Một số vấn đề về Nam Bộ và định danh - Pdf 27

MỤC LỤC

Dẫn nhập
0.1. Lí do chọn đề tài
0.2. Phạm vi nghiên cứu
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu
0.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
0.4. Lịch sử vấn đề
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
0.4.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt và trong PNNB
0.5. Phương pháp nghiên cứu
0.6. Bố cục luận văn
Chương một: Một số vấn đề về Nam Bộ và định danh
1.1. Một số vấn đề chung về Nam Bộ
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1.1. Địa hình, đất đai
1.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
1.1.1.3. Sông rạch
1.1.1.4. Đảo, bờ biển và rừng
1.1.1.5. Hệ quả
1.1.2. Đặc điểm xã hội
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư
1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội
1.1.3. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá
1.1.3.2. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
1.1.3.3. Sự biến đổi và giao thoa văn hoá ở Nam Bộ
1.1.4. Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ
1.1.4.1. Kh.niệm PN; từ đ.phương, phân vùng, xác định vùng PNNB
1.1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ

3.3. Định danh công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt
3.3.1. Nguồn gốc
3.3.2. Cấu tạo
-2-
3.3.3. Phương thức biểu thị
3.3.4. Ngữ nghĩa
3.4. Định danh đơn vị đo lường dân gian
3.4.1. Nguồn gốc
3.4.2. Cấu tạo
3.4.3. Phương thức biểu thị
3.4.4. Ngữ nghĩa
3.5. Định danh về sông nước và hoạt động trên sông nước 3.5.1. Nguồn gốc 0
3.5.1. Nguồn gốc
3.5.2. Cấu tạo
3.5.3. Phương thức biểu thị
3.5.4. Ngữ nghĩa
3.6. Định danh những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản
3.6.1. Nguồn gốc
3.6.2. Cấu tạo
3.6.3. Phương thức biểu thị
3.6.4. Ngữ nghĩa
3.7. Tiểu kết
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DẪN NHẬP
-3-
0.1. Lí do chọn đề tài
0.1.1. Nam Bộ là một vùng đất mới của người Việt ở phương nam. Do có thuận
lợi về điều kiện tự nhiên nên Nam Bộ có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế.

khổ luận văn không cho phép; mặt khác, chỉ khảo sát hệ thống từ ngữ nói trên bởi vì
những từ ngữ này được sử dụng nhiều trong đời sống cộng đồng người dân Nam Bộ,
gắn bó với môi trường tự nhiên, thể hiện được đặc trưng văn hoá Nam Bộ.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu tiếng nói của người Nam Bộ
thông qua các tài liệu có được của các tác giả đi trước, qua thực tiễn lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người dân địa phương, luận văn nhằm tìm hiểu về định danh từ vựng của
PNNB, đưa ra những nhận xét bước đầu về những đặc điểm có tính quy luật trong việc
định danh hiện thực của tiếng nói Nam Bộ. Đó cũng chính là đặc điểm ngôn ngữ – văn
hoá của vùng đất này.
0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra
những nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu về đặc điểm về tự nhiên và xã hội của Nam Bộ.
+ Tìm hiểu đặc trưng văn hoá của Nam Bộ.
+ Nêu lên những đặc điểm của PNNB.
+ Nghiên cứu về sự tri nhận hiện thực qua việc định danh từ ngữ trong PNNB.
0.4. Lịch sử vấn đề
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
Nghiên cứu PNNB có các tác giả tiêu biểu:
- Hoàng Thị Châu (1989) nghiên cứu PNNB trong phương ngữ Nam (như cách
chia vùng của tác giả) và với công trình Tiếng Việt trên các miền đất nước của mình. Bà
chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm: “Tác giả... dựa vào những phương pháp của ngôn
ngữ học và phương ngữ học để miêu tả, phân tích, giới thiệu với bạn đọc những biến thể
địa phương của tiếng Việt, lí giải các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ
âm đã tạo ra sự đa dạng đó” [8; 5,6]. Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy
và thể hiện lịch sử phát triển của tiếng Việt. Tuy nhiên, vì ranh giới phân vùng của tác
giả về phương ngữ Nam quá rộng, do đó có một số vấn đề về ngữ âm, từ vựng và ngữ
pháp, tác giả đã có những nhận xét không chỉ dành riêng cho PNNB.
- Nguyễn Văn Ái (1994): Do cách phân vùng của tác giả khác với Hoàng Thị
Châu - hẹp hơn về phạm vi địa lí, do đó ông miêu tả đặc trưng ngôn ngữ vùng này cụ

