Các giải pháp về tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng MHB trong thời kỳ hội nhập - Pdf 27


B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
j NGUYN NGC HOÀI

CÁC GII PHÁP V TÀI CHÍNH NÂNG CAO
NNG LC CNH TRANH CA NGÂN
HÀNG MHB TRONG THI K HI NHP

Chuyên ngành: Kinh t tài chính - Ngân hàng
Mã s: 60.31.12

LUN VN THC S KINH T NGI HNG DN: PGS.TS NGUYN VN S

THÀNH PH H CHÍ MINH – 2009
MC LC PHN M U 4
CHNG I:
LÝ THUYT V CNH TRANH VÀ NNG LC CNH TRANH CA NGÂN
HÀNG THNG MI TRONG NN KINH T TH TRNG 6
1. LÝ THUYT V CNH TRANH VÀ NNG LC CNH TRANH CA
NHTM TRONG NN KINH T TH TRNG 6
1.1. Lý thuyt cnh tranh trong nn kinh t th trng 6

NGÂN HÀNG PHÁT TRIN NHÀ NG BNG SÔNG CU
LONG 28
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIN MHB 28
2.1.1. S lc quá trình hình thành h thng ngân hàng MHB 28
2.1.2. C cu t chc trong h thng MHB hin nay 29
2.2. THC TRNG NNG LC CNH TRANH CA MHB 30
2.2.1. ánh giá nng lc tài chính ca MHB 30
2.2.1.1. ánh giá thc trng quy mô vn 30
2.2.1.2. ánh giá kh nng sinh li 32
2.2.1.3. ánh giá mc đ an toàn vn ca ngân hàng 33
2.2.1.4. ánh giá cht lng tín dng ca MHB 35
2.2.1.5 ánh giá chênh lch lãi sut đu ra – đu vào 35
2.2.2. ánh giá nng lc hot đng và hiu qu kinh doanh ca MHB 37
2.2.2.1. ánh giá nng lc hot đng 37
2.2.2.2. ánh giá hiu qu kinh doanh ca MHB 38
2.2.3. Các sn phm dch v ngân hàng ca MHB 40
2.2.3.1. Thc trng và kt qu phát trin các sn phm dch v ca MHB 40
2.2.3.1.1. i vi dch v huy đng tin gi 40
2.2.3.1.3. V thanh toán quc t, kinh doanh ngoi t và bo lãnh 41
2.2.3.1.4. Hot đng kinh doanh th 42
2.2.4. ánh giá trình đ công ngh 42
2.2.4.1.Tình hình trin khai và ng dng công ngh ca MHB 42
2.2.4.1.1 V c s h tng k thut 42
2.2.4.1.2 V phát trin các phn mm ng dng 43
2.2.4.1.3. ánh giá chung v tình hình phát trin và ng dng công ngh 43
2.2.5. ánh giá ngun
nhân lc 44
2.2.5.1. Thc trng v ngun nhân ca MHB 44
2.2.5.2. Mt s tn ti v ngun nhân lc ti MHB 44
2.2.6. ánh giá hiu qu hot đng t chc, qun tr và điu hành 45

3.3 CÁC KIN NGH,  XUT VI NGÂN HÀNG NHÀ NC 62
3.3.1 V c ch chính sách 62
3.3.2 V qun l. điu hành 63
Kt lun Chng III 64
KT LUN 65

1
LỜI CAM ĐOAN Đề tài “Các giải pháp về tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
Hàng MHB trong thời kỳ hội nhập” là đề tài do chính tác giả thực hiện.
Tác giả dựa trên việc vận dụng các kiến thức đã được học, các tài liệu
tham khảo, kết hợp với quá trình nghiên cứu thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu,
trao đổi với Giáo viên hướng dẫn khoa học, bạn bè, người thân và các đối tượng
nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình.
Luận văn này không sao chép từ bất kỳ một nghiên cứu nào khác. Tác giả xin
cam đoan những lời nêu trên là hoàn toàn đúng sự thật. TP.HCM, ngày 09 tháng 09 năm 2009
Người thực hiện đề tài
TCKT-XH : Tổ chức kinh tế - xã hội
TCTD : Tổ chức tín dụng
VND : Đồng Việt Nam
USD : Đô la Mỹ
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
CAR : Capital Adequacy Ratio = hệ số an toàn vốn

