1
CHƯƠNG 1. CƠ S LÝ LUN VỀ HIU QUẢ HOT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH TRONG DOANH NGHIP
1.1. Hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghip
1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp
a. Khái niệm doanh nghiệp
Hiện nay có khá nhiều định nghĩa thế nào là doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều
mang trong nó một nội dung và giá trị nhất định.
Theo quan điểm luật pháp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,
có con dấu, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh. Theo đó, quá trình kinh doanh phải được thực hiện một cách liên tục, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Theo quan điểm chức năng, doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại
đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do nhân viên của công ty thực hiện
nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được
khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.
(M.Francois Peroux)
Theo quan điểm phát triển, doanh nghiệp là “mt cng đồng người sản xuất ra
những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc
vượt qua những thời kỳ nguy kịch v ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu
vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”.
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh
nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều
có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại có thể phát biểu về định
nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân,
quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động
sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của
người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một
xuất, kinh doanh, tư vấn và các hình thức tham gia khác.
Công ty cổ phần: Đây là loại hình doanh nghiệp vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (theo điều 77 Luật doanh nghiệp).
Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số
lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Việc góp vốn
vào công ty được thực hiện bằng việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông có thể mua
nhiều cổ phần. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Đây là loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện
nay bao gồm Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công ty TNHH 1 thành
viên. Đối với công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên, thành viên của công
ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên công ty không vượt quá 50.
Đối với công ty TNHH một thành viên (Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005), là
Thang Long University Library
3
doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu
công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Công ty hợp danh: Đây là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân trong đó
có các cá nhân và thương nhân cùng hoạt động lĩnh vực thương mại dưới một
hãng và cùng nhau chịu mọi trách nhiệm về các khoản nợ của công ty. Theo
đó công ty hợp danh được định nghĩa là một loại hình doanh nghiệp, với
những đặc điểm sau: có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công
ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh);
ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn.
Công ty liên doanh: là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa
Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài nhằm tiến hành hoạt động
kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam.
chuyển hoá các đầu vào thành các đầu ra được thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận đó
là hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Tùy thuộc vào chức năng, ngành nghề và loại hình doanh nghiệp đã đăng kí trong
giấy phép hoạt động, mỗi doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh riêng. Doanh nghiệp sản xuất tập trung vào việc sản xuất ra sản phẩm. Hoạt
động kinh doanh của công ty thương mại là thực hiện việc trao đổi, lưu thông hàng
hóa. Giữa thương mại và sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Doanh
nghiệp thương mại tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp sản
xuất sẽ nhường lại một phần lợi nhuận cho doanh nghiệp thương mại. Bên cạnh đó,
hoạt động kinh doanh hàng hóa của doanh nghiệp thương mại không chỉ tác động đến
quá trình lưu thông hàng hóa mà thông qua các hoạt động mua bán đó, doanh nghiệp
tác động đến quá trình sản xuất. Hoạt động thương mại có thể thúc đẩy tái sản xuất
hoặc gây đình trệ quá trình sản xuất.
1.1.4. Vai trò của hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh
tế của một đất nước nói chung, hoạt động sản xuất kinh doanh có vai trò vô cùng quan
trọng.
Đối với một quốc gia, hoạt động SXKD là công cụ giúp làm tăng nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động thu thuế. Bên cạnh đó, đây cũng là hoạt
động nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Có thể thấy, hoạt động SXKD
chính là thước đo, là cơ sở đánh giá và là biểu hiện rõ ràng nhất về tình hình phát triển
của nền kinh tế quốc gia.
Đối với doanh nghiệp, hoạt động SXKD không chỉ đơn thuần là hoạt động mang
lại doanh thu cho doanh nghiệp mà nó là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với nhau
một cách khốc liệt. Sự phát triển bền vững của doanh nghiệp được đánh giá qua trình
độ và khả năng sử dụng nguồn lực trong hoạt động SXKD. Doanh nghiệp muốn tồn tại
và tăng khả năng cạnh tranh thì hoạt động SXKD phải vững bền và ngày càng phát
triển.
quát về kết quả hoạt động sau toàn bộ quá trình SXKD của cả doanh nghiệp hoặc một
bộ phận nào đó trong thời kỳ xác định. Còn hiệu quả SXKD bộ phận là hiệu quả chỉ
xét ở từng lĩnh vực hay hoạt động cụ thể như sử dụng tài sản, liên kết bán hàng,
Theo thời gian, hiệu quả hoạt động SXKD được chia thành hai loại là ngắn hạn
và dài hạn. Hiệu quả ngắn hạn được xem xét ở từng khoảng thời gian ngắn, tùy theo
cách giới hạn của doanh nghiệp như tuần, tháng, quý, Ngược lại, hiệu quả dài hạn
được thống kê sau khoảng thời gian có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hay 20 năm,
6
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Như đã nói, hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ là thước đo trình độ quản lý
của doanh nghiệp mà còn là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp, nó có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với doanh nghiệp và các thực thể bên ngoài khác.
