tỷ lệ 1:100.000 và 1:50.000 cho các lô và 1 số cấu tạo triển
vọng.
3. Giai đoạn từ năm 1981- 1987
Với sự ra đời của Xí Nghiệp Liên Doanh Vietsopetro đã mở ra 1 giai
đoạn mới trong công nghiệp dầu khí Việt Nam, nhưng công tác đòa chất –
đòa vật lý được đầu tư chủ yếu vào bể Cửu Long, còn đối với bể Nam Côn
Sơn chỉ có 1 số diện tích nhất đònh được quan tâm.
Trong giai đoạn này có 1 số báo cáo quan trong như:
 Tác giả Lê Trọng Cẩn và nnk, 1985: “Phân vùng kiến tạo các
bồn trũng Kainozoi thềm lục đòa Việt Nam.”
 Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông, 1986: “Tổng hợp đòa chất – đòa vật
lý, tính trữ lượng hydrocacbon, dự báo hydrocacbon và vạch ra phương
hướng công tác tìm kiếm dầu khí trong giai đoạn tiếp theo ở thềm lục đòa
Nam Việt Nam.”
 Luận án tiến só khoa học đòa chất và khoáng vật của Nguyễn
Giao, 1987: ”Cấu trúc đòa chất và triển vọng dầu khí của các bể trầm tích
Đệ Tam vùng biển Đông Việt Nam.”
SVTH: Phạm Thò Hồng - 8 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức

2 Giếng khoan A-1X
Tháng 10 năm 1994, A-1X được khoan thẳng đứng vào đỉnh cấu tạo
với đối tượng chính là cát kết Miocene giữa. Cát kết Miocen dưới và trên
được cho là những đối tượng thứ 2. Kết quả khoan cho thấy biểu hiện dầu
và khí tại tầng cát kết Miocene giữa và dưới, từ 3100mMD đến 3680mMD.
3. Sau nghiên cứu G&G giếng A-1X
Sau khi phát hiện dầu ở giếng A-1X , tiếp tục thu nổ 230km
2
đòa chấn
3D những vùng lân cận có tiềm năng của cấu tạo B như: Gấu Ngựa, Gấu
Chúa, Gấu Vàng Nam, Gấu Vàng, Gấu Ông và Gấu Đen; dữ liệu được thu
sau đó được xử lý bởi Total năm 1995. Để chính xác hóa cấu tạo, phương
pháp đòa chấn PSTM được sử dụng trong giai đoạn này, kết quả cho thấy
móng Granit có tiềm năng dầu khí rất lớn.
SVTH: Phạm Thò Hồng - 10 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
CHƯƠNG II: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
I. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
ĐỊA CHẤT
Cấu tạo nên bồn trũng Nam Côn Sơn gồm có thành tạo đòa chất tạo
móng có tuổi trước Kainozoi và các thành tạo trầm tích hình thành trong
Kainozoi. Cột đòa tầng tổng hợp của bồn trũng Nam Côn Sơn được thể hiện
trên (hình 3).
1. CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
I.1. CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC (hình 2)
Bể Nam Côn Sơn có cấu trúc khá phức tạp do hoạt động đứt gãy đã
tạo nên các khối nâng sụt phân bố không có qui luật đặc trưng. Dựa vào đặc
điểm cấu trúc của móng có thể phân ra các đơn vò cấu trúc như sau:
a. Đới phân dò phía Tây:
Tồn tại các trũng hẹp sâu, có đứt gãy lớn đi kèm với các cấu tạo lồi

Ngoài ra trong vùng còn gặp một số đứt gãy có phương Đông – Tây,
Đông Bắc – Tây Nam.
SVTH: Phạm Thò Hồng - 12 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
h. Uốn nếp:
Vào giai đoạn Miocene hạ, sự tái hoạt động của các đứt gãy sâu đã
khiến cho mặt móng trước Kainozoi lại bò nâng lên. Sự nâng lên tương ứng
của các tầng trầm tích nằm bên trên mặt móng chính là nguyên nhân tạo
nên các nếp lồi bao gồm các thành tạo trầm tích có tuổi từ Oligocene đến
Đệ Tứ, hoạt động uốn nếp xảy ra đồng thời với hoạt động trầm tích.