dân tộc của định danh động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người… so sánh với ngôn ngữ
khác, đặc biệt là tiếng Nga. Đây là một công trình nghiên cứu theo hướng lí thuyết thuộc
về lĩnh vực tâm lí – ngôn ngữ học tộc người – một lĩnh vực khá mới mẻ đối với ngành
ngôn ngữ học Việt Nam.
-6-
Trước đó, ông cũng đã có một bài viết Đặc trưng dân tộc của tư duy ngôn ngữ
qua hiện tượng từ đồng nghĩa (Tạp chí Ngôn ngữ số 3/ 1993) ít nhiều liên quan đến lĩnh
vực này.
- Đỗ Hữu Châu (1998, 1999) trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Từ vựng ngữ
nghĩa tiếng Việt đã dành nhiều trang nói về chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ.
Ông khẳng định vai trò quan trọng của định danh trong giao tiếp và tư duy của con
người, miêu tả một cách cụ thể và thuyết phục quá trình định danh trong tiếng Việt. Tuy
nhiên, ông chỉ thừa nhận định danh ở cấp độ từ, không thừa nhận định danh ở cấp độ
cụm từ (trừ cụm từ ở dạng định danh hóa) và câu. Ông cho cụm từ tự do chỉ có chức
năng biểu vật.
- Lí Toàn Thắng (2002, 2005): Một phần quan trọng trong cuốn Mấy vấn đề Việt
ngữ học và ngôn ngữ học đại cương và đặc biệt là cuốn Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí
thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của ông là công trình về đại cương ngôn ngữ
học tâm lí và ngôn ngữ học tri nhận. Phần này liên quan đến lí thuyết về định danh, về
sự phân cắt hiện thực của con người.
- Lê Trung Hoa (2002, 2003) đặc biệt chú ý đến mảng địa danh, nhân danh. Các
cuốn sách đáng chú ý về hai mảng này là: Họ và tên người Việt Nam, Tìm hiểu nguồn
gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn – Hồ
Chí Minh.
- Trịnh Sâm (2002): Cuốn sách Đi tìm bản sắc tiếng Việt của ông là tập hợp
những bài viết về tiếng Việt. Trong đó, PNNB và định danh là hai vấn đề có liên quan
đến đề tài khảo sát ở đây. Ngoài ra, bản sắc văn hoá Việt được ông tìm hiểu qua ngôn
ngữ địa phương Nam Bộ. Ông gợi ra một số vấn đề thú vị liên quan đến định danh trong
bài viết “Về cơ chế ngữ nghĩa – tâm lí trong tổ hợp song tiết chính phụ tiếng Việt”.
- Nguyễn Thuý Khanh (1994): Với các bài viết về định danh động vật ở tiếng

