!" #$%"&'() #*+ ,-
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về khối lượng sản phẩm quốc dân (GNP)
còn phát triển kinh tế là sự tăng lên cả về chất lượng và số lượng sản phẩm quốc dân, thu
nhập bình quân theo đầu người và môi trường sống (có thể hiểu phát triển kinh tế là sự
tăng trưởng bền vững). Tăng trưởng và phát triển là hai mục tiêu mâu thuẫn nhau, đặt ra
nhiều vấn đề nhức nhối đối với các nhà làm chính sách. Có rất nhiều trường phái xung
quanh việc lựa chọn đó, xong nhìn chung có 2 ý kiến chủ đạo là: thứ nhất, trong giai đoạn
đầu tập trung nguồn lực để phát triển những ngành mũi nhọn ở những vùng trọng điểm,
chấp nhận ô nhiễm môi trường và sự phân hoá giàu nghèo ở mức cao; thứ hai, phân bổ
đều các nguồn lực để phát triển một cách công bằng.
Bạn nghĩ gì về những nhận định đó? Hãy đưa ra những lập luận rõ rang để
ủng hộ cho câu trả lời của bạn.
Theo quan điểm của ban tôi, mục tiêu chung của tất cả các quốc gia đều là “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nhưng lựa chọn đường lối của
mỗi quốc gia là khác nhau tuỳ vào hoàn cảnh của mỗi nước. Để tìm ra sự lựa chọn tối ưu
chúng ta cùng đi phân tích điểm mạnh và yếu của từng trường phái.
Trước hết với quan điểm tăng trưởng trước, phát triển sau. Đây là hướng đi mà
hầu như các nước đều lựa chọn trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá. bởi vì:
Thứ nhất, những nước này nguồn lực là có hạn, nếu đầu tư dàn trải thì sẽ manh
mún và không hiệu quả.
Thứ hai, tư duy công nghiệp và trình độ quản lý còn yếu.
Thứ ba, tận dụng được lợi thế theo từng ngành và từng vùng.
Tuy nhiên nhược điểm của quan điểm này là: sự tăng trưởng kinh tế nhanh đi liền
với sự ô nhiễm môi trường và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, sự phát triển không
đồng đều giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư dễ dẫn tới bất ổn xã hội.
Thứ hai với quan điểm TTKT đi đôi với PTKT. Sau một giai đoạn thế giới chạy
theo mô hình thứ nhất thì những hạn chế của nó bộc lộ một cách nhanh chóng đến nỗi
chính phủ ở các quốc gia đó không thể kiểm soát nổi. Vì thế giai đoạn sau xuất hiện một
mô hình mới khắc phục được hạn chế của mô hình kia nhưng tồn tại của nó lại là ưu điểm
của mô hình trước-quan điểm TT đi kèm với phát triển.
đầu tư và chỉ số về tỷ lệ dân số đô thị và nông thôn. 54627" là các chỉ số tổng hợp về
trình độ phát triển, bao gồm: Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số về chất chất lượng
cuộc sống (PQLI) và chỉ số nghèo của con người (HPI).
) #*/&0"
Từ thế kỷ XX đến nay, cuộc cách mạng KH-CN bùng nổ tạo ra NSLĐ cao, và vì
vậy chất lượng sống được nâng cao. Những của cải được tạo ra ngày càng nhiều đã phần
nào thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, đẩy nền văn minh nhân loại
phát triển nhanh. Nhưng, cũng từ chính sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề
như: Tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng quá mức của cải, tài nguyên; thiên tai, ô
nhiễm môi trường ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH, làm giảm
chất lượng sống, sự khai thác bừa bãi thiên nhiên dẫn đến sự ô nhiễm môi trường ngày
càng trầm trọng dẫn đến tình trạng quả đất ngày một nóng lên, tầng ozon bị hỏng làm
đe dọa sự sống trên trái đất, đe dọa cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai.
