PHỤ LỤC 1
Báo cáo nghiên cứu tại bàn tái chế rác thải hữu cơ tại Việt Nam
Quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa nhanh tại Việt Nam đang tăng cao nhờ vào
tăng trưởng kinh tế cao.Với tốc độ tăng này, dự đoán lượng rác thải đô thị sẽ tăng lên hơn
23 triệu tấn trong năm 2010, và loại rác thải ra sẽ tiếp tục chịu sự thay đổi từ có thể phân hủy
nhiều xuống có thể phân hủy ít và nguy hiểm hơn. Luật bảo vệ môi trường (2005) xác định
các chất thải nguyên vật liệu ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác thải ra từ sản xuất ,
dịch vụ và cuộc sống hàng ngày hay các hoạt động khác (Nghị định 59/2007/NĐ/CP về quản
lý chất thải rắn, 2007). Bao gồm cả chất thải rắn nguy hiểm hoặc không nguy hiểm. Bởi vì
không có định nghĩa cụ thể nào về rác thải đô thị, nên không rõ rằng rác thải đô chỉ bao gồm
rác gia đình hay cả rác gia đình và rác công nghiệp, chỉ bao gồm rác không nguy hiểm hay
bao gồm cả rác không nguy hiểm và rác nguy hiểm.
Gần đây, trong một báo cáo điều tra hiện trạng môi trường toàn quốc do Bộ Tài nguyên môi
trường tổ chức có đến 70% các cấp chính quyền địa phương xác định rằng quản lý chất thải
rắn là một mục tiêu quan trọng nhất trong tất cả các ưu tiên về môi trường.
Chính phủ Việt Nam đã ký kế hoạch phác thảo chiến lược quản lý chất thải tới năm 2025
(QĐ Thủ tướng số 2149 ngày 17/12/2009). Kế hoạch khẳng định rõ bất kỳ cá nhân hay tổ
chức nào thải rác gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại. Tới năm 2025, chính phủ mong
muốn phát triển nhà máy tái chế rác ở tất cả các thành phố để cho các hộ gia đình có thể
thải và xử lý rác của họ. Thêm vào đó, để khống chế ô nhiễm, 100% chất thải rắn từ các vùng
đô thị, chất thải công nghiệp độc hại và không độc hại sẽ được thu gom và xử lý. Bên cạnh
đó 90% chất thải rắn xây dựng và chất thải rắn của người dân nông thôn phải được thu gom
và xử lý.
Các bên liên quan chủ chốt tham gia vào quản lý chất thải rắn đô thị tại Việt Nam baogồm:
• Công ty môi trường đô thị (URENCO) là thành viên chủ chốt trong việc thu gom, xử
lý và đổ rác thải đô thị.
• Bộ xây dựng chịu trách nhiệm lên kế hoạch và xây dựng các cơ sở xử lý và đổ rác
thải.
• Bộ và Sở Tài nguyên & môi trường chịu trách nhiệm về các vấn đề môi trường nói
khoảng 19.000 tấn năm 2010 và 22.000 tấn năm 2020; 100% rác y tế sẽ được xử lý
vào năm 2010; (3) đầu tư trung bình cho xử lý sẽ vào khoảng 823,5usd/tấn.
Về lâu dài, để giảm thiểu tác động lên môi trường của bãi rác, thành phần phân hủy sinh học
nên được phân ra, hoặc là kết hợp với các thành phần hữu cơ khác trong chuỗi chất thải đổ
đi để tái sử dụng hoặc tận dụng. Tái tạo năng lượng và khí đốt là một thị trường lớn cho
nguồn này. Giảm thiểu và phân tách tại nguồn nên được giữ vững bởi vì nó có thể loại ra rác
thức ăn để ủ compost (trung bình khoảng 41,9%). Việt Nam là một nước nông nghiệp, vì vậy
sẽ là thị trường lớn cho sản phẩm compost.