3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

STT
Mục lục

Bảng 6
2.2.1.5
Chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra giai đoạn 2003-2008
35
Bảng 7
2.2.2.1
Tình hình dư nợ của MHB giai đoạn 2003-2008
38
Bảng 8
2.2.2.2
Cơ cấu thu nhập, chi phí 2005 - 2008
39
Bảng 9
2.2.2.2
Thu nhập, chi phí giai đoạn 2005 – 2008
39
Bảng 10
2.2.3.1
Cơ Cấu Hoạt động thanh toán QT và Bảo Lãnh
42
Hình 2
2.2.5.1
Thống kê về lao động
44

tôi lựa chọn đề tài “Các giải pháp về tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng MHB trong thời kỳ hội nhập”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích chính của luận văn là từ những vấn đề nghiên cứu được trong lý
thuyết về cạnh tranh, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của MHB trong 5 năm
từ 2004-2008, qua đó đưa ra được các giải pháp về tài chính nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh đối với ngân hàng MHB trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới. 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh
tranh của ngân hàng thương mại
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của MHB trong 5 năm 2004 –
2008 trên các mặt: năng lực nhân lực, năng lực tài chính, năng lực công nghệ, năng
lực về huy động vốn, năng lực về tín dụng, năng lực về marketing, năng lực về quản
trị Ngân hàng
- Thông qua việc đáng giá đề xuất các giải pháp về tài chính nâng cao năng
lực cạnh tranh của Ngân hàng MHB.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của luận văn được nghiên cứu theo phương pháp định tính: Khảo sát
ý kiến chuyên gia, thu thập số liệu và sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp,
phân tích và so sánh sự biến động về số liệu của MHB trong giai đoạn .
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
NHTM.
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của MHB để tìm ra những nhược
điểm cần khắc phục.
- Đề xuất các giải pháp về tài chính nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh
cho MHB.

Cạnh tranh là một vấn đề tất yếu trong kinh tế thị trường. Quá trình cạnh tranh
để đi đến cái đích cuối cùng là tồn tại và phát triển ít nhất ngang bằng với đối thủ của
mình. Tùy cách tiếp cận mà ta có thể đưa ra những khái niệm về cạnh tranh dưới
những khía cạnh khác nhau. Các nhà kinh tế học xác định cạnh tranh là sự ganh đua,
tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng trên thị trường, nhằm tranh giành
những lợi ích kinh tế sao cho mình có lợi nhất. Theo đó, khi với tư cách là người bán
cạnh tranh là quá trình chiếm lĩnh thị phần cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách
hàng; với tư cách là người mua cạnh tranh lại là quá trình đấu tranh để mua được các
yếu tố đầu vào của sản xuất với giá rẻ và điều kiện cung cấp thuận lợi, cạnh tranh giữa
người mua và người bán về giá cả và công dụng sản phẩm, cạnh tranh giữa người mua
với nhau. Nhìn chung cạnh tranh xoay quanh chất lượng hàng hóa, sản phẩm dịch vụ
và giá cả.
Từ sự phân tích trên có thể thấy cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể
kinh tế với nhau thông qua các hành động và sự phấn đấu cùng những biện pháp để
giành được lợi thế trên thương trường sao cho có thể có được ưu thế về thị phần, lợi 7
nhuận, danh tiếng so với đối thủ. Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát
về cạnh tranh:
Cạnh tranh là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể kinh tế huy
động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các phương thức
nhằm dành được ưu thế trên thương trường để đạt mục tiêu kinh tế (thường là thị
phần, khách hàng, lợi nhuận, tiện ích …) là thu được nhiều lợi nhuận trong sự phát
triển ổn định và bền vững.
1.1.2. Các loại hình cạnh tranh chính trong kinh tế thị trường.
Tùy cách tiếp cận các nhà kinh tế học chia ra các loại hình cạnh tranh chính
như sau:
1.1.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
có:

1.1.2.5. Tiếp cận dưới giác độ phạm vi lãnh thổ có: Cạnh tranh trong nước và
cạnh tranh quốc tế. Cũng cần lưu ý, trong cạnh tranh quốc tế ngày nay diễn ra ngay
trong thị trường từng nước riêng biệt.
1.1.2.6. Xét trên phương diện chuẩn mực theo các hiệp định giữa các nước
mang tính chất quốc tế trong nền kinh tế tri thức có cạnh tranh theo quy chế. Cạnh
tranh theo quy chế là sự chuyển từ chỗ dựa chủ yếu vào lợi thế so sánh sang dựa vào
quy chế. Các quy chế chứa đựng những chuẩn mực của thương mại quốc tế chủ yếu
lại do các nước phát triển xây dựng nhắm tới khả năng tăng cường sức cạnh tranh của
nền kinh tế nước họ trên thương trường quốc tế.
Ngoài ra, căn cứ vào mục đích và tính chất của cạnh tranh các nhà kinh tế còn
đề cập đến cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành
mạnh là loại cạnh tranh mà chủ thể kinh tế sử dụng những tiềm năng vốn có của bản
thân để cạnh tranh trên thương trường trong khuôn khổ luật lệ cho phép. Cạnh tranh
không lành mạnh là loại hình cạnh tranh trái với luật pháp và thông lệ xã hội.
Đến nay, các nhà kinh tế xác định các yếu tố chính cấu thành sức mạnh cạnh
tranh gồm có: Chất lượng hàng hóa tốt; giá cả thấp; thời gian cung cấp sản phẩm phù
hợp; các dịch vụ trước, trong, sau bán hàng tốt. 9
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện đại là sự cạnh tranh trên cơ sở liên
hệ giữa các chủ thể kinh tế với nhau, không nhằm hủy diệt lẫn nhau, mà liên kết thúc
đẩy lẫn nhau. Cạnh tranh trong sự hợp tác cùng nhau phát triển, trong đó các chủ thể
luôn vươn lên nhằm dẫn đầu trong việc nắm được những lợi thế hơn đối thủ.
Với thực tế như vậy, cùng tính đặc thù trong hoạt động ngân hàng, tính hệ
thống của các ngân hàng đòi hỏi phải được duy trì và nâng cao. Tính hệ thống ngân
hàng có thể được coi là một trong những điểm tựa vững chắc phòng ngừa những bất
trắc rủi ro cũng như là điểm tựa để các ngân hàng cùng phát triển an toàn, ổn định và
bền vững.
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh

tranh có hợp tác, đó là cách ứng xử thông minh”
11.2 Năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng đã
được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng
lực cạnh tranh một cách có hệ thống lại bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm
1980 đến nay.
Còn M. E. Porter một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại
chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đúng
đắn, đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất.
Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại 3 cách tiếp cận sau: lý thuyết
thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và trường phái quản lý chiếc
lược.
- Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt cung,
chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của người sản xuất – kinh doanh. Theo
cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do đó sự
khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ được coi là tiêu chí chính để đo lường
năng lực cạnh tranh.
- Lý thuyết này chưa chú trọng đúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng như các
yếu tố môi trường kinh doanh. Cách tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu
do chưa chú trọng đúng mức đến sự khác biệt về chất lượng sản phẩm, cách tiếp
thị và những dịch vụ hậu mại của doanh nghiệp. Để khắc phục hạn chế của cách
tiếp cận thương mại truyền thống, cần kết hợp mặt cung với mặt cầu hàng hóa,
dịch vụ khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.

1
TS. Nguyễn Đăng Doanh - Nguồn: Lao động

chất lượng…).
Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trên thế
giới phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhiều trường phái và cách tiếp
cận khác nhau. 12
Tuy nhiên, do ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh nên bất
chấp những bất đồng trong lý luận, một số nước như Mỹ, Anh và tổ chức quốc tế như
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Viện
Phát Triển quản lý (IMD), Công ty Standard & Poor’s, Công ty Moody’s… vẫn
nghiên cứu và công bố các kết quả tính toán năng lực canh tranh ở các cấp độ khác
nhau. Các kết quả này được rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp quan tâm và tham khảo.
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu
thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù
hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa
trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính
quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình. Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:
Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và
trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do
trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng
nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị
trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên
năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay,
cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh
tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về
năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới.
Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại
đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm

Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và
có hạn chế về mặt khác; vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này
và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất
những đòi hỏi của khách hàng. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh
vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định
lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực
khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau.
Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh
của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và
bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương
mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình 14
độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài
chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu
tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh. Đây là
phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép doanh nghiệp đánh
giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánh giá
được từng mặt, từng yếu tố cụ thể. Để khắc phục nhược điểm trên, việc nghiên cứu
vận dụng các mô hình đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ và đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, qua đó, giúp doanh nghiệp so sánh
năng lực cạnh tranh tổng thể của mình với các đối thủ trong ngành là một giải pháp
mang tính khả thi cao. Sau đây, xin giới thiệu một số các mô hình:
1.3.1 Mô hình “Kim cương” của M. Porter

các doanh nghiệp và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên
thị trường. Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cương của M.Porter phát triển
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và
duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp trong một ngành kinh tế - kỹ
thuật nào đó. Sự sẵn có cả về số lượng và chất lượng các nguồn lực cần thiết cho việc
phát triển một ngành có khả năng cạnh tranh; thông tin thông suốt về những cơ hội
kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể tiếp cận; chiến lược của các doanh nghiệp
trong khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực; quan điểm, triết lý kinh doanh của
chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong doanh nghiệp,… đều có thể “cộng
hưởng” thúc đẩy các doanh nghiệp trong một ngành phải hoạt động hiệu quả hơn,
nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới nhanh hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
khách hàng. Vai trò của Nhà nước là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả
bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ
và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thương trường quốc tế
1.3.2 Ma trận SWOT
SWOT là viết tắt của 4 chữ: Strength - điểm mạnh, Weaknesses - điểm yếu,
Opportunities - cơ hội, Threatens - đe doạ.
Ma trận SWOT là ma trận cho phép đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của công ty
và ước lượng những cơ hội, nguy cơ của môi trường kinh doanh bên ngoài, để từ đó 16
có sự phối hợp giữa khả năng của công ty với tình hình môi trường. Nếu doanh
nghiệp có một ma trận SWOT phân tích kỹ lưỡng và chính xác, công ty có thể nâng
cao sức cạnh tranh qua việc phát huy hiệu quả năng lực bên trong của mình song song
việc nắm bắt tốt các cơ hội cũng như xác định các thách thức trong thời gian tới. Trái
lại, khi doanh nghiệp không thể có được sự chính xác trong đánh giá thị trường bằng
mô hình này, doanh nghiệp sẽ không có những phản ứng kịp thời trước những biến
động từ bên ngoài và không phát huy hết các nguồn lực sản xuất bên trong, từ đó dễ

Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh,
tránh xảy ra khả năng rủi ro hệ thống
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của Ngân hàng TW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực.
Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài
ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ
tầng cơ sở
Năm là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của
thị trường tài chính thế giới.
1.4.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tự duy trì một lâu cách lâu dài, có ý
thức các lợi thế của mình trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận và thị phần trên cơ sở
đa dạng và nâng cao chất lượng, tiện ích các dịnh vụ tài chính ngân hàng.
1.4.2. Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Năng lực cạnh tranh của NHTM thể hiện trên những yếu tố chính sau:
- Chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là một yếu tố đặc biệt của quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tính chất đặc biệt đó được thể hiện ở chỗ đó là con người với các nhân tố tâm
sinh lý, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, niềm tin, khát vọng, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ … do đó việc thu hút nguồn nhân lực, một yếu tố tố quan trọng có tính chất
quyết định đến sự thành công hay thất bại đối với chiến lược hoạt động của ngân
hàng. Điều đó buộc các ngân hàng phải tính đến các nhân tố đó trong việc đưa ra các
hình thức phong phú, đa dạng trong thu hút nguồn nhân lực để có được những nhân
viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và kỹ năng thực hiện
nghiệp vụ nhằm thực hiện tốt chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Ngoài các yếu tố 18
về vật chất các ngân hàng còn thực hiện các hình thức thu hút phi vật chất đối với
người lao động. Có được một nguồn nhân lực tốt sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của