SVTH: Phạm Thò Hồng - 13 - Khóa 2005
Hình 2: Các yếu tố cấu trúc
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
I.2. Cấu trúc đòa chất của cấu tạo B.
û phía Đông của thềm trung tâm, cấu tạo B được đánh giá có cấu
trúc phức tạp là cánh treo đứt gãy được xác đònh trên cấu trúc khép kín của
đứt gãy khu vực, phương đứt gãy theo hướng B-N. Đỉnh cấu tạo B tại tập cát
của hệ tầng Thông Mãng Cầu ở độ sâu 3061m so với mực nước biển và
khoảng khép kín 390m với diện tích 6.7km
2
. Nguồn hydrocacbon được sinh
chủ yếu từ trầm tích Oligocene và Miocene trong cấu tạo B.
Biểu hiện dầu khí
Giếng A-1X là giếng đầu tiên khoan ở cấu tạo B với đối tượng đầu
tiên là cát kết Miocene giữa (thuộc khu vực bồn), và đối tượng thứ hai là cát
kết Miocene trên và dưới.
Trong khi khoan biểu hiện dầu khí được thấy chủ yếu ở độ sâu
3100mMD tới 3680mMD (phần dưới cát kết Miocene giữa và phần trên cát
kết Miocene dưới). Từ kết quả phân tích RFT và tài liệu đòa vật lý giếng

3
- K).
Vào đầu giai đoạn này, vùng nghiên cứu nằm trên cung magma của
rìa lục đòa tích cực kiểu Andes, mảng Thái Bình Dương cắm xuống dưới phía
Đông Nam của lục đòa Âu-Á. Các hoạt động magma xâm nhập và phun trào
xảy ra mạnh mẽ, các phức hệ Đònh Quán – Đèo Cả, hệ tầng đèo Bảo Lộc –
Nha Trang là minh chứng cho thời kỳ này. Hoạt động hút chìm vẫn tiếp tục
diễn ra đến cuối Kreta muộn, vào thời kỳ này gốc hút chìm gần như thẳng
đứng nên dẫn tới sự tách giãn trên núi lửa Pluton, di chỉ để lại của thời kỳ
này là phức hệ Ankoet, hệ tầng Đơn Dương.
b. Paleocene – Eocene muộn (hình 4).
Vào giai đoạn
này, Đông Nam Á bò
bao quanh bởi đới hút
chìm :
 Phía Tây và
Tây Nam: mảng Ấn-Úc
hút chìm vào Âu-Á.
 Phía Đông
và Đông Nam: mảng
Thái Bình Dương hút chìm vào Âu-Á.
SVTH: Phạm Thò Hồng - 17 - Khóa 2005
Hình 4: Khung cảnh kiến tạo vào Paleocene-Eocene
Hình 4: Khung cảnh kiến tạo vào Paleocene-Eocene
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng có chế độ nâng lên mạnh mẽ, chòu tác động
mạnh của quá trình phong hóa, bóc mòn trên cả khu vực Đông Dương, điều này dẫn
đến việc lộ ra đá móng trước Kainozoi.
Minh chứng cho điều này, trong cột đòa tầng của bồn trũng Nam Côn Sơn
vắng mặt trầm tích tuổi Paleocene – Eocene muộn và thay vào đó là trầm tích

trước, do ảnh hưởng của giãn đáy Biển Đông và tiếp tục mở rộng, đồng thời
kéo theo sự dâng cao của mực nước biển đã gây nên hiện tượng biển tiến,
diện tích trầm tích mở rộng đã hình thành hệ tầng Dừa (N
1
1
- d) và hệ tầng
Thông Mãng Cầu (N
1
2
-tmc) phân bố rộng rãi từ Tây sang Đông.
Vào Miocene giữa, đây là giai đoạn căng giãn thứ hai của bể, là giai
đoạn thể hiện rõ nhất ảnh hưởng của giãn đáy Biển Đông. Các thành tạo
trầm tích có tướng từ biển nông đến biển sâu, trầm tích cacbonat phổ biến
khá rộng rãi ở các lô phía Đông của bể.
Vào Miocene muộn, bể được lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên gồm
sét kết, sét vôi màu xám đến xám xanh gắn kết yếu, xen kẻ lớp các bột kết
chứa vôi đôi khi gặp một số thấu kính hoặc những đá vôi mỏng chứa nhiều
mảnh vụn lục nguyên. Hệ tầng Nam Côn Sơn nằm bất chỉnh hợp trên hệ
tầng Thông Mãng Cầu.
Trên cùng là trầm tích hệ tầng Biển Đông (Pliocene – Đệ Tứ), trầm
tích gồm cát kết màu xám, vàng nhạt và bột kết xen lẫn với sét kết, nhiều
đá vôi chứa glauconit, mức độ gắn kết yếu.
SVTH: Phạm Thò Hồng - 19 - Khóa 2005
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
II.2. Khung cảnh kiến tạo lô 11.1
Khung cảnh kiến tạo vùng Đông Nam Á là kết quả của hoạt động
kiến tạo từ Mesozoi muộn tới Đệ tam muộn. Trong thời Đệ tam sớm vùng
Đông Nam Á gồm nhiều vi mảng được nối với nhau bởi những đai uốn nếp
hay những đới sutu. Thời Paleogene, lục đòa phía sau cung được mở rộng.
Do hoạt động xô húc giữa mảng Ấn - Úc với mảng Âu -Á và sự tách giãn