Bảng 1 trình bày danh sách 21 trường hợp gợi ý lựa chọn cho danh sách cuối cùng để nghiên
cứu sâu hơn. 21 trường hợp này được lựa chọn từ 65 trường hợp xử lý chất thải đô thị (rác
hữu cơ ủ compost có thể phân loại tại nguồn hoặc tại điểm xử lý chất thải). 21 trường hợp
này được thống kê dựa trên 5 tiêu chí chính (quy mô, loại, sinh thái học, khả thi và khả năng
sản xuất), các tiêu chí này phù hợp với mục tiêu của dự án quản lý tái chế rác thải của Bình
Định. Sự phù hợp là kết quả của nghiên cứu tại bàn, vậy một vài đánh giá có thể không hoàn
toàn xác đáng và vì vậy cần có một nghiên cứu thực địa để khẳng định lại đánh giá này. Ở
mỗi trường hợp đưa ra, có mô tả ngắn gọn về tình hình hiện tại, mô tả và đánh giá dựa trên
quan điểm của các chuyên gia và tác giả từ kết quả nghiên cứu tại bàn và phỏng vấn từ xa.
Trình bày được thể hiện theo thứ tự địa lý (từ Bắc vào Nam)
Danh sách các trường hợp tiềm năng (điều kiện địa lý, phù hợp với mục tiêu dự án Bình Định)
STT
Cơ sở
Địa điểm
Lượng
rác đầu
vào
(tấn/ngày)
Độ phù hợp với Bình Định
Quy mô
Loại
ns
ns
4
Sóc Sơn (hệ thống nông
trại kết hợp tại nhà)
Hà Nội
0.2
5
5
5
5
5
5
Gia Lâm (phân tách tại
nguồn)
Hà Nội
5
5
5
5
5
6
Nam Định
250
3
3
ns
ns
phân tách tại nguồn +
compost)
Quang Nam
1.3
5
5
5
5
5
11
Nhơn Phú
Bình Định
5
5
ns
ns
ns
12
Hội Nông Dân
Bình Định
13
Long Mỹ
Bình Định
5
5
5
17
Vũ Nhật Hồng
Đồng Nai
350
3
3
ns
ns
ns
18
Phước Hòa
Bà Rịa –
Vũng Tàu
30
5
3
ns
ns
ns
19
Cty TNHH Hương Trung
(nuôi giun bằng rác thực
vật + rác động vật)
TP Hồ Chí
Minh
12
3
nhận khoảng 120 tấn rác đô thị một ngày. Cơ sở được xây dựng năm 1998 nhằm mục đích
xử lý toàn bộ rác do TP Việt Trì thải ra. Ở thời điểm hiện tại, mỗi ngày cơ sở sản xuất ra 30
tấn compost với giá khác nhau (khoảng từ 50.000đ tới 300.000đ/tấn) tùy thuộc vào chất
lượng compost (thô hay mịn). Với công nghệ nội địa hoàn toàn, rác hữu cơ được phân loại
tại cơ sở và đưa vào hệ thống ủ compost hiếu khí. Nhược điểm lớn nhất của chất lượng
compost là đầu vào hỗn độn, rác đô thị được thu gom bởi URENCO chứa nhiều đất và cát
làm cho chất lượng compost kém. Nhà quản lý rất năng động và sẵn sàng chia sẻ thông tin.