Đứng trước nguy cơ do sự tàn phá hủy hoại môi trường, sự giảm sút những cơ hội
phát triển của thế hệ tương lai đã buộc các quốc gia phải xem xét lại nội dung phát triển
với yêu cầu là phải gắn vấn đề môi trường, cuộc sống của các thế hệ tương lai với nội
dung phát triển, nhằm khắc phục những hạn chế vừa nảy sinh mà khái niệm PTKT chưa
đề cập đến trong xã hội đương đại. Đó là, môi trường và bền vững môi trường cũng như
cuộc sống của các thế hệ, trách nhiệm của thế hệ trước với thế hệ sau. Từ đó người ta bắt
đầu đưa ra khái niệm Phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là sự phát triển KT-XH với tốc độ cao, liên tục trong thời gian
dài dựa trên việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên mà vẫn bảo vệ được
môi trường sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài
nguyên, để lại hậu quả xã hội cho thế hệ tương lai. Nói cách khác, Phát triển bền vững là
sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và tài nguyên thiên nhiên
để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không
làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển KT-XH mai sau,
không làm giảm chất lượng sống của thế hệ tương lai.
Do tác động của hàng lọat các yếu tố trong và ngoài nước; yếu tố chủ quan và
khách quan mà tựu trung là do nền kinh tế VN còn quá lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp,
môi trường đang trở thành vấn đề hết sức bức xúc, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của mọi
người, cản trở quá trình phát triển KT-XH và đe doạ nghiêm trọng sự phát triển bền
vững.
Những tồn tại trên đây, nếu không giải quyết kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tăng trưởng, phát triển để hội nhập với kinh tế quốc tế, đồng thời ảnh hưởng
đến việc thực hiện các mục tiêu trên định hướng XHCN.
Do vậy, Phát triển bền vững ở nước ta đang được đặt ra rất cấp thiết. Để vượt qua
những thách thức đó, đòi hỏi phải có sự nỗ lực to lớn hơn nữa, không chỉ từ phía Chính
phủ mà phải được các cấp, các ngành, các đoàn thể, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và
từng người dân quán triệt và thực hiện một cách đồng bộ, mạnh mẽ. Chúng ta quyết tâm
thực hiện bằng đường chiến lược phát triển bền vững ở VN theo hướng đã được Đại hội
toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta xác định: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, CBXH và bảo vệ môi trường". Mục tiêu phát
triển được xác định theo hướng:
@? A'Bmục tiêu phát triển bền vững là nhằm đạt được sự đầy đủ về vật chất; sự
giàu có về tinh thần và văn hoá; sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã
hội; sự hài hoà giữa con người và tự nhiên.
4A'B phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện
tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo
sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt KT-XH-Môi trường. #$12, là phát triển bền vững
về kinh tế là việc đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu TTKT với phát triển văn hoá-xã
hội, cân đối tốc độ TTKT với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên
nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch. 34B phát
triển bền vững về xã hộilà việc phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng
nhanh, ổn định, đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào
tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng
trong xã hội. 34B phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiên
nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và
chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất.
Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xã
Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do cơ hội việc làm ở thành
thị lớn hơn, năng suất lao động hay hiệu quả công việc ở thành thị cao hơn. Đây là lý do
hình thành luồng di dân từ nông thôn ra thành thị với mức độ ngày càng tăng. Điều đó tạo
ra yêu cầu khách quan là phải có giải pháp hợp lý nhằm tạo việc làm cho lao động nông
thôn và nâng cao hiệu quả của lao động nông thôn, hạn chế sự chênh lệch quá lớn về thu
nhập giữa nông thôn và thành thị từ đó khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực do sự chênh
lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị gây ra.
►Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả thu lại
là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn mà các nước này
phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo ta kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm vào tình trạng
trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra điểm đột phá chính xác.
Thu nhập thay đổi sẽ không làm ảnh hưởng đến độ dốc của đường ngân sách mà
sẽ làm cho đường ngân sách tịnh tiến. Nếu thu nhập của cá nhân tăng lên, cá nhân có thể
mua được nhiều hàng hóa hơn tại các mức giá cho trước, đường ngân sách sẽ dịch
chuyển sang phía phải. Ngược lại, khi thu nhập giảm, đường ngân sách sẽ dịch chuyển về
phía trái do cá nhân mua được ít hàng hóa hơn.