- So sánh các ngữ liệu, số liệu từ vựng đã thống kê được giữa các vùng phương
ngữ khác, đối chiếu với các thời kì khác nhau trong PNNB.
- Miêu tả những ngữ liệu minh hoạ cho những nhận xét bước đầu về định danh
các trường từ vựng trong PNNB.
Các phương pháp trên chúng tôi không thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà phối hợp
với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu.
0.6. Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
ba chương. Thứ tự tên các chương như sau: Một số vấn đề về Nam Bộ và định danh, Hệ
thống từ ngữ gọi tên riêng, Hệ thống từ ngữ gọi tên chung.
-8-
Ở chương một, luận văn trình bày các vấn đề về đặc điểm tự nhiên như địa hình,
đất đai, khí hậu, thuỷ văn, hệ thống sông rạch, đảo, bờ biển và rừng. Đây là điều kiện để
tạo nên những ưu thế cũng như hạn chế về môi trường ở vùng đất mới. Nó tác động, chi
phối đến đời sống sinh hoạt, đến tâm hồn, tính cách của con người nơi đây. Ở chương
này, luận văn cũng trình bày một số vấn đề về nguồn gốc dân cư, cách tổ chức xã hội rất
riêng của Nam Bộ; phác hoạ đôi nét về đặc trưng và sự giao thoa văn hoá ở Nam Bộ.
Những điều này, không thể không liên quan tới đặc điểm ngôn ngữ của người Việt ở
phương nam.
Luận văn cũng đồng quan điểm với các tác giả đi trước về khái niệm phương
ngữ, từ địa phương. Chúng tôi cố gắng trình bày một cách ngắn gọn về việc phân vùng
phương ngữ trong tiếng Việt, đưa ra quan niệm mà chúng tôi cho là hợp lí trong việc
xác định ranh giới vùng PNNB để tiện cho việc nghiên cứu.
Luận văn trình bày cơ sở lí luận về định danh, dẫn ra những khái niệm về định
danh, định danh từ vựng. Đây là những quan niệm của những nhà ngôn ngữ học có uy
tín và được nhiều người thừa nhận. Bên cạnh đó, chương này còn quan tâm đến các nội
dung như quy trình định danh, một số đặc điểm trong định danh từ vựng, đặc trưng văn
hoá trong định danh. Ở đây, chúng tôi cũng chọn cho mình một quan niệm về cơ sở định
danh (võ đoán và phi võ đoán) trước những quan niệm trái chiều nhau.
Phương ngữ và định danh là hai vấn đề có tính chất cơ sở có thể coi là điểm xuất

2001).
Có thể đánh giá chung về Nam Bộ như sau: “Vùng đất Nam Bộ bao gồm cả hai
khu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long – địa bàn định cư cuối cùng của những thế
hệ lưu dân Việt – là một vùng thiên nhiên vừa hào phóng vừa khắc nghiệt, nơi hàm
chứa nhiều tiềm năng phong phú, nơi khí hậu thuận hoà, sông rạch chằng chịt, có nhiều
cửa sông lớn thông ra đại dương tạo nên những điều kiện đặc thù cho sự quần cư và
sáng tạo đời sống cộng đồng, cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, khai thác thuỷ hải
sản, xây dựng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và mở rộng giao lưu với bên ngoài.
Tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính
cách, tâm lí, phong cách ứng xử của người Việt ở nơi đây.” [52; 3]
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1.1. Địa hình, đất đai
Nếu ĐNB địa hình thoải, có độ cao trung bình thì ĐBSCL do thuộc hạ lưu sông
Mê Công nên địa hình thấp và bằng phẳng.
Đồng bằng Nam Bộ có diện tích lớn nhất trong số các đồng bằng của cả nước,
rộng 36000 km
2
. Miền ĐNB là đồng bằng bồi tụ – xâm thực rộng lớn, có độ cao khoảng
-10-
100 m, là phù sa cổ, đất xám được nâng lên. Ngược lại, ĐBSCL là vùng đồng bằng
thấp, ngập nước, đang tiếp tục hình thành, có độ cao trung bình khoảng 2 m được cấu
tạo bởi phù sa mới có nguồn gốc sông – biển và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuỷ
triều. Ở đây, hằng năm nước lũ tràn ra hai bên các bờ sông làm ngập cả một vùng rộng
lớn hàng triệu ha, nhiều nơi ngập tới 2 m vào mùa lũ. Vùng không bị ngập có diện tích
rộng lớn, đất đai phì nhiêu, là vựa lúa, vựa cây trái nổi tiếng Nam Bộ.
Đất ruộng có thể chia thành hai loại: ruộng núi và ruộng cỏ. Ruộng núi còn gọi là
sơn điền, là nơi đất cao, khô, nhiều cây cối, tập trung ở các vùng Bà Rịa, Biên Hoà
(Đồng Nai), ở các miền đất cao khu vực sông Vàm Cỏ, Mỹ Tho… Ở đây có nhiều bãi,
giồng đất màu mỡ, ít lũ lụt, nước ngọt quanh năm. Ruộng cỏ còn gọi là thảo điền, là nơi
đất thấp, nhiều cỏ lác, sình lầy, mùa khô nứt nẻ lọt bàn chân, tập trung nhiều ở tả ngạn