Trong một số trường hợp, hiệu quả hoạt động SXKD được coi là nhiệm vụ, mục
tiêu để thực hiện. Đối với nhà quản trị, nói đến hoạt động SXKD là nói đến tính hiệu
quả của nó, đặc biệt là mục tiêu cao nhất – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò là công cụ để các nhà quản
trị thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh. Khi tiến hành một hoạt động kinh doanh,
các doanh nghiệp đều phải tính toán dựa trên những thông tin thu thập được để phục
vụ cho việc huy động đúng các nguồn lực. Việc tính toán hiệu quả hoạt động SXKD
chính là cách giúp nhà quản trị kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp,
từ đó dễ dàng có biện pháp điều chỉnh thích hợp trên hai phương diện giảm chi phí,
tăng doanh thu. Do vậy có thể thấy, hiệu quả hoạt động SXKD là một trong các công
cụ hữu hiệu để nhà quản trị thực hiện chức năng của mình.
Ngoài ra, một doanh nghiệp có báo cáo tình hình hoạt động SXKD rõ ràng và đạt
hiệu quả cao sẽ có lợi thế hơn trong việc thu hút vốn đầu tư, vay vốn ngân hàng hay
được nhà cung cấp tin tưởng với nhiều ưu đãi.
Chính vì vậy có thể khẳng định hiệu quả hoạt động SXKD vừa có vai trò là công
cụ để thực hiện nhiệm vụ, vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh và là căn cứ để các
thực thể bên ngoài đưa ra những quan điểm, đánh giá về doanh nghiệp.
định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Nó cho phép chúng ta tổng hợp
được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng kinh tế đem ra
so sánh, từ đó đánh giá được các mặt phát triển hay kém phát triển để tìm giải pháp
hợp lý trong từng trường hợp cụ thể. Để thực hiện phương pháp này, chúng ta cần tiến
hành theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn để so sánh
Trước tiên phải lựa chọn chỉ tiêu của một kỳ làm căn cứ để so sánh, được gọi là
kỳ gốc. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc để so sánh cho thích hợp.
Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc
là chỉ tiêu ở kỳ trước.
Khi nghiên cứu nhịp độ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng
thời gian trong năm, thường so sánh với cùng kỳ năm trước.
Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể so sánh mức
thực tế với mức hợp đồng.
Bước 2: Điều kiện so sánh được
Để thực hiện phương pháp này có ý nghĩa thì điều kiện là các chỉ tiêu được sử
dụng trong so sánh phải đồng nhất. Trong thực tế, chúng ta cần quan tâm cả về thời
gian và không gian của các chỉ tiêu và điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu
kinh tế. Về thời gian: các chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch
toán và thống nhất trên ba mặt nội dung, phương pháp tính toán và đơn vị đo lường.
Về mặt không gian: yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần phải được quy đổi về
cùng quy mô tương tự nhau (cụ thể là cùng một bộ phận, phân xưởng, một ngành, )
8
Bước 3: Kỹ thuật so sánh
So sánh tuyệt đối: là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng giá trị về một chỉ tiêu
kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể. Đơn vị tính là hiện vật, giá trị, giờ
công. Mức giá trị tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với
kỳ gốc.
9
hậu trong việc thực hiện các chỉ tiêu, khai thác khả năng tiềm tàng trong việc sử dụng
các yếu tố SXKD.
1.2.5.3. Phương pháp thay thế liên hoàn
Đây là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần
lượt và liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ
tiêu thay đổi và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối tượng phân tích bằng cách
cố định các nhân tố khác trong mỗi lần thay thế. Để áp dụng phương pháp này cần
thực hiện theo trình tự như sau:
Căn cứ vào mối liên hệ của từng nhân tố đến đối tượng cần phân tích, thiết
lập một công thức biểu thị mối liên hệ này. Công thức gồm tích số các nhân
tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.