Trong xu thế toàn cầu hóa cạnh tranh về giá cả không những không giảm mà còn
được sử dụng nhiều hơn với các hình thức phong phú hơn.
- Thông tin, công nghệ mới và mạng lưới ngân hàng.
Năng lực cạnh tranh của các NHTM còn thể hiện ở khả năng mở rộng mạng
lưới trên cơ sở thành lập các chi nhánh con hữu ích của mình. Mạng lưới với các chi
nhánh hữu ích sẽ tạo ra nhiều cơ hội thu hút khách hàng trên một không gian rộng.
Việc ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động kinh doanh của các NHTM có
vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính ngân
hàng. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp các NHTM có thể phát triển đa dạng hóa
danh mục sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Các NHTM hướng tới xây dựng chiến lược quảng bá thông tin một cách đầy
đủ nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thông tin đa chiều cho phép tăng cường
được khả năng thu hút khách hàng và cũng qua đó giữa ngân hàng và khách hàng có
sự hiểu biết rõ hơn về nhau, tăng cường sự hợp tác giữa khách hàng và ngân hàng
chính là lợi thế của ngân hàng trong nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing ngân hàng.
Chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing ngân
hàng gắn bó mật thiết với nhau. NHTM có năng lực cạnh tranh tốt là ngân hàng có
được chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing phù hợp.
Những chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing đòi hỏi
phải phù hợp với các yếu tố nội lực của bản thân ngân hàng như, năng lực tài chính,
nguồn nhân lực, công nghệ, … và phù hợp với các yếu tố bên ngoài như, môi trường
hành chính, kinh tế, sức sản xuất và các yếu tố khác của thị trường. Các chiến lược
chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing có vai trò
quan trọng đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của một
NHTM. Do đó các chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh và chiến lược
marketing thể hiện năng lực cạnh tranh của NHTM.
Tóm lại để có thể có năng lực cạnh tranh mang tính bền vững của một ngân
hàng còn phụ thuộc vào việc ngân hàng có tạo ra được năng lực riêng biệt và triển
khai những hoạt động chủ chốt của ngân hàng như thế nào. Năng lực cạnh tranh của

Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng
lực cạnh tranh của một NHTM. Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh 21
tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong
tương lai. Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi có khả năng sáng tạo,
có khả năng thực thi chiến lược và có khả năng tham gia hoạch định chiến lược, … sẽ
mang lại cho ngân hàng một sự hoạt động ổn định và bền vững. Có thể khẳng định
nguồn nhân lực có chất lượng cao là biểu hiện của năng lực cạnh tranh cao.
1.4.3.2 Năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Năng lực tài chính và uy tín của NHTM có tầm quan trọng trong thể hiện năng
lực cạnh tranh của NHTM. Năng lực tài chính được coi là tiền đề để quyết định việc
nâng cao chất lượng trong phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng và để phát triển thị
trường thực hiện chiến lược cạnh tranh của NHTM.
Quy mô vốn được coi như là một chỉ tiêu quan trọng để đo lường lợi thế kinh
tế theo quy mô. Số lượng vốn của một ngân hàng là một yêu cầu cao trong bối cảnh
hiện nay của thị trường tiền tệ. Quy mô vốn lớn còn tạo khả năng cho NHTM đa dạng
hoá các loại hình đầu tư và giảm thiểu những rủi ro khác.
Để đánh giá năng lực tài chính của một NHTM thường đánh giá thông qua qui
mô vốn chủ sở hữu của NHTM lớn hay nhỏ hoặc có thể thông qua qui mô tài sản của
ngân hàng hoặc cả hai chỉ tiêu vừa nêu.
1.4.3.2.1 Khả năng sinh lời.
Trước hết có thể tính đến mô hình tính toán lợi nhuận ròng của một NHTM.
Trong điều kiện bình thường, có nghĩa là kinh doanh của ngân hàng trên cơ sở vận
hành của thị trường mà không có một sự can thiệp phi kinh tế nào khác.
Cách tính toán tiếp cận đánh giá khả năng sinh lời từ hai chỉ tiêu cơ bản là:
+ Tỷ suất sinh lời – ROA (Return on assets)
ROA = (thu nhập ròng sau thuế / tổng tài sản có bình quân) * 100
+ Tỷ suất sinh lời vốn của chủ sở hữu ngân hàng – ROE (Return on equity)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status