Hà Nội
1. Cầu Diễn
Cơ sở xử lý rác Cầu Diễn được xây dựng năm 1986, cơ sở được cải tạo rất nhiều vào năm
2000 do vốn đầu tư ODA của chính phủ Tây Ban Nha. Tổng chi phí để nâng cấp là 100 tỉ
đồng. Vào lúc khởi điểm, cơ sở có kế hoạch xử lý 11,5% tổng lượng rác của TP Hà Nội. Công
nghệ tự động hóa áp dụng tại hầu hết các bước, mặc dù vậy cơ sở chỉ vận hành được 10,3%
công suất thiết kế do tính chất rất chung của rác đô thị tại Việt Nam: hỗn độn giữa rác hữu
cơ và các loại rác khác có độ ẩm cao. Khi vận hành, cơ sở gây ra ô nhiễm môi trường cao
như là ô nhiễm không khí và hôi thối. Kỹ thuật làm lưu thông không khí tiêu hao nhiều năng
lượng. Dưới sự hỗ trợ của JICA, công ty môi trường đô thị Hà Nội nghiên cứu thí điểm
chơ]ng trình 3R tại một số vùng của Hà Nội, Việt Nam năm 2007, khởi đầu bằng việc phân
loại rác tại nguồn ở mức độ hộ gia đình. Rác được phân tách thành rác tái chế và rác sinh
học để ủ compost tại Cầu Diễn. Để thúc đẩy quá trình compost, hỗn hợp vi sinh vật phù hợp
được sử dụng (ở giai đoạn 2), ví dụ như sản phẩm có tên Emina (sản xuất bởi khoa môi
trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội), cho thêm 1 lít sản phẩm vào mỗi tấn compost
sau khi kết thúc giai đoạn 1. Giá của Emina vào khoảng 20.000-25.000đ/lít (thông tin cá
nhân). Dù vậy, vẫn còn 60% rác phải chôn vùi.
2. Sơn Tây
Sử dụng công nghệ Seraphin, cở sở xử lý rác đô thị Sơn Tây với mục đích xử lý rác của thành
phố Hà Đông (Hà Tây cũ), quá trình phân tách được thực hiện cả bằng tay và bằng máy phù
hợp để áp dụng cho tính chất rác thải tại Việt Nam. Tất cả những lý lẽ có thể được miêu tả
do tất cả các thiết bị và kỹ thuật là nội địa. Dù gì chăng nữa, nước rỉ và mùi hôi thối vẫn
Huế
Tại miền trung Việt Nam, cơ sở xử lý rác Thủy Phương ở thành phố Huế áp dụng công nghệ
trong nước hoàn toàn với kỹ thuật lắp ráp cao đảm bảo cho toàn bộ dây chuyền hoạt động
ổn định và hiệu quả. Trên diện tích 4,2 ha, nhà máy vận hành tốt tại khởi điểm của quá trình
xử lý, phân tách được thực hiện tốt nên chỉ có 10% rác, là thành phần không thể phân hủy
sinh học phải đi chôn. Nhà máy đã hoàn thành nhiệm vụ xử lý toàn bộ rác trong vùng thành
phố Huế. Một vài nhược điểm được nhìn nhận đó là chi phí năng lượng cho thông thoáng
khí và phân tách bằng máy móc cao, mùi hôi thối vẫn là vấn đề. Chất lượng compost không
đồng bộ do thiếu điều kiện đảo trộn. Hơn nữa, ủ theo dải đòi hỏi một diện tích đất rộng.
Quảng Nam
Thành phố Hội An: Đảo Tân Hiệp của Cù Lao Chàm
Bình Định
1. Nhơn Phú, Quy Nhơn: cơ sở sản xuất compost quy mô nhỏ có thông gió cưỡng bức để
cung cấp khí cho đống ủ cho thấy đây là một hệ thống hiệu quả. Đầu vào cho hệ thống này
là rác hộ gia đình thu gom từ cộng đồng (nguồn từ BTC)
2. Hội Nông dân Bình Định: phân động vật, nền chuồng và rác vườn được dùng để nuôi
trùn đất.