Tiến hành so sánh lần lượt số thực hiện hiện với số liệu gốc để xác định ảnh
hưởng của từng nhân tố trong điều kiện giả định các nhân tố khác không thay
đổi.
Lấy kỳ gốc làm cơ sở, lần lượt thay thế các kỳ phân tích cho các số cùng kỳ
gốc của từng nhân tố.
Sau mỗi lần thay thế tiến hành tính lại các chỉ tiêu phân tích. Số chênh lệch
giữa kết quả tính được với kết quả tính trước đó là mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố được thay đổi số liệu đến đối tượng phân tích.
Tìm nguyên nhân làm thay đổi các nhân tố và đưa ra các biện pháp khắc phục
những nhân tố chủ quan ảnh hưởng không tốt đến chất lượng kinh doanh.
1.2.5.4. Phương pháp phân tích Dupont
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một
doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích
hợp nhiều yếu tố của BCKQKD và bảng CĐKT. Trong kinh tế, người ta vận dụng mô
hình này để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Từ đó có thể phát hiện ra
những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ.
Bản chất của phân tích Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lời
của từng yếu tố lên chỉ tiêu ROA, ROE dựa trên mô hình phân tích tài chính Dupont
dưới dạng sơ đồ như sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình phân tích tài chính Dupont (Nguồn: Dựa theo Giáo trình Phân tích BCTC – PGS.TS Nguyễn Năng Phúc)
Mô hình trên cho thấy tỷ lệ lãi theo DTT phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản, đó là
tổng LNST và DTT. Hai nhân tố này có quan hệ cùng chiều, nếu DTT tăng thì LNST
cũng tăng và ngược lại. Vì thế để tăng quy mô về DTT ngoài việc giảm các khoản
giảm trừ doanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, Bên cạnh
đó, vòng quay của tài sản dựa vào DTT và TTS. Hai yếu tố này thông thường cũng
quan hệ theo tỷ lệ thuận, nghĩa là TTS tăng thì DTT cũng tăng. Số vòng quay của tài
sản càng cao thì sức sản xuất của tài sản càng lớn. Để nâng cao tỷ lệ sinh lời của tài
sản, một mặt phải nâng cao quy mô DTT, mặt khác sử dụng tiết kiệm, hợp lý TTS.
Nhân tố cuối cùng tác động đến chỉ tiêu cần phân tích theo phương pháp Dupont là
đòn bẩy tài chính, phụ thuộc vào TTS và VCSH. Tác động đòn bẩy tài chính mang
tính tích cực khi tỷ suất sinh lời kinh tế cao hơn lãi suất tiền vay và ngược lại.
Tỷ lệ lãi theo DT
nghiệp
1.2.6.1. Phân tích khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của công ty
Nhằm đạt được mục tiêu mong muốn, mỗi doanh nghiệp đều phải chuẩn bị cho
mình một tiềm lực vững chắc. Tiềm lực ấy chính là tài sản và nguồn vốn mà doanh
nghiệp đang sở hữu. Vì vậy, doanh nghiệp cần thường xuyên xem xét, phân tích cơ
cấu tài sản – nguồn vốn cũng như mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình
sử dụng vốn, từ đó tìm ra phương thức phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt được
hiệu quả cao trong hoạt động SXKD.
Thông qua bảng cân đối kế toán, ta có thể xem xét quan hệ cân đối từng bộ
phận vốn và nguồn vốn, cũng như các mối quan hệ khác, từ đó giúp cho
người quản lý thấy rõ tình hình huy động nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vay
nợ để mua sắm từng loại tài sản, kiểm tra các quá trình hoạt động,…đánh giá
tổng quát năng lực sản xuất kinh doanh và trình độ sử dụng vốn của công ty.
Phát hiện được tình trạng mất cân đối, và có phương hướng, biện pháp kịp
thời đảm bảo các mối quan hệ cân đối vốn cho hoạt động tài chính thực sự trở
nên có hiệu quả, tiết kiệm và có lợi cho doanh nghiệp.
1.2.6.2. Phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
Mục tiêu cơ bản của việc phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty là
tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng của thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh
nghiệp đó. Quá trình này tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Thu nhập, chi phí lợi nhuận có thực không và tạo ra từ những nguồn nào, sự
hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp hay không.
Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi có phù hợp với đặc điểm chi phí, hiệu
quả kinh doanh, phương hướng kinh doanh hay không.
Việc xem xét này cần được kết hợp so sánh theo chiều ngang và so sánh theo
chiều dọc các mục trên báo cáo kết quả kinh doanh trên cơ sở am hiểu về những chính
sách kế toán, những đặc điểm sản xuất kinh doanh, những phương hướng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
12
=
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngn hạn
Đây là tỷ số giữa tiền và các khoản tương đương tiền với các khoản nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng ứng phó nhanh nhất với các khoản nợ đến hạn của
doanh nghiệp. Tỷ số thanh toán tức thời cho biết một công ty có thể trả nợ được các
khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài
sản có tính thanh khoản cao nhất.
1.2.6.4. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Đây là nhóm chỉ số đánh giá khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả
SXKD và hiệu năng quản lý doanh nghiệp.
Thang Long University Library
13
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (ROA)
ROA
=
LNST
Tổng tài sản trong kỳ
Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA-Return on asset) là tỷ lệ lãi ròng trên tổng tài
sản. Tỷ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng (LNST) trong kỳ báo cáo chia
bình quân tổng tài sản trong cùng kỳ. Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau
thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này cho
biết, trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài
sản của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh
nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
ROS
=
bình quân của toàn ngành hoặc với tỷ suất của một công ty tương đường trong cùng
ngành.
1.2.6.5. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
Hiu quả sử dng TTS
Số vòng quay của TTS (Sức sản xuất của TTS)
Số vòng quay của TTS
=
DTT
Bình quân TTS
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ, TTS quay được bao nhiêu vòng. Số vòng quay
càng lớn chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện
nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ tài sản vận động
chậm, có thể do HTK, sản phẩm dở dang nhiều khiến doanh thu giảm. Nếu hệ số này
cao phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cao.
Hiu quả sử dng TSNH
Sức sinh lời của TSNH
Sc sinh lời của TSNH
=
LNST
Bình quân TSNH
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng TSNH có thể tạo ra được bao nhiều đồng LNST. Hệ
số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp càng cao.
Số vòng quay của TSNH (Sức sản xuất của TSNH)
Số vòng quay của TSNH
=
DTT
Bình quân TSNH
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH, phản ánh số lần luân chuyển
TSNH trong kỳ SXKD, tức là 1 đồng TSNH tạo ra được bao nhiều đồng DTT. Số
vòng quay càng cao càng giúp doanh nghiệp thu lại được nhiều doanh thu hơn từ
Thời gian vòng quay
TSNH kỳ trưc
Trong đó:
Thời gian vòng quay của TSNH
=
360
Số vòng quay TSNH
Chỉ tiêu này cho biết giá trị TSNh mà DN tiết kiệm được do tăng tốc độ luân
chuyển vốn kinh doanh. Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay TSNH thì càng có
khả năng tiết kiệm được và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH.
Số vòng quay HTK (Hệ số lưu kho)
Số vòng quay HTK
=
GVHB
Bình quân HTK
Để đánh giá tốc độ luân chuyển HTK, người ta thường sử dụng hệ số vòng quay
HTK, so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị HTK là tốt hay xấu. Hệ số
này càng cao càng cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho lớn. Doanh
nghiệp bán hàng nhanh và HTK không bị ứ đọng nhiều (có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít
rủi ro hơn nếu khoản mục HTK trong BCTC có xu hướng giảm qua các năm). Tuy
nhiên hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy tức là lượng hàng dự trữ trong kho
không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị
mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần.
Thời gian quay vòng HTK
Thời gian quay vòng HTK
=
360
Số vòng quay HTK
Thời gian quay vòng HTK cho biết 1 vòng quay của HTK mất bao nhiêu ngày,
Bình quân TSDH
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng giá trị TSDH bình quân sử dụng trong kỳ thì tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Sức sinh lời càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư
vì điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp tốt.
Sức sản xuất của TSDH
Sc sản xuất của TSDH
=
DTT
Bình quân TSDH
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng TSCĐ được sử dụng vào hoạt động SXKD thì tạo ra
được bao nhiêu đồng DTT. Nếu chỉ số này lớn hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp có cách
thức sử dụng tài sản hiệu quả và ngược lại.