Thu nhập thấp chi tiêu dùng bị ảnh hưởng, cầu giảm. Mức sinh hoạt hàng ngày bị
cắt giảm cho nên đầu tư thấp là chuyện không thể tránh khỏi, vì vậy nền kinh tế cũng bị
kéo theo.
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, gần 50% dân số các tỉnh
ĐBSCL có thu nhập chưa tới 1 USD/ngày (Báo tin tức 2013) Theo Ban chỉ đạo Tây Nam
bộ, năm 2015, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đề ra chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu
người đạt 43 triệu đồng, tăng 13,1% so năm ngoái. Trong đó, Cần Thơ là địa phương dẫn
đầu toàn vùng với mức thu nhập đầu người đạt 79,3 triệu đồng.
Là vùng nông nghiệp trọng điểm, quan trọng nhất của cả nước nhưng theo các
chuyên gia kinh tế, công nghiệp chế biến của vùng ĐBSCL vẫn chưa phát triển tương
xứng với tiềm năng và nguồn nguyên liệu của địa phương. Mức thu nhập của người dân
vẫn còn khá thấp so với các vùng khác ở Việt Nam, do đó cần có những biện pháp tích
cực giúp tăng thu nhập và đầu tư:
- Nông nghiệp chính là ngành kinh tế chủ lực của ĐBSCL cũng như là nguồn thu
thì cùng không làm cho nền kinh tế phát triển. Việc lấy toàn bộ thu nhập để gửi tiết kiệm
sẽ làm lượng cung lớn hơn lượng cầu, làm nền kinh tế mất cân bằng.
Vì vậy muốn nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả mỗi người phải biết tiêu
dùng và tiết kiệm một cách hiệu quả để tạo nên sự bền vững.
Tiêu dùng C phải tối ưu: Cần xài cái gì thì mua cái đó, cần trước mua trước, những
vật dụng không cần thiết có thể không cần mua về.
Tiết kiệm S trùng với đầu tư I thì nền kinh tế phát triển một cách tối ưu.
/Keynes cho rằng, nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng
tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ
điển. Mà nền kinh tế chỉ có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng
nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người.
Vai trò của tổng cầu trong việc xác định sản lượng
Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc kéo theo sản lượng thực tế:
- Khi thu nhập tăng lên thì xu hướng tiết kiệm trung bình cũng tăng lên và xu
hướng tiêu dùng tb sẽ giảm xuống là giảm cầu tiêu dùng. Đây là nguyên nhân trì trệ
trong kinh tế.
- Mặt khác, đầu tư quyết định quy mô việc làm, nhưng quy mô đầu tư lại phụ
thuộc lãi suất cho vay và hiệu suất cận biên của vốn. Ông viết “Sự thúc đẩy tăng sản
lượng phụ thuộc vào sự tăng lên của hiệu suất cận biên của một khối lượng vốn nhất
định so với lãi suất”.
- Ông đã đề xuất nhiều hình thức hoạt động để kích thích và tăng tổng cầu và việc
làm. Do đó lý thuyết này còn được gọi là lý thuyết trọng cầu.
Vai trò của chính sách kt tăng trưởng
Theo Keynes muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện
điều tiết nền kinh tế bằng các chính sách, đặc biệt là chính sách nhằm kích thích và tăng
cầu tiêu dùng.
Ông đề nghị:
- Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua các đơn đặc hàng
của chính phủ, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp).
- Áp dụng nhiều biện pháp tăng lợi nhuận, giảm lãi suất.
nông thôn đã hướng mạnh vào các chương trình tạo ra nông sản chủ lực xuất khẩu của
vùng như tôm, cá tra, lúa gạo, dừa
Theo ông Nguyễn Tiến Đông - Vụ trưởng Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước), từ
nhiều năm qua, nguồn vốn tín dụng cho ĐBSCL đã được ngành ngân hàng đẩy mạnh
triển khai. Bởi đây là khu vực quan trọng trong chiến lược an ninh lương thực và xuất
khẩu gạo của quốc gia, là nơi cung cấp lương thực, trái cây, thủy sản lớn nhất của cả
nước.