Ninh Thuận
Nhà máy xử lý rác Nam Thanh, Ninh Thuận, bắt đầu hoạt động từ năm 2003 với tổng đầu
tư là 98 tỷ đồng. Việc phân loại được thực hiện tốt nhờ hệ thống kỹ thuật nhập khẩu được
điều chỉnh phù hợp với tính chất rác thải tại Việt Nam cũng như sự kết hợp tốt giữa phân
loại thủ công và cơ khí. Có thể thấy một vài nhược điểm của nhà máy như tốn diện tích cho
cơ sở, chi phí năng lượng cao, nhà máy ủ compost không có mái nên chất lượng compost
không ổn định, hệ thống quạt gió tại sàn hoạt động không tốt và vấn đề mùi.
Lâm Đồng
1. TP Đà Lạt, hàng tá tấn rác từ Chợ Nông sản Trại Mát được xử lý hoàn toàn bởi công
Nhà máy thành lập từ năm 2003 với mục đích xử lý rác của TP Vũng Tàu và Quận Tân
Thành, tuy nhiên, mùi thoát ra từ nhà máy làm cho hệ thống hoạt động không hoàn chỉnh
(phân loại bằng tay không chịu được mùi của môi trường làm việc), thêm vào đó, nước rỉ ra
môi trường làm cản trở hoạt động. Nhà máy không có hệ thống kiểm soát nhiệt cũng như
đo độ ô nhiễm không khí.
TP Hồ Chí Minh
1. Cơ sở Hương Trung: tọa lạc tại huyện Củ Chi, cơ sở sản xuất phân bón cao cấp từ sản
phẩm nuôi trùn quế. Sản phẩm đặc biệt của cơ sở là dịch chiết xuất từ xay nghiền trùn có
thể dùng tưới trực tiếp lên lá. Thức ăn dùng nuôi trùn quế là tổng hợp của phân heo, lá rụng
từ rừng cây cao su, và tất cả chất thải trang trại. Với tổng đàn heo nuôi 6,000 con, sản lượng
phân bón hữu cơ từ nuôi trùn có qui mô rất lớn. Phần cơ sở chăn nuôi của công ty sử dụng
chất thải lỏng từ trang trại để sản xuất khí sinh học, phát điện phục vụ hoạt động của trại:
nấu ăn, vận hành máy bơm nước làm mát heo, hệ thống điện ủ ấm heo con mới sinh, …
2. Cộng đồng nuôi lợn tại Quận Bình Tân nuôi lợn bằng 95% là rác bếp gom tươi hàng
ngày từ TP Hồ Chí Minh. Rác bếp được nấu lại cho lợn ăn.
3. Thái Mỹ Củ Chi (Nhà máy xử lý rác Vietstar): Rác hữu cơ được phân loại tại cơ sở, đưa
vào hệ thống ủ compost (theo báo Vietnam News, dường như hệ thống này không đồng
bộ). Công suất là 600MSW tấn/ngày.
Nói chung, các cơ sở xử lý rác thải tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều trở ngại như
nhược điểm kỹ thuật của máy móc (hầu hết là máy móc công nghệ nước ngoài), hệ thống
thông gió cưỡng bức đòi hỏi năng lượng cao, bốc mùi nhiều, một vài công nghệ nhập khẩu
không phù hợp với xử lý rác thải tại Việt Nam (lẫn rất nhiều rác hữu cơ và vô cơ và rác không
phân hủy được). Phần lớn các nhà máy xử lý chất thải bằng công nghệ ủ compost đều hoạt
động không hiệu quả dẫn đến việc phải đóng cửa cơ sở.
Vậy đâu là cái kết của rác hữu cơ trong chuỗi chất thải? Việc xử lý rác thải rất tốn kém, vì
vậy, rác cần được phân loại càng thuần càng tốt, dù là phân loại tại nguồn hay phân loại tại
nhà máy. Mỗi cách phân loại có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Phân tích dưới đây
chỉ ra các kinh nghiệm thực tế của hai phương pháp phân loại rác tại Việt Nam.
rác để thu gom hai loại rác khác nhau (rác có thể ủ và rác không thể ủ) và sau đó vận
chuyển hai loại rác này đến hai điểm khác nhau: rác ủ chuyển đến cơ sở ủ và rác không ủ
được chuyển ra bãi rác. Tại Việt Nam, sẽ kinh tế hơn nếu xây dựng nhà máy ủ compost
ngay tại bãi rác để giảm chi phí vận chuyển hai loại rác này.