cá lội biệt tăm”, “Sông sâu nước chảy ngập kiều”, “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi, buôn
bán không lời chèo chống mải mê”… Theo Nguyễn Chí Bền thì hình ảnh sông nước
xuất hiện 85 lần trong 550 bài ca dao về tình yêu lứa đôi ở Nam Bộ [dẫn theo 52; 66].
1.1.1.4. Đảo, bờ biển và rừng
Nam Bộ còn có những vùng duyên hải và biển với khá nhiều đảo trải dài như đảo
Phú Quốc, đảo Thổ Chu, đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Nghệ… Đảo không chỉ có tác dụng
chắn sóng, tạo ra các bãi bồi làm tăng diện tích đất nổi cho cả vùng, mà đảo còn cho con
người nhiều lâm sản quý khác.
Từ Vũng Tàu đến Hà Tiên bờ biển thấp, bằng phẳng, nhiều bãi triều bùn phủ kín
rừng ngập mặn, có tốc độ tiến ra biển lớn nhất cả nước.
Ven biển có rừng ngập mặn rộng lớn. Từ Cà Mau đến Kiên Giang có rừng
nguyên sinh U Minh Thượng, U Minh Hạ. Rừng ở đây có nhiều loài động thực vật quý
hiếm. Hình ảnh quen thuộc là những sân chim, kèo ong, sếu đầu đỏ; những mênh mông
rừng tràm, rừng đước với một trữ lượng than bùn khổng lồ… Có thể nói, rừng ngập
mặn Nam Bộ rộng lớn nhất, đa dạng và phong phú nhất trên bán đảo Đông Dương.
-12-
1.1.1.5. Do khí hậu, độ ẩm, lượng mưa… có nhiều thuận lợi cho nên Nam Bộ trở
thành một vùng đất trù phú, màu mỡ, phì nhiêu; có thảm thực vật, động vật hết sức đa
dạng phong phú: nhiều loài cây công nghiệp quý như cao su, tiêu, điều…; nhiều loài cây
ăn trái đặc sản nổi tiếng như: xoài cát Hoà Lộc, vú sữa Vĩnh Kim, sầu riêng Ngũ Hiệp,
bưởi Năm Roi, nhãn Vĩnh Long, Bạc Liêu, chôm chôm Chợ Lách, quýt Lai Vung, cam
Phong Điền, Tam Bình…; động vật có giá trị như chim, ong mật, cá, tôm và nhiều hải
sản quý khác.
Dấu ấn về một vùng đất “gạo trắng nước trong” in đậm trong những câu tục ngữ,
ca dao: “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai”, “Cơm
Nai, Rịa; cá Rí, Rang” hay:
“Ai ơi về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” (ca dao)
v.v.
Trong Gia Định thành thông chí (GĐTTC) có đoạn: “Huyện Kiến Hoà đất màu

