ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Phòng ĐTSĐH – KHCN&QHĐN
Bài thu hoạch cuối kỳ:
TRIẾT HỌC
Đề tài:
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC
MÁC – LÊ NIN VỀ BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI
ĐỂ PHÂN TÍCH TẦM QUAN TRỌNG CỦA
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
Học viên: Phạm Thế Sơn
MSHV: CH1301033
TP. HỒ CHÍ MINH – 8/2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa cho đến ngày nay, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn
đề con người có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của Thế giới, là vấn đề
được các nhà triết gia của mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây
quan tâm nghiên cứu.
Với quan điểm như vậy, Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã kết luận: con người
không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định
trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch
sử, của tiến bộ xã hội. Đặc biệt là khi xã hội loài người phát triển đến trình độ
nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặc biệt quan trọng, vì con người tạo
ra trí thức mới, chứa đựng những tri thức mới
1
. Đối với một quốc gia bất kỳ,
Phương pháp tư duy biện chứng: Trên cơ sở những quan điểm của Triết học
Mác – Lê nin về vấn đề con người, tác giả đã vận dụng các nguyên tắc phương
pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật để tìm hiểu vai trò của nhân tố
con người những quan điểm chung nhất của Triết học Mác – Lê nin trong Chiếc
lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020. Từ đó vận dụng
những những quan điểm Triết học Mác – Lê nin đưa ra những bất cập trong tình
hình xây dựng con người Việt Nam hiện nay.
Bố cục đề tài
Để tài gồm có 3 nội dung chính:
Quan điểm của triết học Mác-Lênin về bản chất con người
Sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lê nin về bản chất của con người
trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011 - 2020
Hạn chế của việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam trong chiến
lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020 và giải pháp.
4
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ
BẢN CHẤT CON NGƯỜI
I.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, Mác với
quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng đã phân biệt rõ hai mặt
sinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực.
Tiền đề vật chất quy định sự tồn tại đầu tiên của con người là sản phẩm của thế
giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,
tính loài. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Con người là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khác
như nhu cầu về sinh lý và cũng có các hoạt động bản năng. Nhưng giải quyết
những nhu cầu đó ở con người có bước tiến xa hơn so với động vật. Chính quá
trình sinh thành, phát triển và mất đi của con người qui định bản tính sinh học
trong đời sống con người. Như vậy, con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính
sinh vật.
người. Nhưng, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủ thể của lịch
sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định “ Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng
con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cái học thuyết ấy quên
rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục
cũng cần phải được giáo dục”
3
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm
cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là
toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh
hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa
định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách
tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt
động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người… Đó là biện chứng của mối
quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã
hội loài người.
2 C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập. Tập 3. (1845-1847). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, 1995. Bản điện
tử: http://www.cpv.org.vn
3 C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập. Tập 3. (1845-1847). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, 1995. Bản điện
tử: http://www.cpv.org.vn
6
CHƯƠNG II: SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO HỌC THUYẾT MÁC –
LÊ NIN VỀ BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
II.1 Vai Trò của Khoa Học và Công Nghệ
Khoa học - công nghệ (KH-CN) là động lực để thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì vai trò của KH-CN ngày
càng quan trọng.
Qua nghiên cứu vai trò cụ thể của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng
tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, phát huy được
lợi thế là nước đi sau. Theo PGS. TS Trương Văn Trương, trường ĐH Khoa học,
4 P.A Samuelson và W.P. Nordhau, 1989, Kinh tế học tập II, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội.
5 Nguyễn Doãn Quan, , 2011, Công nghệ Nanô: Tiềm năng và thách thức, Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, 8.2014
7
Đại học Huế nhận định : “KHNN & CNNN được coi là một bước ngoặc trong sự
phát triển khoa học và công nghệ hàng đầu của thế kỷ 21. Nước ta đang trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH thì việc tranh thủ thời cơ ứng dụng ngay ngành
công nghệ kỳ diệu này vào sản xuất để đi tắt là một việc có ý nghĩa chiến lược.
Nếu không nhanh chóng đầu tư vào lĩnh vực này, chắc chắn khoảng cách giữa
chúng ta với các nước trên thế giới sẽ ngày một xa hơn”
6
.
Cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi chiến lược kinh tế và
chiến lược thị trường. Sự xuất hiện của các ngành công nghệ cao đã làm cho
năng suất lao động được nâng lên vược bậc và thực sự hiệu quả hơn. Vì vậy, các
nước tư bản phát triển và các công ty xuyên quốc gia đều coi việc phát triển khoa
học công nghệ với các ngành công nghệ cao là con bài trong cạnh trang chiếm
lĩnh thị trường
7
.
Có thể nói, thực chất của CNH – HĐH của các nước đang phát triển chính
là sự vận dụng thành tựu khoa học công nghệ dựa trên những đổi mới công nghệ
nhằm chuyển hệ thống kinh tế xã hội từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả thấp,
sử dụng lao động thủ công là chính, sang một hệ thống có năng suất cao, dựa trên
những phương pháp công nghiệp, những công nghệ tiên tiến.
