BÀI TIEUR LUẬN-BÀI TẬP LỚN MÔN CƠ KHÍ VÀ MÁY TRONG CÔNG NGHỆ HÓA HỌC - Pdf 28

BÀI TẬP LỚN MÔN CƠ KHÍ VÀ MÁY TRONG CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
NHÓM 6:
1. NGUYỄN TRƯỜNG THI 1021010334
2.TRẦN THỊ THƯƠNG 1021010350
3.LÊ NGUYÊN THANH 1021010304
4. TRƯƠNG ĐĂNG THÀNH 1021010316
5.NGUYỄN VĂN THÔNG 1021010342
6.NGÔ VĂN THUẦN 1021010344

1
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, ngành dầu khí việt nam ngày càng lớn
mạnh và đã khẳng định được vị trí của mình trên trường quốc tế. Sự phát triển ngày càng cao của
khoa học công nghệ đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về nguồn nhiên liệu, đòi hỏi ngành công nghiệp
dầu khí phải luôn luôn vận động hết mình, không ngừng nghiên cứu và áp dụng những thành tựu
khoa học nhằm cải tiến công nghệ để nguồn nhiên liệu sản suất ra đáp ứng được những yêu cầu
đó.Ngành thiết bị dầu khí chính là ngành cầu nối giữa khoa học kĩ thuật với công nghệ sản
xuất.Với mong muốn được vận dụng những kiến thức đã học, cùng với sự tâm đắc của bản thân
về các trang thiết bị bảo quản tồn chứa (bồn chứa,bể chứa,bình tách ) nhóm em đã chọn đề tài “
Tìm hiểu về các trang thiết bị tồn chứa”.Trong quá trình hoàn thành tiểu luận nàyvới sự hướng
dẫn tận tình của thầy Đoàn Văn Huấn cùng với sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm,chúng
em đã hoàn thành bài tiểu luận này, đồng thời tiếp thu thêm được nhiều kiến thức bổ ích.Tuy
nhiên, do kinh ngiệm nghiên cứu và kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận của nhóm vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp của các
thầy cùng các bạn độc giả để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
2
I. TỔNG QUAN
Các loại thiết bị tồn chứa đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp hoá chất nói chung và
trong công nghiệp dầu khí nói riêng.Hầu như tất cả các quá trình chế biến dầu khí đều có sự tham
gia của các thiết bị tồn chứa. Tồn chứa nguyên liệu, sản phẩm trung gian trong quá trình chế biến,
sản phẩm thương phẩm…. Ngoài ra, thiết bị tồn chứa còn được sử dụng vào những mục đích như:

- Bồn chứa trung gian (các loại bồn chứa sử dụng trong các phân đoạn chế biến nhà máy dầu)
- Bồn chứa hỗn hợp và sản phẩm cuối.
II.1.1.2. Phân loại theo áp suất làm việc
- Bể cao áp : Áp suất chịu đựng trong bể > 200mmHg
-Bể áp lực trung bình : áp suất chịu đựng trong bể từ 20-200 mmHg, thường dùng bể chứa
KO, DO.
-Bể áp thường : áp suất =20mmHg áp dụng cho bể dầu nhờn, FO, bể mái phao.
