PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 27

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
Môn học : Nghiệp vụ Ngân hàng
PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Sinh viên thực hiện : Trịnh Ngọc Nam
MSSV : K085041693
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2010

2
LỜI MỞ ĐẦU
Với xu hướng “toàn cầu hoá” hiện nay, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế đã
không còn là vấn đề riêng của bất kỳ một quốc gia nào. Việt Nam đang thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện địa hoá đất nước, tích cực chủ động hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới nên nhu cầu về vốn lại càng trở nên cấp thiết. Với tư cách là các “trung gian tài
chính”, Ngân hàng thương mại Việt Nam ( NHTM ) có vai trò hết sức quan trọng đối với
việc huy động mọi nguồn vốn trong dân cư để cung ứng cho nền kinh tế với nhứng điều
kiện nhất định. Vốn để các NHTM tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh của
mình không chỉ riêng nguồn vốn tự có mà chủ yếu là nguồn vốn huy động được. Do đó có
thể nói hoạt động huy động vốn có tác động rất lớn đến các tổ chức tín dụng cũng như toàn
bộ nền kinh tế. Với tầm quan trọng đó của hoạt động huy động vốn, Nhà nước cần phải
xây dựng một hành lang pháp lý an toàn và thông thoáng, tạo điều kiện cho các NHTM
thực hiện hoạt động này một cách dễ dàng và hiệu quả. Vậy pháp luật Việt Nam đã quy
định như thế nào về hoạt động huy động vốn của các NHTM ?
Bài tiểu luận này sẽ luận bàn đến những quy định pháp lý liên quan đến nghiệp vụ huy
động vốn trong các văn bản pháp lý hiện nay. Vì vấn đề này khá rộng, do đó bài tiểu luận
này chỉ sẽ đề cập chi tiết đến hai nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất : huy động tiền gửi
và phát hành giấy tờ có giá.
3
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY

4
Nam; được phép vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài
theo quy định của pháp luật.
2
* Vai trò của hoạt động huy động vốn
- Đối với các NHTM:
Huy động vốn đem lại nguồn vốn lớn, chủ yếu cho các NHTM tiến hành các hoạt
động kinh doanh. Nguồn vốn này là cơ sở để các NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh; quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của mình; quyết định
năng lực thanh toán và bảo đảm uy tín của NHTM trên thương trường; quyết định năng lực
cạnh tranh của NHTM... Không những thế, huy động vốn còn tạo tiền đề để NHTM tiến
hành các hoạt động kinh doanh khác như: làm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ... góp phần
làm tăng thêm lợi nhuận cho các NHTM.
- Đối với nền kinh tế:
Thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, nền kinh tế có thêm một kênh
thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau trong dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư
cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sự cung cầu vốn giữa các thành
phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ dàng hơn. Cũng thông qua hoạt động này,
Nhà nước có thể kiểm soát, điều chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc
đẩy phát triển kinh tế. Hơn nữa, với chính sách lãi suất huy động vốn hợp lý, hoạt động
huy động vốn của các NHTM sẽ tăng khả năng kích thích tiết kiệm trong nhân dân. Thông
qua hoạt động này chúng ta có thể đánh giá được trình độ phát huy nội lực của quốc gia,
khai thác tiềm năng của mọi nguồn vốn đang còn tiềm ẩn, thu gom được một lượng tiền
tương đối lớn trong nền kinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu thông. Từ đó, các
NHTM có thể tập trung được các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp phần nâng
cao đời sống nhân dân.
1.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của
các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Điều chỉnh bằng pháp luật là việc Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật tác động lên
các quan hệ xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của Nhà nước. Cũng như

lý, giúp NHTM thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính.
2. Huy động vốn bằng tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá :
2.1. Huy động vốn bằng nhận tiền gửi :
2.1.1. Khái niệm tiền gửi :
Tại khoản 9 điều 20, luật các tổ chức tín dụng 1997 ghi nhận : “ Tiền gửi là số tiền của
khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn,
6
tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng
lãi và phải hoàn trả người gửi tiền.
3

Luật các tổ chức tín dụng 2010 có quy động về nhận tiền gửi như sau : “ Nhận tiền gửi là
hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức
nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa
thuận”.
4
Như vậy, tiền gửi ở đây được hiểu là khoản tiền gửi mà tổ chức cá nhân gửi vào tổ
chức tín dụng với nhiều mục đích khác nhau. Đầu tiên là để tổ chức tín dụng bảo quản hộ tài
sản của mình, sau đó nhằm kiếm lời từ khoản tiền nhàn rỗi đó hoặc gửi để dùng trong giao
dịch thanh toán qua hệ thống các tổ chức tín dụng được phép cung ứng các dịch vụ thanh
toán. Về phía các tổ chức tín dụng ngoài trách nhiệm bảo quản số tiền đó, được phép sử
dụng vào mục đích đã định của mình , tổ chức tín dụng phải hoàn trả số tiền gửi đó theo
đúng thời hạn đã cam kết và còn phải trả thêm một khoản tiền lãi cho người gửi tiền đối với
loại tiền gửi có lãi.
Phân loại tiền gửi :
Khi tham gia quan hệ gửi tiền, người gửi tiền luôn hướng tới một mục đích nhất
định. Nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó của khách hàng , các NHTM đưa ra nhiều
loại tiền gửi khác nhau để người gửi tiền lựa chọn hình thức gửi thích hợp nhất tuỳ thuộc
vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của họ. Dựa theo từng tiêu chí cụ thể người

tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi”.
5
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
có kỳ hạn.
• Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có
thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần thông báo trước vào bất kỳ một ngày làm việc nào
của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm
6
. Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khác với
tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) ở chỗ: Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được
sử dụng để phát hành séc và thực hiện giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm
bằng đồng Việt Nam của người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay
của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó, hoặc chuyển
sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi
tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
5
Khoản 1, Điều 6, Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày
13/9/2004 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước ( Quy chế về tiền gửi tiết kiệm năm 2004).
6
Khoản 2, Điều 11, Quy chế về tiền gửi tiết kiệm 2004.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status