II.2 Sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lê nin về bản chất của con
người trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011 - 2020
Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không thể
hỏi chúng ta phải nhanh chóng nâng cao trình độ khoa học và công nghệ.
Khoa học đã trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu được của người lao
động, đã dần dần chiếm vị trí chủ đạo thay thế cho thói quen và kinh nghiệm
thông thường. Chính vì vậy, việc tạo ra một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ
có đủ trình độ để quản lý nhà nước, tổ chức quản lý nền sản xuất và áp dụng
được những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất là một công
việc hết sức quan trọng và cấp thiết của chúng ta hiện nay.
Để nhanh chóng đi tắt, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Đảng ta sớm nhận thấy nhân tố quan trọng để thực hiện chiến lược này là con
người với nguồn vốn tri thức khoa học, là phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao
năng lực khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế để tranh thủ vốn và công nghệ
nước ngoài. Rõ ràng chỉ vào một nền tảng con người, được trang bị tri thức khoa
học chúng ta mới có thể chủ động tích cực hội nhập quốc tế, biến những năng lực
9
khoa học công nghệ từ bên ngoài chuyển hóa thành năng lực nội sinh giúp chúng
ta tiến nhanh hơn nữa.
Trong mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011
– 2020 có nói đến 2015, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
dạt 9 – 10 người trên một vạn dân, đào tạo và sát hạch theo tiêu chuẩn quốc tế
5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công
nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước. Người lao
động phải có năng lực sáng tạo, có khả năng áp dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có khả năng thu thập và xử lý thông tin trong điều
kiện bùng nổ thông tin, có sự nhạy bén, thích nghi và làm chủ khoa học kỹ thuật.
Họ còn phải có năng lực tham gia hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và
tổ chức thực hiện. Muốn có được năng lực trên đây, người lao động nhất thiết
phải có tri thức, kiến thức khoa học, vốn văn hóa và phải được đào tạo.
Và trong phần giải pháp, chiến lược có nêu lên phương hướng thu hút,
trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học kỹ thuật. Đây là con đường phát triển bền
vững của đất nước, con đường phát triển nhắm tới mục tiêu kép: vừa phát triển
trả lương xứng đáng cho khoa học.
Chất lượng trong nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn thấp, và đó chính
là lý do vì sao hiệu quả lao động trong nghiên cứu thấp. Muốn nâng chất lượng
nghiên cứu, thì trước hết phải thực sự coi trọng chất lượng, có những biện pháp
để đánh giá phân biệt chất lượng, và những chính sách đãi ngộ tương xứng với
chất lượng.
Chất lượng nghiên cứu và giảng dạy ở đại học liên quan trực tiếp đến vấn
đề con người. Tuy nhiên, phương pháp giáo dục ở nước ta còn chưa kích thích
được tính sáng tạo của người học, chưa thực sự gắn kết lý luận với thực tiễn cuộc
11
sống, cho nên không ít sinh viên sau khi ra trường khó xin việc. Tình trạng tiêu
cực trong giáo dục còn đang phổ biến ở nhiều nơi, chất lượng giáo viên còn hạn
chế. Những điều đó đang ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, trực tiếp ảnh hưởng
tới việc phát huy nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay.
III.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong Chiến lược phát triển khoa
học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020
Về những giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 đã được
thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông
qua tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011). Chiến lược phát triển nhân lực Việt
Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số
579/QĐ-TTg, ngày 19-4-2011. Đó là những văn bản pháp lý quan trọng có tính
định hướng để phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020.
Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu bằng cách
tăng kinh phí cho các đề tài nghiên cứu và đầu tư thêm cho các phòng thí nghiệm
phục vụ nghiên cứu.
Nâng cao vị thế của người các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khoa học
xã hội, kinh tế mũi nhọn, khoa học tự nhiên, y dược, công nghệ và kỹ thuật
Cũng cần quan tâm, động viên kịp thời những tổ chức, cá nhân có tinh thần sáng
tạo, vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ. Việc khen thưởng đem lại giá trị tinh thần
vì đó là sự tôn vinh vì vậy phải có sự thừa nhận khách quan. Do vậy, việc khen
tầm vóc, tố chất, tiêu chuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(Tài liệu tham khảo được sắp xếp theo thứ tự ABC)
[2], [3] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, 1995, Toàn tập,Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, Bản điện tử: http://www.cpv.org.vn.
[8] C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, Toàn tập, Tập 46, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.213 – 214.
[5], [6] Nguyễn Doãn Quan, , 2011, Công nghệ Nanô: Tiềm năng và thách thức,
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, 8/2014.
[4] P.A Samuelson và W.P. Nordhau, 1989, Kinh tế học,Tập II, Học viện Quan
hệ Quốc tế, Hà Nội.
9 V.I.Lênin, 1977, Toàn tập, Tập 38, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, tr.430
14
[7] Trương Khương, 2012, Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình
CNH-HĐH ở việt nam.
[1] Văn Đình Tuấn, 2011, Nguồn nhân lực trong công cuộc CNH, HĐH ở nước
ta, Trang thông tin điện tử Trường Chính trị Nghệ An, 8/2014.
[9] V.I.Lênin, 1977, Toàn tập, Tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.430.
15