II.1.1.3 Dựa vào chiều cao xây dựng
Dựa vào chiều cao xây dựng người ta có thể chia ra:
- Bể ngầm: Bể chôn dưới đất
- Bể nửa ngầm nửa nổi: 1/2 chiều cao bể nhô lên khỏi mặt đất
- Bể nổi: Làm trên mặt đất
II.1.1.4 Theo hình dạng bồn chứa
- Bể trụ đứng
4
Bể trụ nằm ngang
Bể hình cầu, hình giọt nước
II.1.2. CẤU TẠO VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
Cấu tạo của một thiết bị tồn chứa sử dụng trong công nghiệp dầu khí nói chung thường gồm
ba bộ phận chính sau:
- Thân thiết bị
- Đáy lắp thiết bị
- Các thiết bị phụ trợ
5
II.1.2.1 Thân thiết bị
Thân của các thiết bị tồn chứa thường là hình trụ hoặc hình cầu, chúng được chế tạo bằng
phương pháp cuốn, dập, vê, hàn nhiều tấm thép lại với nhau. Độ dày củatấm thép tuỳ thuộc vào
kích thước của bồn chứa. Dung tích bồn chứa có thể lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đối tượng sử
dụng. Nếu đối tượng sử dụng là các đơn vị kinh doanh các sản phẩm thương phẩm thì thể tích
bồn chứa thường vào khoảng 10 m

nhập tại bồn chứa xăng dầu được thuận tiện và đảm bảo an toàn trong việc chứa xăng dầu trong
bể. Dưới đây là một số thiết bị phụ trợ thường được sử dụng trong các bể chứa xăng dầu:
1. Cầu thang: Để phục vụ cho việc đi lại lên xuống bồn chứa xăng dầu trong quá trình thao tác
tại bồn của công nhân giao nhận.
2. Lỗ ánh sáng: Được đặt trên nắp bể trụ đứng, có tác dụng để thông gió trước khi lau chùi
bồn, sửa chữa và kiểm tra bên trong bể.
3. Lỗ chui người: Có tác dụng để đi vào trong bồn khi tiến hành lau chùi, sửa chữa, bảo dưỡng
bên trong bể.
4. Lỗ đo lường lấy mẫu: Có tác dụng để thả các thiết bị đo, thiết bị lấy mẫu trong trường hợp
xác định độ cao mức nhiên liệu và lấy mẫu nhiên liệu. Lỗ đo lường,lấy mẫu nhiên liệu được đặt
lắp đặt trên mái bể trụ đứng.
5. Ống thông hơi: chỉ dùng trên các bể trụ đứng, để chứa dầu nhờn và DO, FO, ống này có tác
dụng điều hoà không gian hơi nhiên liệu của bể với áp suất khí quyển.
6. Ống tiếp nhận cấp phát: dùng để đấu nối với đường ống công nghệ tiếp nhận cấp phát
nhưng ống này được đặt ngay ở tầng thép thứ nhất của bể thép trụ đứng.
7. Van hô hấp và van an toàn:
7
- Van hô hấp: Van hô hấp kiểu cơ khí dùng để điều hoà áp suất dư và áp suất chân không
trong bể chứa.
- Van hô hấp được lắp kết hợp với van ngăn tia lửa: Có tác dụng điều chỉnh bởi trong bể chứa
trong giới hạn 2 atm đến 20 atm và ngăn tia lửa từ bên ngoài vào trong bể.
- Van an toàn kiểu thuỷ lực: Có tác dụng điều hoà áp suất dư hoặc chân không trong bể chứa
khi van hô hấp không làm việc. Dưới áp suất dư từ 5,5 atm – 6 atm và chân không từ 3,5 atm – 4
atm.
8. Hộp ngăn tia lửa: được lắp trên bể chứa phía dưới van hô hấp loại không kết hợp tác dụng
ngăn chặn sự phát sinh ngọn lửa hoặc tia lửa bên trong bể.
9. Van bảo vệ: Có tác dụng hạn chế tổn thất mất mát nhiên liệu tỏng trường hợp đường ống bị vỡ
hoặc khi van hai chiều chính của bể chứa bị hỏng hóc. Van bảo vệ được lắp ở đầu cuối ống tiếp
nhậ cấp phát quay vào phía trong bể chứa.
10. Bộ điều khiển của van bảo vệ: Được lắp phía trên của ống tiếp nhận – cấp phát có tác dụng

- Thành bể: Bao gồm nhiều tấm thép ghép hàn với nhau, chiều dài tấm thép theo chu vi,
chiều rộng theo chiều cao bể thường gọi là các tầng. Do phải chịu áp lực thuỷ tĩnh, trọng lực dầu
và bể lớn dần theo độ sâu nên nên tôn làm thành bể có bề dày thay đổi từ 4 – 8 mm. Việc gá tôn
thành bể có các cách gá sau:
+ Gá kiểu ống chui: Tầng trên có đường kính nhỏ hơn tầng dưới
+ Gá kiểu giao kết: Các tầng tôn gá xen kẽ nhau, tầng này vào trong tầng kia ra ngoài và cứ luân
chuyển như thế.