đi để kiếm sống và cũng mong được an thân. Lớp nông dân nghèo khác cũng tiến vào
Nam theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn. “Trong sự nghiệp 300 năm mở mang,
khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất
sinh tụ lâu đời của mình là châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển miền
Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam Bộ ngày nay.”
[52; 3]
Những người dân nghèo này chinh phục vùng đất phía Nam bằng bàn tay khối óc
của mình, bằng sự cần cù, lam lũ: “Họ là những toán tiên phong vũ trang bằng óc phiêu
lưu mạo hiểm, bằng cán búa, lưỡi cày, tấm lưới” [59; 60]. Hoặc “Nam Kì được chinh
phục không phải bằng thanh gươm vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi
cày đôi trâu đi từng bước một” [59; 60].
Thời kì này, còn có lính tráng, các tội đồ bị triều đình bắt buộc vào Nam lập đồn
điền, bảo vệ biên cương một vùng đất nước.
Thế kỉ XVII, XVIII, người Hoa từ các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,
Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) dắt díu nhau nhập cư vào ĐBSCL lập nghiệp. Một
số khác vốn là quan quân nhà Minh không chịu khuất phục triều Mãn Thanh đến đây tị
nạn, làm ăn. Giữa thế kỉ XVIII, người Chăm (ở Chân Lạp – cuối thế kỉ XVII) chuyển về
vùng núi Bà Đen. Cả người Pháp, Anh, Mã Lai, Ấn Độ… cũng có mặt ở Nam Bộ: “Gia
Định là đất miền Nam của nước Việt, khi bắt đầu khai thác, dân lưu tán của nước ta và
người Đường (tục xưng người Đại Thanh là người Đường, cũng như rợ Ri xưng người
Trung Quốc là người Hán, chứ không phải Hán của lưu Hán, Đường của Lí Đường.
-14-
Người Quảng Đông tự nhận là Đường của đời Đường Ngu không phải quá khoe).
Người Tây Dương (các nước Phú Lãng Sa, Hồng Mao, Mã Cao (Áo Môn), các nước
phương Tây gọi là Tây Dương), người Cao Miên, người Chà Và (phàm 36 cảng ở Mãn
Lạt Đa (Malucca) gọi là hải đảo. Người Sơn Nam theo đạo Bái Nhật (thờ mặt trời, tóm
gọi là Chà Là). Các nước Kiều ngụ phần nhiều ở xen lẫn nhau, mà áo mặc đồ dùng đều
nước nào theo lối nước ấy” [24; 143].
Thế kỉ XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía nam sông Hậu như Long
Xuyên, Rạch Giá… Họ đã chinh phục và biến cải cơ bản vùng đất mới và thu được

Hết củi thì có Tân Sài chở vô” (ca dao)
- “Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua” (ca dao)
Đời sống dân chúng dễ chịu, không phải lo cái ăn cái mặc: “Thành Gia Định Việt
Nam ta, đất rộng lương thực nhiều, không lo về đói rét, cho nên ít chứa sẵn, tục dân sa
hoa, kẻ sĩ đua nhau tài giỏi. Người bốn phương ở lẫn nhau, mỗi nhà tự có tục riêng”
[24; 141], “Người Gia Định ngày ăn ba bữa đều ăn cơm cả, cháo gạo cũng ít ăn, huống
chi là thứ khác, do thóc gạo thừa thãi, hằng năm không mất mùa đói kém nên như thế”
[24; 155].
Tuy nhiên, cuộc sống của họ buổi đầu không phải không có những khó khăn.
Khó khăn một phần do công cụ lao động còn thô sơ, chỉ có cái cày, cái cuốc, cây rựa,
cái leng… Phần nữa, do thiên nhiên gây không ít khó khăn và ẩn chứa nhiều hiểm nguy.
Việc khai phá vùng đất hoang, ban đầu thường là khoảnh đất nằm lọt giữa một vùng
rậm rạp, lầy trũng, con người luôn phải đương đầu với những mối nguy hiểm như hùm
beo, cá sấu, rắn rết… Mặt khác, mùa nước nổi thì “cá nhiều gạo thiếu”. Công tác thuỷ
lợi luôn đặt ra để khắc phục tình trạng ngập úng. Mùa khô (nắng) người nông dân sống
bằng nghề “đổi nước”, chăn vịt ngoài đồng. Những nơi đất phèn mặn năng xuất lúa
thấp, làm mỗi năm chỉ được một vụ. Sự xâm nhập của nước mặn và sự khan hiếm nước
ngọt thường xuyên xảy ra ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và sinh hoạt của con người.
Đời sống người nông dân khoảng đầu thế kỉ này thật cực khổ mà nguyên nhân
còn là sự bóc lột của bọn phong kiến, thực dân: “Hàng ngày sáng ra lót lòng sơ với
muối mè (vừng), trưa và chiều hai bữa đạm bạc cá mắm canh rau, quần bố áo vải, no
bụng ấm thân thì thôi… Con nít bảy tám tuổi chỉ mặc một cái áo phủ đến trôn, chưa cho
mặc quần, chín tuổi mới mặc quần cụt, mười tuổi đủ trí nhớ, con nhà giàu cho đến ở
nhà thầy mà học tập, con nhà nghèo thì chịu dốt, cho nên thuở xưa ít có người biết chữ”
[68; 481].
-16-
Sau này, chính con người đã làm cho thiên nhiên nổi giận. Nạn cháy rừng, săn
bắt động vật quý hiếm, khai thác tài nguyên theo kiểu huỷ diệt, làm ô nhiễm môi
trường… khiến cho tài nguyên ngày càng cạn kiệt, đời sống dân chúng ngày càng khó

