Tiểu luận môn phương pháp nghiên cứu khoa học ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SÁNG TẠO SCAMPER PHÂN TÍCH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MÀN HÌNH MÁY TÍNH - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
adcb
BÀI THU HOẠCH
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SÁNG TẠO SCAMPER
PHÂN TÍCH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MÀN HÌNH MÁY TÍNH
GVHD : GS. TSKH. HOÀNG VĂN KIẾM
HVTH : NGUYỄN VĂN TIẾN
MSHV: CH1301109
TP. Hồ Chí Minh – Tháng 5 Năm 2014
MỤC LỤC
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 2
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP SCAMPER
1. Sơ lược về phương pháp SCAMPER
Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư
Michael Mikalko phát triển, SCAMPER là ghép các chữ cái
đầu của nhóm từ sau: Substitute ( thay thế), Combine (kết
hợp), Adapt (thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put (thêm vào),
Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảo ngược).
Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận
dụng nhưng khá hữu hiệu nên ngày càng được sử dụng phổ
biến rộng rãi, nhất là trong các doanh nghiệp.
Hiện nay, có khá nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau nhưng không có
phương pháp nào vượt trội trong mọi tình huống, trong mọi lĩnh vực. Tuy nhiên,
phương pháp sáng tạo SCAMPER tỏ ra có nhiều ưu điểm trong việc phát triển hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp. Hai trọng tâm sáng tạo trong doanh nghiệp là
sáng tạo trong phát triển đổi mới sản phẩm và sáng tạo trong tiếp thị kinh doanh sản

Ví dụ:
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 5
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
2.3. Phép thích ứng – Adapt
Nội dung: Thích ứng hệ thống trong một bối cảnh khác.
Nghĩ xem khi thay đổi, các tính năng này có phù hợp không?
Các câu hỏi có thể đặt ra:
- Đối tượng ta đang xem xét giống với cái gì khác?
- Có cái gì tương tự với đối đối tượng ta đang xem xét nhưng trong một
tình huống khác?
- Cái gì tôi có thể copy, mượn hay đánh cắp?
- Ý tưởng nào ngoài lĩnh vực của tôi có thể hợp nhất?
- Quá trình nào có thể được thích ứng?
- …
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 6
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Ví dụ:
2.4. Phép điều chỉnh – Modify
Nội dung: Điều chỉnh qui mô thành tố của hệ thống.
Tăng và giảm kích cỡ, thay đổi hình dáng, thuộc tính…
Các câu hỏi có thể đặt ra:
- Yếu tố nào có thể điều chỉnh lớn hơn?
- Yếu tố nào có thể cao hơn, to hơn hay mạnh hơn?
- Yếu tố nào có thể lặp lại? Tôi có thể tạo ra nhiều bản sao?
- …
Ví dụ:
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 7
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
2.5. Phép thêm vào – Put
Nội dung: Thêm thành tố mới vào hệ thống.

CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
MÀN HÌNH MÁY TÍNH
Như chúng ta biết, máy tính được xem là điều cần thiết cho tất cả mọi người.
Khó có thể tưởng tượng một cuộc sống hiện đại mà không có sự ra đời của máy tính.
Nhưng bên cạnh một chiếc máy tính luôn hiện diện một đồ vật rất quan trọng đó
là màn hình. Nơi sẽ hiển thị ra một cách trực quan cho con người chúng ta xử lý các
thao tác mà chúng ta cần dùng.
Nếu ví máy tính như một bộ não thì màn hình được xem như là tay, chân, cơ
thể,…. Một bộ não hoạt động tốt nhưng không có hiển thị ra cho bên ngoài thì chúng ta
cũng không biết có thật sự bộ não hoạt động tốt đến cỡ nào. Do vậy, mặc dù nó không
quá lớn lao nhưng màn hình máy tính là sự cần thiết cho một chiếc máy tính.
Nhưng để đạt được một màn hình hiển thị đẹp, rõ nét, sống động như ngày hôm
nay ta vẫn sử dụng thì màn hình máy tính đã trải qua một thời kì dài trong quá trình
hình thành và phát triển.
1. Bìa đục lỗ vừa là đầu ra, vừa là đầu vào
ENIAC là một trong số các máy tính điện tử đầu tiên sử dụng bìa đục lỗ để thể hiện
cho cả đầu vào lẫn đầu ra của một chương trình máy tính. Để viết một chương trình,
người vận hành máy tính sẽ soạn thảo trên một chiếc máy giống như máy đánh chữ,
mỗi câu lệnh sẽ được mã hóa bằng cách tự động đục các lỗ trên các thẻ bằng giấy. Sau
đó, người ta sẽ thả một số lượng lớn các tấm bìa chi chít lỗ đó vào máy tính để nó có
thể đọc và thực hiện chương trình.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 10
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Bên trái: một nữ vận hành máy tính đang cho các tấm bìa đục lỗ vào máy ENIAC
(1947). Bên phải: Bộ lập bảng IBM 405 giúp người vận hành tính kết quả của đầu ra.
Phía đầu ra, kết quả cũng được mã hóa bằng việc đục lỗ các bìa và sau đó những người
vận hành sẽ giải mã nó với một thiết bị như bộ lập bảng IBM 405 (bên phải ảnh) để
đếm và in các giá trị của tấm bìa lên một băng giấy.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 11
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm

dùng nó như một thiết bị hiển thị. Các máy điện báo sẽ in ra kết quả liên tục của một
phiên làm việc của máy tính. Đây vẫn là dạng giao điện đầu ra rẻ nhất đối với các máy
tính cho đến giữa những năm 1970.
5. Glass Teletype
Tại một thời điểm ở những năm 1960, các kĩ sư nhận ra rằng họ có thể sử dụng các
ống CRT để tạo thành một “tờ giấy ảo” thay cho tờ giấy thật của máy điện báo. Glass
teletype là cái tên đầu tiên cho thiết bị đầu ra dạng này.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 14
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Uniscope 300 (1964) và ADM-3 (1975) là các glass teletype sử dụng CRT để hiển thị
kết quả chương trình máy tính.
Dạng màn hình video này hiển thị nhanh và linh động hơn so với dùng giấy nên nó
đã trở thành phương pháp vượt trội để thể hiện giao diện của máy tính trong nửa đầu
những năm 1970. Thiết bị đầu ra được nối với máy tính qua dây cáp, thường chỉ truyền
các đoạn mã biểu diễn kí tự văn bản chứ không phải đồ họa. Cho đến những năm 1980,
một số màn hình mới được hỗ trợ màu sắc.
6. Video phức hợp ra đời
Những chiếc máy điện báo đánh chữ (kể cả những chiếc có đầu ra là băng giấy)
cũng là cả một gia tài. Tìm kiếm một biện pháp thay thế rẻ hơn, Don Lanscaster, Lee
Felsenstein và Steve Wozniak đã cùng lúc đưa ra một ý tưởng: xây dựng một thiết bị
cuối giá rẻ là màn hình video CCTV.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 15
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Các thiết bị cuối hiển thị video đầu tiên: CT-1024 (1974) và sau đó là Sol-20 và Apple
I vào năm 1976.
Không lâu sau đó, Wozniak và Felsenstein đã lần lượt cho ra mắt các thiết bị hiển
thị đầu ra video là Apple I và Sol-20. Những chiếc máy tính đầu tiên có màn hình
video được sản xuất vào năm 1976.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 16
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm

tiên, các công ty như IBM hay GRID đã thử nghiệm với các màn hình tương đối nhẹ và
mỏng trên các máy tính xách tay. Công nghệ này chưa bao giờ được áp dụng cho PC
nhưng sau này nó lại xuất hiện trong các bộ ti-vi màn hình phẳng.
10. Các tiêu chuẩn màn hình của IBM
Năm 1981, các máy tính cá nhân của IBM gắn trực tiếp một màn hình video một
màu theo tiêu chuẩn MDA và phải cảnh tranh với một số thiết bị đầu ra video sắc nét
khác. Với các đồ họa có màu sắc, IBM đã thiết kế bộ điều hợp CGA nối tới một màn
hình video phức hợp IBM 5153.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 19
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Màn hình IBM 5151 (1981) sử dụng thiết kế MDA và UBM 5153 (1983) sử dụng thiết kế
EGA.
Năm 1984, IBM cho giới thiệu EGA, một tiêu chuẩn màn hình mới có độ phân giải
cao hơn và nhiều màu sắc hơn. Các tiêu chuẩn video khác của IBM tiếp tục được hoàn
thiện trong những năm 1980 nhưng chúng không đạt được thành công như MDA và
EGA.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 20
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
11.Các màn hình của Macintosh
Máy tính Macintosh I (1984) có màn hình đen trắng và gắn liền với CPU trong khi
màn hình Macintosh II (1987) đã tách biệt và hiển thị màu sắc RGB.
Chiếc máy tính Macintosh đầu tiên ra đời năm 1987 bao gồm một màn hình Mac
đen-trắng 9 inch hiển thị đồ họa ảnh nhị phân 512x342 pixel. Macintosh II ra đời cùng
năm đã chính thức hỗ trợ màu sắc đồng thời tách biệt riêng màn hình với CPU. Tiêu
chuẩn video của Mac II cũng tương tự như VGA. Các màn hình Mac tiếp tục phát triển
theo thời gian và luôn luôn nổi tiếng với màu sắc đẹp và có độ nét cao.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 21
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
12. Các màn hình RGB
Màn hình Commodore 1084 (1985) và màn hình Atari 5C1224 (1986).

Bên trái là một màn hình có tỉ lệ màn ảnh đặt theo đúng một trang giấy. Bên phải là một màn
hình màu theo tỉ lệ 4:3.
Vào giữa những năm 1990, đã có thêm nhiều cải tiến và phát triển đối với màn hình
cho PC. Đây là kỉ nguyên của màn hình VGA đa đồng bộ hóa, có màu sắc và giá rẻ, có
khả năng xử lí trên một phạm vi rộng độ phân giải. Các nhà sản xuất bắt đầu thử
nghiệm với nhiều kích thước (từ 14-21 inch và hơn nữa) và tỉ lệ màn ảnh (tỉ lệ 4:3 hoặc
theo tỉ lệ của trang giấy theo chiều dọc). Một số màn hình CRT phẳng đã ra đời vào
cuối những năm 1990.
16. LCD cho máy tính bàn
Các công ty máy tính đã có các thử nghiệm về màn hình LCD dành cho máy tính
bàn từ những năm 1980 với một số lượng nhỏ. Những màn hình kiểu này có giá thành
khá cao và hiệu suất hoạt động cũng kém hơn so với các màn hình CRT phổ biến lúc
đấy.
Nguyễn Văn Tiến – CH1301109 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status