+ Gá hỗn hợp: Phối hợp hai kiểu gá trên trong một bể.
- Mái bể: mái bể thường được làm bằng tôn có chiều dày từ 4 – 5 mm. hình dạng mái cũng được
thiết kế theo nhiều dạng khác nhau nhằm hạn chế một số nhược điểm của từng loại bồn đối
với các nhiên liệu cần chứa. Các dạng mái bồn thường được chế tạo là:
+ Bồn có mái cố định: Mái phẳng, nhọn, hình cầu
+ Bồn có mái di động: Các lạo bồn này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy lọc
dầu, các tổng kho xăng dầu để tồn chứa các sản phẩm dễ bay hơi: dầu thô, xăng… bởi chúng bởi
chúng giải quyết rất hiệu quả giảm độ hao hụt, mất mát do sự bay hơi trong bảo quản, tồn chứa
xăng dầu. Một nóc di động được sử dụng trượt dọc theo thành bồn, nằm đè trực tiếp lên lên chất
tồn chứa theo sự thay đổi mức trongbồn. Trong điều kiện này, pha hơi làm dâng chất lỏng thực tế
được loại bỏ. Một gioăng đặc biệt được sử dụng nhằm bảo đảm sự liên kết giữa nóc và thành
bồn. Lối vào nóc được làm bằng một cầu thang xoắn hàn ở vỏ thành bao. Để nóc đạt được độ
cứng theo yêu cầu chế tạo, mái được gia cố bởi một vành thép và một số chân đỡ. Nóc được chế
tạo sao cho có thể dễ dàng tháo dỡ để thuận tiện khi vệ sinh, bảo dưỡng và sửa chữa.
II.1.3.2. Bể trụ nằm ngang
Người ta thường chế tạo các loại bể hình trụ nằm ngang với thể tích từ 10 – 100 m
3
. Thân bồn
thường gồm những tấm thép có chiều dày từ 4 – 5 mm cuộn lại thành hình trụ có đường kính
nhất định. Hai đầu của bể có thể được chế tạo dạng phẳng hoặc côn (chóp).
10
Hình 1.3: Mặt cắt một bể hình trụ nằm
1. Đầu lắp nhiệt kế 2. Đầu lắp áp kế 3. Đầu lắp van xả đỉnh

bên ngoài quét nước vôi hoặc quét phấn. Quét 2 lần dầu hoả cách nhau 1 phút sau đó theo dõi
nếu không có vết dầu loang coi như là được.
Mối hàn gối ở đầu thành bể mà bên trong hàn ngắt quãng thì dùng máy hoặc đèn khò phun
dầu vào kẽ 2 tấm tôn rồi quan sát bên ngoài.
Những chố miếng vá tôn chồng lên nhau để thử độ kín phải khoan 1 lỗ nhỏ rồi
bơm dầu vào trong giữa hai lớp tôn ấy với áp xuất 1 – 2kg/m
2
. Bên ngoài đường hàn
quét nước vôi hoặc phấn theo dõi sau 12 giờ nếu không có vết dầu loang là tốt.
II.1.4.1.3 Thử độ kín mái bể
Thử bằng phương pháp nén khí trong bể và bôi nước xà phòng lên đường hàn mái bể, tôn
giáp thành bể. Nếu đường hàn không kín bọt xà phòng sẽ nổi lên (áp xuất thử bằng 15% áp xuất
làm việc của bể).Có thể thử độ kín mái bể bằng cách phun dầu hoả vào phần tiếp giáp mái bể và
phía ngoài bể, trên đường hàn ta bôi phấn hoặc quét nước vôi rồi quan sát theo dõi xem lớp vôi
được quét có bị thấm ướt hay không.