1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá
- Khái niệm văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình” [89;
25].
- Theo Trần Ngọc Thêm, văn hoá gồm bốn thành tố sau đây: văn hoá nhận thức,
văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên (tận dụng và đối
phó với môi trường) và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội [theo 89; 28, 29].
“Văn hoá vùng là một phạm vi, một khu vực địa lí – văn hoá có đặc điểm và bản
sắc riêng” [76; 5]. Nam Bộ là một vùng văn hoá.
Chúng ta sẽ tìm nét đặc trưng của văn hoá Nam Bộ theo góc nhìn từ các thành tố
văn hoá trên.
1.1.3.2. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
Trên con đường Nam tiến, người Việt đã mang theo mình một nền văn hóa Việt.
Trước điều kiện sống khắc nghiệt, con người đã có cách ứng xử thích ứng với môi
trường mới, hoàn cảnh sống mới, nhanh chóng nắm bắt được quy luật tự nhiên, thích
nghi với nó và bắt nó phải phục vụ con người.
Nền văn hoá Việt được người Việt ở Nam Bộ vận dụng, mang tính động hơn, và
đã hình thành nên một vùng văn hóa đặc sắc Nam Bộ, làm phong phú và tô đậm thêm
nền văn hóa Việt Nam nói chung.
Có thể phác thảo vài nét đặc trưng về văn hoá Nam Bộ như sau: “Vùng văn hoá
Nam Bộ có hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ (lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) và
Tây Nam Bộ (lưu vực sông Cửu Long), với khí hậu hai mùa (khô – mưa), với mênh
mông sông nước và kênh rạch. Các cư dân Việt, Chăm, Hoa, tới khai phá đã nhanh
chóng hoà nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Ma, Xtiêng,
Chơro, Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thuỷ
sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú và
đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hoá
phưong Tây…” [89; 63]
Trong cách ứng xử với tự nhiên, người Việt ở Nam Bộ vẫn giữ được nếp sống

hoạn… Họ vẫn còn mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất. Biết
bao gương anh hùng như Trương Định, Nguyễn Trung Trực… đã không hổ danh với
những danh nhân vùng đất khác của đất nước.
Chủ nhân ở Nam Bộ từng là những lưu dân nghèo khổ, từng bị áp bức bóc lột và
chính trong gian khó, hiểm nguy của quá trình mở mang miền đất mới đã tạo nên tính
-19-
cách can trường, gan góc, không lùi bước trước bất kì trở ngại nào của tự nhiên cũng
như những bất công, vô lí của xã hội. Bởi vì “Đến đây là sơn cùng thuỷ tận rồi. Đến
đây là đến trên bờ Thái Bình Dương, vịnh Xiêm La mịt mù rồi. Đến đây chỉ còn có hai
con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa thì thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai
là cố bám lại đấu tranh để sống” (Nguyễn Văn Bổng) [theo 68; 613]. Ông cha ta đã
chọn con đường thứ hai: đấu tranh để sống.
Trong giao tiếp, người Nam Bộ bộc trực, chất phác, thẳng thắn, ít nói văn hoa,
rào đón. Tác giả Trần Văn Giàu viết: “Người dân đồng bằng sông Cửu Long – Đồng
Nai vẫn chân thật trung tín, cởi mở bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên
thuỷ), xử sự với người ngay một cách không suy tính thiệt hơn. Họ cũng đòi hỏi kẻ khác
cũng như vậy đối với họ” [59; 161, 162].
Người Nam Bộ ít chịu sự ràng buộc của của đạo đức Khổng Mạnh, ít thuần phục
quyền uy phong kiến. Một quá khứ với bao khuôn phép gò bó, cứng nhắc, những quan
niệm cổ hủ đã được “họ cởi bỏ lại đằng sau để sáng tạo ra một phong cách sống tự do,
phóng khoáng hơn và làm cho nền đạo lí giàu tính nhân ái của dân tộc ánh lên những
sắc màu độc đáo. Họ không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng cứu khốn, phò
nguy, sống cái đạo làm người “Kiến ngãi bất vô vi dũng dã” [52; 68].
Người Nam Bộ rất hiếu khách. Sự hiếu khách vốn là bản chất con người Việt
Nam, khi điều kiện sống có phần dễ chịu hơn thì nó mới được thể hiện một cách rõ nét
nhất. “Ở Gia Định, khách đến thì mời ăn trầu trước, thết nước chè rồi đến ăn cơm ăn
bánh, cốt phải phong hậu. Không kể người thân hay sơ, lạ hay quen, tung tích thế nào,
đã đến tất phải tiếp nhận thết đãi. Cho nên người đi chơi phần nhiều không mang lương
thực, mà người lậu sổ, người trốn tránh khá nhiều vì có chỗ nuôi khách” [24; 146].
Người Việt Nam Bộ ít nhiều có đầu óc phiêu lưu mạo hiểm. Họ dám chấp nhận hiểm