►Theo ông Nguyễn Phong Quang – Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo
Tây Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long hiện có nguồn lao động dồi dào với hơn 10,3
triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 57,8% dân số (2014).
Đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế là khu vực có nguồn nhân lực dồi dào song
chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của vùng thấp hơn
so với mức trung bình của cả nước gần 2%. Chất lượng trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ
năng nghề nghiệp còn chưa đáp ứng được đòi hỏi thị trường lao động (tỷ lệ lao động qua
đào tạo năm 2013 là 42,29% thấp hơn mức trung bình của cả nước). Đặc biệt, số lượng
lao động đi làm việc nước ngoài còn thấp, toàn vùng bình quân mỗi năm chỉ có khoảng
2.000 người đi làm việc nước ngoài
Mặc dù còn nhiều vấn đề bất cập trong nguồn lao động của ĐBSCL, xong chúng
ta không thể phủ nhận được nơi đây là một trong những nơi cung cấp số lượng lao động
cao nhất cả nước. Hy vọng trong tương lai với chính sách của Nhà nước, chất lượng lao
động ở ĐBSCL sẽ ngày càng nâng cao để nguồn lao động ĐBSCL không chỉ đạt số
lượng mà còn đạt chất lượng.
►Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội,
có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi
trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả
nước và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới. ĐBSCL gồm 13 tỉnh/thành, với diện
tích đất liền 39.712 km2 (chiếm 12,1% diện tích cả nước), có hải phận rộng trên 360
nghìn km2. ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mê Công và nước mưa. Cả hai nguồn này đều
đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Lượng nước bình quân của sông Mê Công chảy qua
ĐBSCL hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa. Chính lượng
phát triển các sản phẩm lợi thế của vùng như: Tập trung nghiên cứu và phát triển mạnh
một số giống lúa chủ lực, có năng suất, chất lượng cao, có chất lượng cao, có khả năng
kháng chịu tốt với dịch hại và thích ứng với biển đổi khí hậu, tạo ra sản phẩm gạo chất
lượng cao mang thương hiệu Việt Nam, cạnh tranh tốt trên thị trường trong và ngoài
nước mang lại hiệu quả cho người sản xuất.
Đặc biệt, hoạt động KH&CN vùng ĐBSCL sẽ tập trung thực hiện cơ chế và chính
sách liên kết trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thực hiện đồng bộ các
giải pháp KH&CN nhằm hạn chế, thích ứng đối với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
và nước biển dâng; hiện tượng lũ lụt và xói lở bờ sông, bờ biển; tình trạng xâm nhập
mặn, vấn đề sâu bệnh hại cây trồng vật nuôi, vấn đề ô nhiễm môi trường.
►Thời gian lại là một nguồn lực, hơn nữa là nguồn lực rất quan trọng, nguồn lực
vô hình, không tái tạo, bình đẳng về quyền sử dụng giữa tất cả mọi người. Vẫn biết thời
gian qua đi không trở lại, nhưng con người hoàn toàn có thể làm chủ thời gian, rút ngắn
thời gian phát triển cũng như sử dụng thời gian hiệu quả để ĐBSCL phát triển một cách
đúng đắn.
►Trong thời đại công nghệ thông tin - truyền thông bùng nổ hiện nay thì sức
mạnh của thông tin cũng theo đó tăng gấp bội, một sức mạnh cả cứng và mềm. Để tận
dụng được nguồn lực này, cần tạo ra môi trường tự do lan tỏa được quy định bởi thể chế
tháo cởi, khuyến khích, thúc đẩy.
Đồng thời, có ràng buộc hợp lý để phòng chống sự lạm dụng thông tin phản lại
phát triển và tiến bộ. Ở đây cần một sự dũng cảm và tầm nhìn xa rộng, mà thực tế cho
thấy còn có hạn chế cần được giải quyết. Khi đã có được điều đó, vấn đề tiếp theo là phải
có đầu tư cho hạ tầng thể chế và kỹ thuật, cho đào tạo nhân lực chuyên môn và phổ cập
rộng cho mọi người có nhu cầu thông tin.