II.1.4.2 Thử độ bền bể
II.1.4.2.1 Thử cường độ của bể
Thử cường độ của bể bằng cách bơm đầy nước vào bể chứa trong bể từ 3 đến 7 ngày nếu độ
lún của bể không đáng kể, bể không bị biến dạng thì có thể kết thúc việc thử, coi như là tốt. Còn
nếu bể có sự biến dạng lớn phải tìm cách khắc phục.
II.1.4.2.2 Thử độ bền mái bể
12
Thử độ bền của bể là thử ở hai chế độ áp xuất, áp xuất dừng và áp xuất chân không bằng
cách: bơm nước hoặc nén khí vào trong bể, hoặc rút nước ra khi đó phải có van khống chế áp
xuất trong bể và áp kế theo dõi.
Áp xuất khống chế như phần thử kín nhưng thời gian giữa áp xuất là 2 – 3 giờ.
II.1.4.3 Thử độ lún bể
II. 1.4.3.1 Phân loại các dạng lún bể
* Lún đều : Nền bể sau khi xây dựng vào chứa dầu do xử lý bể nền không tốt bể bị lún
không nghiêng lệch nhưng độ lún ấy giá trị số quy định.

Có thể đổ nước vào đáy bể cho phủ khắp được nơi cao nhất sau đó đo chiều cao nước ở
những chỗ lõm.
Hoặc có thể đo khô đáy bể bằng phương pháp thủy chuẩn số điểm.
- Số đo phải lớn hơn 8 điểm trên bề mặt.
- Chiều cao vết lồi lõm trên đáy bể không được lồi quá 150mm, diện tích vết lõm
không quá 2m
2
.
II.1.4.3.5 Xử lý lún bể
Việc xử lý lún bể tùy theo mức độ lún, nguyên nhân lún ta có cách xử lý khác nhau :
Nếu do nền đất có độ chịu lực không tốt mà lún bể thì có thể phải kích bể đào móng bể lên,
đóng các cọc tre, cọc gỗ, cọc bê tông hoặc các cọc cát xuống lại móng bể là công việc khá phức
tạp và tốn nhiều công sức.
Nếu do lún cục bộ thì ta có thể chỉ cần kích phần lún quá nhiều tiến hành đóng cọc, làm lại
nền móng, gia cố cọc cát phục hồi lại phần móng bể đó là được.
II.1.4.4.Bảo quản bế chứa xăng dầu
II.1.4.4.1 Sơn bể
Tuỳ thuộc vào vị trí đặt bể chứa dầu mà người ta sơn các loại sơn khác nhau, có thể sơn cả
trong bể và ngoài bể để chống ăn mòn thành bể. Bể đặt ngoài trời ngoài việc sơn chống ăn mòn
còn phải sơn thêm lớp sơn chống trắng để phản xạ ánh sáng mặt trời nhằm giảm thiểu tổn thất
hao hụt cả về chất lượng và số lượng xăng dầu chứa trong bể.
Việc sơn phía trong bể lớp sơn chống ăn mòn thường phải tiến hành sơn bể khi mới bắt đầu đưa
bể vào sử dụng. Đối với bên ngoài bể thường sơn một lớp chống gỉ, để khô lớp sơn này sau đó
mới sơn các lớp sơn và nhũ khác.
II.1.4.4.2 Định kì bảo dưỡng bể
Các kho tồn chứa xăng dầu cần có kế hoach xúc rửa bể chứa xăng dầu một cách định kỳ có
liên hạn. Tuy nhiên trong các trường hợp dưới đây cần nhất thiết phải xúc rửa bể chứa xăng
dầu nhằm đảm bảo chất lượng xăng dầu tồn chứa không bị ảnh hưởng về mặt chất lượng.