do trải qua các biến cố lịch sử xã hội nên đã có những thay đổi phù hợp với hoàn cảnh
mới. Theo hướng đồng đại, ngoài yếu tố ổn định, văn hoá Nam Bộ cũng có những thích
nghi, biến đổi riêng cho phù hợp với môi trường sống. Mặc dù vậy, văn hoá Việt ở Nam
Bộ một mặt vẫn giữ được bản sắc cội nguồn, mặt khác vẫn có những nét độc đáo riêng.
Ví dụ: “Nếu như ở người Hán, trời quan hệ với đất thông qua con người, thì có lẽ ở
người Việt mối quan hệ cơ bản, đầu tiên phải là Đất, Nước và Con người, trong đó
Nước và Con người là quan hệ số một. Chúng tôi cho rằng chính người Việt phương
Nam mới là dân tộc hiểu biết sâu sắc về Nước – như một trong số những thành phần cơ
bản của vũ trụ vật chất. Nếu như ở người Trung Hoa có thầy địa lí thì thầy “thuỷ lí”
-21-
trong dân gian Việt Nam có lẽ là hình ảnh cô đọng nhất về tri thức Việt, hay nói chính
xác là “tri thức văn hoá dân gian Việt” [13; 118].
Sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trên miền đất phương nam diễn ra trên
nhiều lĩnh vực: cách làm lụng, ăn mặc, đi lại, lễ tết, học hành… và văn hoá Nam Bộ vẫn
giữ được bản sắc riêng. Sự giao lưu này càng làm phong phú thêm văn hoá Việt.
Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ khăng khít với nhau. Điều này đã được thừa
nhận. Ngôn ngữ với văn hoá cũng có mối quan hệ tương tự:”ngôn ngữ không tồn tại
ngoài văn hoá” (E. Sapir) [115; 255]. “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá, đồng thời
nó cũng là hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hoá” [11; 5]. Ngôn
ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy của con người mà nó “còn
là quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực
bằng cái mã của mỗi ngôn ngữ.” [72; 32]. Quan niệm ấy chính là đặc trưng văn hoá
trong định danh.
Bằng vốn từ ngữ của mình, ngôn ngữ đã phản ánh văn hoá của một dân tộc, của
một vùng dân tộc. “Vốn từ vựng văn hoá của một ngôn ngữ trước hết thuộc vào vốn từ
vựng chung, cơ bản của một ngôn ngữ, các đơn vị của nó phản ánh cái cấu trúc văn
hoá của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ ấy. Vốn từ vựng như vậy phải được tổ chức, sắp
xếp và được cấu trúc hoá theo các đặc trưng văn hoá cộng đồng nhất định” [13; 69].
1.1.4. Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ
1.1.4.1. Khái niệm về phương ngữ, từ địa phương, vấn đề phân vùng phương