ĐBSCL nếu có thể nắm được hai nguồn lực thông tin và thời gian thì sẽ ngày càng
phát triển hơn nữa, rút ngắn khoảng cách về sự phát triển với ĐB sông Hồng và ĐNB.
_@`a64"04Ub`&'b\() #*+ ,=>?
Dân số là nguồn lao động, là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội.
Ngay cả khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới hiện nay đang diễn ra với
những bước tiến kỳ diệu và đẩy mạnh tự động hoá quá trình sản xuất, thì người lao động
Dân số và giáo dục tác động lẫn nhau trong sự liên hệ và tác động của nhiều yếu tố
khác như kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, tôn giáo, Một sự thay đổi nào đó của
giáo dục không chỉ do tác động của dân số, mà có thể do tác động của các yếu tố kể trên.
Cũng như vậy, một sự biến đổi nào đó của dân số có thể do tác động của giáo dục và
cũng có thể do tác động của các yếu tố khác. Khi xem xét mối quan hệ giữa dân số và
giáo dục cần phải xem xét nó trong hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là yếu tố kinh tế - xã hội;
trong mối liên hệ, sự tương tác của các yếu tố khác.
Dân số và y tế
Sự phát triển của hệ thống y tế của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố
sau: trình độ phát triển kinh tế xã hội; điều kiện vệ sinh môi trường; tình hình phát triển
dân số; chính sách của nhà nước đối với y tế và các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân
dân. Như vậy, dân số là một yếu tố có tính chất khách quan và cùng với các yếu tố khác,
nó quy định sự phát triển của y tế về số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu.
Dân số và đô thị hoá
Trong vòng 20 năm qua, ở hầu hết các nước đang phát triển, dân số có khuynh
hướng tập trung vào các đô thị, tạo nên sự phân bố không đồng đều giữa các vùng, các
khu vực, gây ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển. Một trong những nhân tố quan trọng
của sự tăng trưởng đô thị là sự di dân từ nông thôn ra thành thị. Trong quá trình đô thị
hóa, các biến động kinh tế như cơ hội tìm việc làm, sự chênh lệch về điều kiện văn hoá,
xã hội (giáo dục, y tế, thông tin liên lạc, điều kiện làm việc và nghỉ ngơi) đã kích thích
việc di dân từ nông thôn ra thành thị với hy vọng tìm được việc làm và điều kiện sống tốt
hơn.
Dân số và môi trường
Hiện nay, tác động của gia tăng dân số với môi trường và ảnh hưởng của môi
trường bị ô nhiễm đối với con người là một trong những chủ đề, nội dung của toàn cầu
hoá, được thảo luận rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới.
Dân số và vai trò, địa vị của phụ nữ
Phụ nữ chiếm hơn nửa dân số trên thế giới. Vai trò của phụ nữ ngày càng được
thừa nhận và là một yếu tố quan trọng của các kế hoạch phát triển. Cải thiện và nâng cao
địa vị của phụ nữ không chỉ là vấn đề nhân đạo mà còn là một trong những cách đầu tư
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất và tạo
ra năng lực sản xuất mới, đó là quá trình chuyển hóa vốn thành các tài sản phục vụ cho
quá trình sản xuất.
Đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đối trong chi tiêu, do đó những thay đổi
trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản lượng và công
ăn việc làm. Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên. Sự thay đổi này làm cho tổng cầu
dịch chuyển.
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, có nghĩa là có thêm các nhà máy thiết bị,
phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất làm tăng khả năng sản xuất của nền
kinh tế. Sự thay đối này tác động đến tổng mức cung.