Hình 6: Bản đồ các vùng đòa chất phía Tây Bắc bể Nam Côn Sơn
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
1. Thành tạo trước kainozoi
Một số giếng khoan (ĐH-1X, 04-A-1X, 04-2-BC-1X, 04-3-ĐB-1X,
10-PM-1X, Hong-1X, 12- Dừa-1X, 12-C-1X, 20-PH-1X, 28-A-1X, 29-A-
1X…), ở bể Nam Côn Sơn gặp đá móng không đồng nhất bao gồm: Granit,
Granodiorit, Diorite và đá biến chất, tuổi của các thành tạo này có thể là
Jura muộn-Kreta. Nằm không chỉnh hợp trên móng không đồng nhất là lớp
phủ trầm tích Paleogene – Đệ Tứ có chiều dày biến đổi từ hàng trăm đến
hàng nghìn mét.
Đá móng bò nứt nẻ do hoạt động kiến tạo, quá trình phong hóa hay
quá trình thủy phân. Đá móng nứt nẻ được đánh giá là một vỉa chứa
hydrocacbon tốt như được chứng minh ở trong mỏ Đại Hùng, Mãng Cầu –
Thiên Ứng và những mỏ khác của bồn trũng Cửu Long.
2. Các thành tạo trầm tích Kainozoi
Paleogene
Oligocene
SVTH: Phạm Thò Hồng - 22 - Khóa 2005
Hình 7: Đòa tầng- thạch học– môi trường trầm tích bể Nam Côn Sơn
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Anh Đức
Hệ tầng Cau (E
3
c)
Hệ tầng Cau có thể xem tương đương với hệ tầng Bawah, Keras và
Gabus (Agip 1980), thuộc bể Đông Natuna (ở phía Nam của bể Nam Côn
Sơn). Hệ tầng Cau vắng mặt trên phần lớn các đới nâng: nâng Mãng Cầu,
nâng Dừa, phần Tây lô 04, phần lớn lô 10, 11-1, 28, 29 và một số diện tích ở
phần phía Tây, Tây Nam của bể. Trầm tích của hệ tầng Cau bao gồm chủ
yếu các lớp cát kết có màu xám xen các lớp sét bột kết màu nâu. Cát kết
thạch anh hạt thô đến mòn, độ lựa chọn kém, xi măng sét, cacbonat. Chiều

vực xảy ra các hoạt động núi lửa tạo nên một số lớp andesit, basalt, diabas
và tuff. Vào giai đọan sau trầm lắng các thành tạo có xu hướng mòn dần, đôi
nơi cát kết có chứa glauconit và hóa thạch biển. Trầm tích được lắng đọng
trong môi trường tam giác châu, vũng vònh đến biển ven bờ.
Hệ tầng Cau phủ không chỉnh hợp trên móng trước Đệ Tam và được
đònh tuổi là Oligocene dựa vào bào tử phấn hoa đới Florchuetza Tribolata và
phụ đới Cicatricosisporite dorogensis Ly copodium neogenicus.
Neogene
Miocene dưới
Hệ tầng Dừa (N
1
1
-

d)
SVTH: Phạm Thò Hồng - 24 - Khóa 2005

Trích đoạn Biện luận giá trị a,m,n Xuất Khoảng Thử Vỉa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status