Thang Long University Library
17
Suất hao phí của TSDH so với DTT
Suất hao phí của TSDH
so vi DTT
=
Bình quân TSDH
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSDH mà DN cần để tạo ra 1 đồng DTT. Nó cũng
được coi như căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt
doanh thu như mong muốn.
Suất hao phí của TSDH so với LNST
Suất hao phí của TSDH
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng DTT thì cần tới bao nhiêu đồng TSCĐ
được đầu tư. Chỉ tiêu này càng nhỏ tức là trong kỳ doanh nghiệp càng sử dụng tiết
kiệm TSCĐ.
18
1.2.6.6. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay
Hiu quả sử dng lãi vay
Hiu quả sử dng lãi vay
=
LNTT
Chi phí lãi vay
Hiệu quả sử dụng lãi vay phản ánh khả năng sinh lời của 1 đồng chi phí lãi vay
của doanh nghiệp. Mức độ an toàn của chỉ tiêu này tối thiểu là 2, nếu nhỏ hơn 1 có
nghĩa là doanh nghiệp đang bị lỗ. Chỉ tiêu này càng cao nghĩa là khả năng sinh lời của
vốn vay càng tốt, càng thu hút các tổ chức tín dụng đầu tư vào hoạt động SXKD.
Sc sinh lời của tiền vay
Sc sinh lời của tiền vay
=
LNST
Bình quân tiền vay
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp sử dụng 1 đồng tiền vay phục vụ hoạt động
SXKD thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Sức sinh lời càng cao chứng tỏ
hiệu quả kinh doanh tốt, lúc này doanh nghiệp càng nên huy động vốn từ nguồn vay để
đầu tư.
H số khả năng thanh ton li vay
Khả năng thanh ton li vay
=
Lợi nhuận trưc lãi vay và thuế
Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
Đây cũng là một hệ số cần xem xét khi phân tích kết cấu tài chính của doanh
phí hợp lý.
Tỷ suất sinh lời của GVHB
Tỷ suất sinh lời của GVHB
=
Lợi nhuận gộp về bán hàng
GVHB
Tỷ suất này cho biết doanh nghiệp đầu tư 1 đồng GVHB thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận gộp. Hệ số càng cao càng chứng tỏ mức lợi nhuận trong GVHB càng
lớn.
Tỷ suất sinh lời của CPBH
Tỷ suất sinh lời của CPBH
=
LNST
CPBH
Chỉ tiêu trên phản ánh mức lợi nhuận thu về trong 1 đồng CPBH. Tỷ suất càng
lớn chứng tỏ lợi nhuận trong CPBH càng cao, doanh nghiệp đã tiết kiệm được CPBH.
Tỷ suất sinh lời của CPQL
Tỷ suất sinh lời của CPQL
=
LNST
CPQL
Chỉ tiêu này thể hiện trong kỳ doanh nghiệp đầu tư 1 đồng CPQL thì thu lại được
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số càng cao nghĩa là mức lợi nhuận từ CPQL của doanh
nghiệp càng lớn, hiệu quả sử dụng CPQL càng hợp lý.
1.2.6.8. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Năng suất lao động của một nhân viên: chỉ tiêu này cho thấy một công nhân viên
trong kỳ làm ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
NSLĐ của một nhân viên
trong kỳ
=
nguyên vật liệu, nguồn nhân lực, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Còn
ngược lại, nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ
sản xuất lạc hậu, thiếu đồng bộ thì năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
sẽ rất thấp, chưa kể đến hậu quả của sự lãng phí đầu vào.
Môi trường chính trị - pháp luật
Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng
các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản quy phạm, tạo ra
một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động. Các doanh nghiệp phải chấp hành các
Thang Long University Library
21
quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội
và người lao động (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, )
Nhà cung cấp
Các nhà cung ứng là nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động SXKD
của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững. Trong điều kiện
môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn đứng vững mở rộng thị
trường, tăng doanh thu và lợi nhuận thì phải đáp ứng hàng hóa và dịch vụ đầy đủ số
lượng, đảm bảo chất lượng và kịp thời về thời gian. Muốn vậy doanh nghiệp phải có
nguồn đầu vào ổn định, hợp lý từ các nhà cung ứng. Chất lượng, số lượng cũng như
giá cả các yếu tố đầu vào đó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhà cung ứng.