Mức chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm (hay mức nhập siêu) cũng là một thước
đo. Điều này có thể thấy rõ khi phân tích phương trình tổng cầu: GDP = C + I + G + EX
– IM. Theo phương trình trên, trong một nền kinh tế đóng, tỷ lệ tiết kiệm/GDP sẽ luôn
luôn bằng tỷ lệ đầu tư/GDP. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế mở, nhờ khả năng vay
mượn từ bên ngoài, một quốc gia có thể nâng tỷ lệ đầu tư/GDP cao hơn so với tỷ lệ tiết
kiệm/GDP và mức chênh lệch này, theo nguyên tắc tính tổng sản phẩm trong nước, luôn
luôn bằng tỷ lệ nhập siêu/GDP.
Sự tồn tại mối quan hệ giữa mức chênh lệch đầu tư/ GDP - tiết kiệm/GDP và tốc
độ lạm phát tại Việt Nam cũng đã được các số liệu thống kê khẳng định. Khi mức chênh
lệch giữa đầu tư/GDP và tiết kiệm/GDP trong năm (T-1) tăng lên, tỷ lệ lạm phát trong
năm (T) cũng có xu hướng tăng theo.
Về lý thuyết, không phải lúc nào hiệu số giữa đầu tư và tiết kiệm cũng phản ánh sự
dư thừa của tổng cầu. Trong một nền kinh tế thiếu vốn (tỷ lệ tiết kiệm/ GDP thấp và thừa
lao động), sự gia tăng khoảng cách giữa tỷ lệ đầu tư/GDP và tỷ lệ tiết kiệm/GDP có thể
giúp cho GDP tăng mạnh, giảm thất nghiệp mà không kéo theo lạm phát cao. Mặc dù
vậy, điều này khó có thể kéo dài mãi mãi. Chính vì vậy, mức chênh lệch giữa tỷ lệ đầu
tư/GDP và tỷ lệ tiết kiệm/GDP (hay mức nhập siêu/GDP) sẽ là thước đo hữu ích đối với
sự dư thừa của tổng cầu trong dài hạn (khi sản lượng xoay quanh mức tiềm năng) hoặc
khi mức dư thừa của tổng cầu tương đối lớn.
trình độ nhất định, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như
tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng
vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Thứ sáu, sự lớn mạnh & ổn định của nguồn vốn đầu tư trong nước giúp hạn chế
những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tạo dựng khung xương
vững chãi cho nền kinh tế, giúp chống lại sóng gió từ thị trường quốc tế.
Vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện ở nhiều mặt, cụ
thể như sau.
Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nâng cao năng lực sản xuất, tăng tỷ trọng của những ngành quan trọng cho sự tăng trưởng
& phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy quá trình chuyển giao
khoa học công nghệ, qua đó, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của nước sở tại để từ
đó tạo đà cho tăng trưởng & phát triển kinh tế.
Thứ ba, nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần tạo dựng môi trường cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế, tạo động lực cho sự tăng trưởng & phát triển kinh tế.
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào NSNN & cân đối vĩ
mô khác.
Thứ năm, nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng vào đào tạo việc làm,
tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực.
Thứ sáu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ
động hội nhập kinh tế với khu vực & thế giới.
Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước & nước ngoài rất chặt chẽ, chúng
bổ sung cho nhau để tạo thành một tổng thể thống nhất. Nguồn vốn trong nước tác động
tới nguồn vốn nước ngoài một cách gián tiếp thông qua cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi
trường đầu tư… Nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu
tư toàn xã hội, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác sử dụng nguồn vốn
đầu tư trong nước. Cùng với đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng làm tăng trực tiếp
nguồn vốn trong nước thông qua ngân sách nhà nước. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư nước
ngoài cũng tạo nguồn ngoại tệ giúp các doanh nghiệp trong nước thuận lợi hơn trong xuất
Thương mại thế giới (WTO).
Cuối cùng, vai trò của FDI thể hiện qua việc lành mạnh hoá các thể chế kinh tế -
tài chính và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô. Để có thể thu hút FDI, chúng ta phải đứng
trước yêu cầu cấp thiết cải tạo và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm xây
dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Có như thế chúng ta mới lọt vào tầm ngắm của các nhà
đầu tư nước ngoài.