Có nhiều chương trình phân loại rác đáng quan tâm ở một số khu vực tại Việt Nam. Các
chương trình phân loại rác tại nguồi đang hoạt động ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quảng
Nam, Đà Nẵng và Kiên Giang.
Phân loại tại cơ sở: Trái với phương pháp trên, phân loại rác tại cơ sở không đòi hỏi có
sự tham gia của người dân hay bị phụ thuộc vào khả năng phân biệt rác của họ. Rác tạp
(rác ủ được và không ủ được) được thu gom và vận chuyển đến các điểm khác nhau, như
là trạm trung chuyển, bãi rác hay nhà máy compost, tại đây công nhân phân loại ra các
loại rác có thể ủ và rác không thể ủ. Có nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả
phương pháp sử dụng máy móc để thực hiện việc này, mặc dù kinh nghiệm cho thấy
việc phân loại rác bằng máy móc đòi hỏi chi phí cho năng lượng cao dẫn đến việc kinh
doanh phân compost không có lợi nhuận. Phần rác không ủ được được đổ ra bãi rác
trong khi rác phân hủy được chuyển vào cơ sở sản xuất. Chính vì vậy phát sinh chi phí
phân loại rác và vận chuyển rác đã phân loại, tùy vào địa điểm của cơ sở.
Đây là phương pháp phổ biến để xử lý rác thải đô thị tại Việt Nam. Một số công ty sử
dụng công nghệ này để xử lý rác tạp nhưng luôn tốn kém cho chi phí năng lượng, đòi hỏi
phương tiện vận chuyển, kho, máy móc lớn và chưa kể đến chất lượng của compost.
Các chương trình phân loại rác đô thị tại nguồn (từ trước đến nay)
1. Hà Nội:
i. Huyện Gia Lâm: Xí nghiệp vệ sinh đô thị Gia Lâm đang phụ trách chương trình phân loại
rác tại nguồn của huyện Gia Lâm. Chương trình này thực hiện tại 3 thị trấn (Sài Đồng, Đức
Giang, Yên Đồng). Rác ủ được và không ủ được được các hộ gia đình lưu trong thùng màu
đỏ và xanh. Những thùng rác này do Xí nghiệp vệ sinh đô thị Gia Lâm cung cấp miễn phí từ
đầu chương trình. Hàng ngày tại mỗi khu vực, hai người thu gom rác dùng xe đẩy để thu
gom rác của từng nhà ở các đường lớn và trung bình. Nếu đường quá nhỏ thì xe rác đợi ở
đường lớn để dân cư ra đổ. Khi đầy xe thì người thu gom đưa xe đến chỗ trung chuyển. Nói
lượng rác có thể ủ và phân không thể ủ là 1:4, tức là chỉ gom được 20% rác hữu cơ trong
tổng số rác tại quận này. Như vậy thì lượng rác trong chuỗi rác thải đổ ra bãi rác giảm đi là
không đáng kể, và lượng sản phẩm compost cũng ít. Hơn thế nữa lại tiêu tốn nhiên liệu cho
xe tải 3,5 tấn đi xung quanh các khu vực phố lớn vài lần thu gom rác dân cư đổ sau giờ thu
gom.
2. Quảng Nam: Đảo Tân Hiệp áp dụng việc phân loại tại nguồn từ năm 2008 ngay trên
đảo, rác vô cơ được vận chuyển bằng một chiếc thuyền đặc biệt đến thành phố để xử lý.
Tổng lượng rác thu gom trên đảo khoảng 1,3 tấn/ngày, trong đó khoảng 80% là rác hữu cơ.