Khách hàng
Khách hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu và là chuẩn mực để doanh nghiệp
hướng tới, bởi trong nền kinh tế như hiện giờ, muốn kinh doanh thành công thì bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải hiểu được nguyên tắc “Đừng bán thứ mình có, hãy bán
thứ khách hàng cần”. Việc nắm được tâm lý, sở thích tiêu dùng của khách hàng là chìa
khóa cho mỗi quyết định, ảnh hưởng lớn tới sản lượng và giá cả sản phẩm, doanh thu
cũng như các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối thủ cạnh tranh
doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
nhằm giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bổ sung nguồn lực
cho hoạt động tái đầu tư mở rộng. Bên cạnh đó, khả năng tài chính của doanh nghiệp
ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp, các nguồn huy
động vốn, ảnh hưởng tới khả năng chủ động trong SXKD và tiềm lực cạnh tranh.
Về bộ máy quản trị doanh nghip
Bộ máy quản trị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Bộ máy quản trị là nơi xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh
doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý, là cơ sở và định hướng để doanh nghiệp tiến
hành các hoạt động SXKD có hiệu quả. Chính vì vậy, nếu bộ máy quản trị được tổ
chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có
sự phân chia nhiệm vụ, chức năng rõ ràng sẽ đảm bảo cho các hoạt động SXKD của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức hoạt động không hợp lý,
chức năng nhiệm vụ chồng chéo, không rõ ràng, sự phối hợp hoạt động không chặt
chẽ, các quản trị viên thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm thì sẽ dẫn đến hiệu quả
SXKD không cao.
Về cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan
trọng phụ vụ cho quá trình SXKD của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để
doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng
lớn hay nhỏ trong tổng tài sản thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động
kinh doanh, nó thể hiện qua hệ thống nhà xưởng, kho hàng, cửa hàng, bến bãi, Cơ sở
vật chất kỹ thuật càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả
cao bấy nhiêu. Điều này được thể hiện khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà
xưởng, kho hàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp lý, nằm trong khu vực có mật độ
Thang Long University Library
23
dân cư lớn, và thuận lợi về mặt giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp lợi thế kinh
doanh đảm bảo hiệu quả hoạt động SXKD.
Vốn điều lệ : 6.880.000.000 đồng
Người đại diện : Ông Vũ Văn Đường là Chủ tịch hội đồng quản trị
Tổng số nhân viên : 35 người
Khi mới thành lập, công ty chỉ gồm có ba thành viên góp vốn với ngành nghề
kinh doanh sản xuất chính của công ty là sản xuất chăn, ga, gối, đệm. Lúc đó, công ty
sản xuất trong một xưởng sản xuất nhỏ. Sau khoảng 4 năm hoạt động thì công ty đã có
những bước tiến lớn đáng kể. Công ty đã đẩy mạnh đầu tư xây dựng nhà xưởng trụ sở
công ty, mở rộng sản xuất.
Đến nay, công ty đang sản xuất trên dây chuyền hiện đại, nguyên liệu nhập khẩu
từ Hàn Quốc kết hợp với đội ngũ công nhân lành nghề, các kỹ sư có kinh nghiệm lâu
năm. Và thương hiệu Chăn, Ga, Gối, Đệm Hàn Quốc Koala của công ty đã được đăng
ký bảo vệ độc quyền trên cả nước, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và đáp ứng mọi nhu cầu
tiêu dùng như văn phòng, khách sạn, khu biệt thự, nhà ở, Công ty luôn đặt mục tiêu
phát triển là cung cấp cho khách hàng những sản phẩm: “Chất lượng cao – Giá thành
Thang Long University Library
25
hạ - Thỏa mãn mọi nhu cầu khách hàng – Khẳng định thương hiệu Koala vì uy tín, lợi
ích của công ty INDICO”.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty CP may và thương mại quốc tế INDICO
Hiện nay công ty có khoảng 35 nhân viên làm trong các phòng ban và bộ phận
khác nhau. Cơ cấu bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến đến từng
phòng ban, bộ phận kinh doanh, đảm bảo luôn nắm bắt được thông tin chính xác về
tình hình kinh doanh, thị trường cũng như khả năng tài chính của công ty. Sơ đồ tổ
chức bộ máy của công ty được mô tả bằng hình vẽ như bên dưới.
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chc của công ty
kinh doanh
Phòng
Marketing
Phòng
HC - TH
Phòng
kỹ thuật
Phòng
TC - KT
Xưởng
sản xuất