14
- Khi đưa bể mới vào sử dụng, do bể mới thi công nên có thể bị bùn đất bán vào, các rỉ sắt, các

Việc xúc rửa các bể ngầm hình trụ nằm chôn dưới đất người ta cũng phải vét hết dầu trong bể
bằng bơm lắc tay. Sau đó bơm nước vào bể và ngâm trong 2 – 3 ngày rồi tiến hành bơm nước ra
ngoài. Sau khi bơm hết nước để thông gió tự nhiên từ 1 -2 ngày rồi cho người mang trang bị
phòng độc và bảo hộ lao động xuống vét hết những bùn đất trong bể.
II.1.5.SỰ THẤT THOÁT THÀNH PHẦN NHẸ VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ
Dầu được cất giữ trong các bể chứa tạm thời do quá trình hô hấp nên các thành phần nhẹ sẽ
thoát ra bầu khí quyển gây thất thoát. Trị số này có thể đạt đến 3 %. Cho nên cần phải có giải
pháp để kiểm soát sự thất thoát này.
Khi lưu trữ trong các bể chứa, trị số thất thoát phụ thuộc vào độ bay hơi của dầu, tức là phụ
thuộc vào tỷ lệ thành phần nhẹ. Để giảm tỷ lệ này thì bậc tách khí cuối cùng cần phải được thực
hiện trong điều kiện nhiệt độ cao và áp suất bé hơn áp suất khí quyển. Giải pháp tốt nhất để giảm
mất mát thành phần nhẹ là biện pháp ổn định dầu trước khi đưa vào cất chứa trong bể. Ta tách
các thành phần nhẹ mà ở điều kiện bình thường tồn tại ở thể khí bằng giải phápnung nóng dưới
áp lực chân không. Sau khi ổn định và tách hết thành phần nhẹ thì việc lưu giữ hoặc vận chuyển
tới các nhà máy chế biến thực tế cho thấy là không có thất thoát. Tuy vậy, việc ổn định nhiều khi
không hoàn toàn, nên để giảm thất thoát vẫn còn phảidùng đến các giải pháp khác. Có thể phân
ra 3 nhóm giải pháp :
II.1.5.1 Ngăn chặn sự bay hơi
Giải pháp này xuất phát từ ý tưởng loại bỏ không gian chứa khí trong bể. Lúc đó hầu như
không xảy ra quá trình bay hơi, thoát khí và không bị tổn hao. Điều đó thực hiện được khi ta bịt
mặt tiếp xúc bằng một cái phao, tạo ra nắp đậy kiểu nổi. Nắp sẽ chuyển động theo mức nâng hạ
của dầu. Các nắp nổi trên bề mặt dầu loại trừ hoàn toàn không gian khí. Cho nên ngăn chặn được
sự tổn hao trong quá trình thở mạnh và thở nhẹ.
Các nắp chế tạo từ kim loại và chất dẻo. Khe hở giữa thành bể và mép phao kim loại có
kích thước đạt tới 25cm. Để làm kín khoảng không này, ngăn ngừa sự lọt hơi ta dùng cửa chắn
làm từ kim loại màu hoặc vải asbet có tẩm cao su chịu dầu. Thiết bị nắp phao trước hết dùng cho
các bể chứa có hệ số quay vòng cao. Nước mưa hắt lên nắp chảy theo ống thoát nước có xiphong
ngược là một đoạn ống ngắn uốn cong có phần cuối ngập trong dầu. Do nước nặng hơn dầu nên
mực nước trong ống thấp hơn mực dầu trong bể. Nước và các cặn bẩn từ khí quyển xuyên qua
lớp dầu và đọng xuống đáy bể sẽ được xả theo các phương pháp thông thường. Các bể chứa nắp

II.2.1 Những yêu cầu đối với phuy chứa dầu
- Chắc chắn, bền, sử dụng lâu
17
- Nhẹ nhàng thuận tiện cho việc vận chuyển
- Hình dáng thích hợp tiện cho việc vận chuyển thô sơ cũng như máy móc.