'D2,
- Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI tập trung vào khai thác lợi thế giá nhân
công rẻ, nguồn tài nguyên có sẵn, thị trường tiêu thụ dễ tính để lắp ráp, gia công sản
phẩm tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các doanh nghiệp có vốn FDI hiện có đóng góp quan
trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam
không thay đổi, trong đó các mặt hàng nông, thuỷ sản, thực phẩm và các mặt hàng có giá
trị gia tăng thấp như dệt may, tạp phẩm chiếm đến 49,4%. Trong khi các ngành chế tạo
đòi hỏi công nghệ cao như máy công cụ, chế tạo ôtô, đồ điện tử chỉ chiếm 7,5% so với
54,6% tại các nước Đông á và ấn Độ.
- Sự liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và các doanh nghiệp nội địa còn
hạn chế. Do vậy, chưa hình thành được chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng hàng hoá và các
ngành công nghiệp phụ trợ.
- Các doanh nghiệp có vốn FDI cũng đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
gây bức xúc trong dư luận thời gian qua. Chất thải của công ty VEDAN là một ví dụ tiêu
biểu. Rõ ràng là, những hậu quả về môi trường nếu không được xem xét kỹ lưỡng khi
quyết định cấp phép đầu tư sẽ làm giảm tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.
- Các doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô
thị lớn mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả nước, điều này cũng là
một trong những nguyên nhân làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và
vùng nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi. Hơn nữa, FDI tập trung quá nhiều tại các
thành phố lớn sẽ càng gia tăng sức ép cho các đô thị này về dân số, hạ tầng đô thị.
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng FDI (Tham khảo)
Nhóm giải pháp về chính sách: Cần thu hút và sử dụng có lựa chọn nguồn FDI
hơn là chạy theo số lượng, cần tính đến hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững cũng
thể tiếp nhận 20.000 lao động có trình độ nếu Việt Nam đáp ứng đủ5. Tuy nhiên thực tế
hiện nay, Việt Nam chưa đáp ứng đủ số lượng lao động có trình độ cao theo yêu cầu của
khu vực FDI nói riêng và nhu cầu của xã hội nói chung.
Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng bằng những đóng góp cụ thể vào tăng
trưởng, tạo công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế đã chứng minh vai trò quan trọng của FDI trong nền kinh tế của Việt
Nam.
Tuy nhiên vai trò của FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả và góp phần vào sự phát
triển bền vững khi nó được lựa chọn và khuyến khích vào những ngành, những khu vực
thật sự cần thiết cho nền kinh tế để đảm bảo tính bền vững cho phát triển lâu dài và phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam.
o"6[&`':A'a64 #p"Y -
!"#$
%&'()*+,&-.)(/"
01(2,33$4
/"
q4 #k2J4&` #:"$12
Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi
phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước . Trong lịch sử phát triển các nước và
trênphương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là
chính . Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn
vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được
các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia.
56789:99;
059:99)<)=! **<)(9..,>/!
*'*?@=(AB1')
C*,*'&>7=D@EF'*E7-
G/)7HE! /&-<-*C*I,
(!1*'GJ)"?KIB1&+,
EI5*8<*DN(>4bcde&EF
*bfdgR;
hiY0-<-*T)?*Q(G$*"
01IB17EL,K/./(*%7-G/
7-B4F$B!bW7'*$7E<4*-'
L**$,W!"
hZYj*@3/)=*
E&k<-*-HK1-(@*@(EG/B"
hZYj.SE*6?/(D6E1*?
"076l.=mK
N(>48cde;
061D*1?! Dfdg7*kJ.
-!1/"j1Qfdg<+7*"9*cde
.! *I\*FPE* &?