47 thùng ủ được cấp cho 4 làng, dân cư được đào tạo để ủ compost ngay tại làng. Ngoài ra
vẫn phải đầu tư thêm nhưng đây có lẽ là một mô hình thành công vì có 100% hộ dân trên
đảo tham gia vào chương trình (Viettems.com, 2009).
3. TP Hồ Chí Minh: Dự án “Phân loại rác tại nguồn” (1997) thực hiện trong hai năm. Dự án
thực hiện tại Tổ 3, Phường 12, Quận 5, TP Hồ Chí Minh. Trong năm thứ hai, dự án mở rộng
ra các khu vực còn lại của Phường 12 dựa trên kinh nghiệm đã thực hiện của năm thứ nhất.
Chương trình chỉ thực hiện 2 năm vì thiếu hỗ trợ tài chính từ chính phủ Việt Nam (Doan,
2004). Dự án cung cấp thùng rác cho từng hộ để trữ rác dễ phân hủy. Dự án cũng thực hiện
một chương trình giáo dục với nhiều hoạt động như phát tờ rơi, tờ gấp, áp phích. Tỷ lệ rác
phân hủy cao (trung bình 86,2%). Chính vì vậy, nếu phần rác dễ phân hủy của khu vực này
được ủ thì lượng rác đổ ra bãi rác sẽ giảm đáng kể.
4. TP Biên Hòa: Dự án thực hiện tại Tổ 3, Quận Thanh Bình, TP Biên Hòa vào năm 2001.
URENCO Biên Hòa là đơn vị triển khai với sự tham gia của rất nhiều tổ chức xã hội và chính
quyền địa phương. Mỗi hộ gia đình trong dự án được nhận hai thùng rác và túi nylon lớn
(dung lượng 20l) có màu khác nhau cho rác hữu cơ và rác tái chế. Mỗi nhà hàng và văn
phòng cũng được nhận thùng rác và túi rác to (80l)
Theo một báo cáo ((Lê văn Quang, et al., 2001), dự án đã thành công với đông đảo sự tham
gia của các tổ chức xã hội, nhận thức cao từ dân cư và nhân viên văn phòng cũng như các
doanh nghiệp. Chỉ trừ việc một số hộ gia đình trong hẻm nhỏ không đổ rác theo đúng thời
gian quy định của URENCO, họ đã trộn lẫn các loại rác với nhau. Và trong dịp tết, lượng rác
tăng cao, thùng rác và túi nylon cung cấp không đủ để chưa rác đã phân loại.
2009897/. Accessed.
Lê văn Quang, Huỳnh Thi Kim Cúc, and N. v. Phước. 2001. Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Mô Hình
Phân Loại Rác tại Nguồn, Biên Hòa.
Nguyen, t. T. T. 2005. Audit and Separation of Compostable Solid Waste at Households in Da
Nang, Vietnam. University of Toronto, Canada, Master Thesis.
QĐ Thủ Tướng số 2149 ngày 17/12. 2009. Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất
thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Vol. 2149/QÐ-TTg. Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam.
Tân Thanh Sơn. 2010. Nuôi lợn bằng rác bếp tại quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Thông tin cá
nhân.
US Commercial Service. 2008. Vietnam: Solid Waste Management,
http://www.kleanindustries.com/s/PressReleases.asp?ReportID=335114. http://www.export.gov.
Nguyễn Quang Thạch. 2010. Viện Nông học. Emina (vi khuẩn có lợi) trong xử lý rác thải. Thông tin
cá nhân.
Viettems.com. 2009. Chủ đề: Mô Hình Xử Lý Rác Thải tại Nguồn - Cù Lao Chàm.
http://viettems.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1356:mo-hinh-x-ly-rac-thai-
tai-nguon-cua-cu-lao-cham&catid=160:bai-nghien-cuu&Itemid=190. Accessed.