nào cả mà chỉ có một ngôn ngữ tiếng Việt mà thôi. Nhưng cũng có quan điểm cho là
hai, là ba, là bốn, hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ (theo 8; 85-88]. Cụ thể:
+ S.C. Thomson là người đưa ra quan điểm không chia vùng phương ngữ của
tiếng Việt.
+ H. Maspero, M.V. Gordina và I. S. Bustrov có cùng quan điểm chia hai vùng
phương ngữ: phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung (tiếng miền Nam giống phương
ngữ Bắc). Hoàng Phê cũng chia làm hai vùng nhưng ranh giới có khác: tiếng miền Bắc
(Hà Nội), tiếng miền Nam (có thành phố Hồ Chí Minh), ở khu vực giữa là vùng chuyển
tiếp.
+ Quan điểm chia ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Thanh Hoá và Bắc
Bộ), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Đà Nẵng) và phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng
trở vào). Đây là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu mà tiêu biểu là Hoàng Thị Châu.
+ Các đại diện cho quan điểm chia làm bốn vùng phương ngữ có Nguyễn Kim
Thản: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phần Thanh Hoá), phương ngữ Trung Bắc (phía
-23-
nam Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú
Khánh), phương ngữ Nam (từ Thuận Hải trở vào); Nguyễn Văn Ái: phương ngữ Bắc Bộ
(từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hoá), phương ngữ Bắc Trung Bộ (từ Nghệ
Tĩnh đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Nam Trung Bộ (từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến
Thuận Hải), phương ngữ Nam Bộ (từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau).
+ Chia làm năm vùng phương ngữ: phương ngữ miền Bắc (Bắc Bộ và Thanh
Hoá), phương ngữ Trung trên (từ Nghệ An đến Quảng Trị), phương ngữ Trung giữa (từ
Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy),
phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào) là quan điểm của Nguyễn Bạt Tụy.
Các ý kiến, quan điểm trên đều lấy trước hết ngữ âm làm tiêu chí chính để phân
chia các vùng phương ngữ. Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp thì
cũng chỉ dừng ở những vùng phương ngữ lớn mà thôi.
1.1.4.1.4. Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào, Hoàng Phê gọi là tiếng
miền Nam, nơi có Sài Gòn (tp HCM) là trung tâm (trong bài “Ý kiến về một vấn đề nhỏ:

-Thanh điệu: Tiếng Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang, huyền,
hỏi (phát âm nhẹ nhàng), sắc, nặng (theo cảm nhận của chúng tôi, thanh này cũng nhẹ
hơn tiếng toàn dân).
- Phụ âm đầu: Chỉ có 19 phụ âm. So với 23 phụ âm trong hệ thống phụ âm chuẩn
thì PNNB không có 3 phụ âm cong lưỡi /ş, z
c,
ţ/ (giống phương ngữ Bắc), không có phụ
âm môi – răng /v/ (phụ âm đầu /v, z/ đều phát âm là /z/ (tuy nhiên, /z/ không phát âm
giống tiếng Việt toàn dân mà phát âm giống “j”). Cá biệt có một số nơi thuộc vùng
ĐNB phát âm phụ âm đầu /t’/ thành /x/ (thịt

khịt), một số nơi thuộc vùng miền Tây
Nam Bộ phát âm /z
c
/ thành /γ/ (cá rô

cá gô), / ţ / thành /t/ (cá trê

cá tê)…
Các phụ âm /k-, h-,?-/ khi đứng trước uy, ua, uơ thì phát âm giống nhau (ví dụ,
“qua”, “hoa” đều thành “wa”).
- Vần: Âm đệm /-w-/ hoặc bị lược bỏ (loan

lan, luyến

liến…), hoặc được
nhấn mạnh thành âm chính (loan

lon). Các nguyên âm đôi /ie,  ɤ , uo/ khi đi với /-m,
-p/ cuối thì mất yếu tố sau (tiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status