'D6E"QcdeI]W
/'*)*=
"
6I(B T6U7"&'M<6 $28C`a64$ ,':-L'Cb4:M*
!"&`-e'A6f
Tiết kiệm và đầu tư thấp => tốc độ tích lũy vốn thấp => Năng suất thấp => Thu
nhập bình quân thấp => Tiết kiệm và đầu tư thấp => …
K4($V") !"&`+;Us2:"'"
Việc tăng vốn từ cổ đông hiện hữu chỉ thuận lợi khi cổ đông hiện hữu có sức mạnh
tài chính và không muốn giảm tỷ lệ sở hữu; sẽ bất lợi nếu cổ đông hiện hữu không đủ sức
mạnh tài chính. Đặc biệt, nếu cổ đông hiện hữu bị yêu cầu phải rút vốn đầu tư ngoài
ngành và thanh khoản thị trường gặp khó khăn, việc tăng vốn từ cổ đông hiện hữu sẽ rất
khó.
Tăng vốn từ phát hành thêm cổ phiếu chỉ thuận lợi khi thị trường cổ phiếu tăng
trưởng tốt, song thị trường chứng khoán hiện đang khó khăn và chưa sớm khởi sắc, do
thanh khoản còn yếu.
trên thị trường để thu hút khách hàng. Việc ngân hàng tham gia bảo hiểm tiền gửi đã
phần nào đêm lại sự yên tâm cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.
Ngoài yếu tố khách hàng thì chính sách khuyến khích nhân viên ngân hàng đóng
vai trò quan trọng. Bên cạnh việc không ngừng nâng cao tiền lương và thu nhập cho cán
bộ thì cần thiết phải chăm lo đời sống tinh thần cho nhân viên, đó là: Niềm vui và sự
thoải mái trong công việc, được kính trọng, được giao tiếp rộng rãi, khen thưởng kịp thời,
tạo điều kiện thăng tiến đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của ngân hàng.
Ngoài ra, việc quảng bá uy tín, tên tuổi của ngân hàng trên các phương tiẹn quảng
cáo, truyền thông cũng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp của ngân hàng. Từ đó củng cố niềm tin và
tâm lý yên tâm của khách hàng khi họ gửi tiền vào ngân hàng.
Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật nêu trên cũng có tác dụng tác động vào tâm lý
khách hàng và nhân viên ngân hàng, từ đó tạo ra xu hướng tốt hơn trong công tác huy
động vốn của ngân hàng.
Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và tâm lý có tác động tích
cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và tất yếu có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả
công tác huy động vốn của các NHTM.
KtPgiuv@wt
@
- Dự báo xu hướng thúc đẩy việc mở rộng quy mô vốn tự có của các NHTMCP
- Giải pháp từ phía các NHTMCP: Cân nhắc kĩ việc phát hành cổ phiếu. Chọn cổ
đông chiến lược là các tập đoàn ngân hàng nước ngoài và đa dạng hóa danh mục các đối
tác chiến lược. Xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở tình hình thực tế, sử dụng vốn
tăng thêm có hiệu quả. Cân đối quyền lợi của các cổ đông khi thực hiện chính sách chia
cổ tức bằng cổ phiếu. Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tự có tăng
thêm rõ ràng và chi tiết hơn. Các NHTMCP nhỏ nên hợp tác với nhau để tạo nên sức
mạnh tổng hợp.
`2J4@
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của
ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều
kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần
thể chuyển đổi ra tiền tiết kiệm nhưng trái phiếu vẫn là một khoản nợ và ngân hàng phải
để một khoản quỹ để trả nợ.
Đặc điểm của hình thức huy động này là không thuờng xuyên song giúp ngân
hàng có được lượng vốn sở hữu vào lúc cần thiết.
Các quỹ:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn
tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có
thì sẽ chuyển thành vốn tự có.
- Quỹ dự trữ đặc biệt: Là quỹ dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình kinh
doanh nhằm bảo toàn vốn.
- Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ khen
thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định.
Các quỹ trên thuộc sở hữu của ngân hàng. Nguồn hình thành là từ thu nhập của
ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là
một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ xung) do nguồn này có một số đặc điểm
như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi
đến hạn.
Vốn huy động:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức
kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh
toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng chỉ có
quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả
gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.Vốn huy động đóng vai trò rất quan
trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành phần kinh tế
trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở rộng tín dụng. Nhưng
nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ hợp
lí để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm có: Vốn tiền gửi và phát hành
những giấy tờ có giá.