- Cấu tạo và quy cách của Phuy chứa dầu: Phuy chứa dầu được làm bằng thép, thép được sử
dụng làm Phuy chứa dầu được cán nóng. Phuy chứa dầu thường có 2 loại là 100 lít và 200 lít.
Phuy chứa dầu có lỗ đóng dầu và lỗ thông hơi, phải dùng nắp có ren và gioăng
để đậy chặt. Lỗ áp suất của Phuy phải chịu được áp suất trong Phuy là 0,5 atm.
II.2.2. Bảo quản, tồn chứa xăng dầu trong phuy và bao bì nhỏ
Tồn chứa sản phẩm dầu trong Phuy và bao bì nhỏ sẽ đảm bảo giữ nguyên được phẩm chất và
số lượng sản phẩm dầu tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán thiết kế…
- Từng loại sản phẩm dầu chứa trong Phuy và bao bì bên ngoài phải có đánh nhãn hiệu ghi rõ
từng loại sản phẩm được tồn chứa bên trong.
- Chỉ được chứa sản phẩm xăng dầu trong bao bì đến chiều cao tối đa 97% thể tích của
phương tiện chứa đựng.
- Độ sạch của bao bì trước khi chứa đựng sản phẩm dầu tuỳ thuộc vào sản phẩm dầu đã được
tồn chứa lần trước đó và sản phẩm dầu tiếp theo cần tồn chứa.
- Trước khi đóng dầu vào Phuy phải kiểm tra chất lượng Phuy, độ kín, độ sạch của Phuy và
nắp nút có đủ không. Người ta thường bảo quản các sản phẩm dầu đã đóng trong Phuy và các
loạibao bì trong nhà kho, cũng có thể bảo quản dầu nhờn tại các kho bãi khô ráo và xa nơi có lửa.
- Không được bảo quản sản phẩm dầu tồn chứa trong phuy và bao bì nhỏ trong các kho ẩm ướt
vì chúng sẽ hấp thụ hơi nước do đó phẩm chất sẽ kém đi.
- Phải bảo quản sản phẩm dầu riêng từng loại. Các Phuy chứa sản phẩm dầu cấp I (Xăng,
Diezel) chỉ được xếp một tầng còn các loại dầu nhờn thì được xếp hai tầng.
- Đối với các loại can mới, trước khi nhập dầu phải được sấy khô bằng không khí nóng rồi sau
đó sả nhanh sản phẩm vào dầu vào can để khí ẩm không kịp bám lại trên thành trong của can.
- Các loại chai lọ thuỷ tinh thì phải lau sạch bụi bẩn bám bên trong và bên ngoài chai. Lau sạch
bụi bẩn bằng khăn khô.
- Khi bảo quản dầu bằng phuy đặt các bãi chứa ngoài trời Phuy phải được dựng nghiêng một

bình nốc ao (knock out) hoặc bẫy. Nếu thiết bị tách nước lắp đặt gần miệng giếng thì khí và dầu
thoát ra đồng thời còn nước tự do thoát ra ở phần đáy bình. Ở các bình tách lỏng cho phép tách
tất cả chất lỏng ra khỏi khí, dầu và nước thoát ra ở phần dưới của bình, còn khí thoát ra ở phần
trên đỉnh của bình. Như vậy thuật ngữ nốc ao để chỉ nhiệm vụ tách nhanh chất lỏng ra khỏi khí
của bình tách.
Thiết bị tách truyền thống làm việc ở áp suất thấp thường gọi là buồng Flat. Chất lưu vào là từ
các bình tách cao áp, chất lưu đi ra được chuyển tới các bể chứa, nên chúng thường đóng vai trò
là bình tách cấp hai hoặc cấp ba, có nhiệm vụ tách khí nhanh.
Các bình tách bậc một làm việc ở các trạm tách nhiệt độ thấp hoặc tách lạnh thường gọi là bình
giãn nở. Đối với loại bình này thì được trang bị thêm nguồn nhiệt để nung chảy hydrat hoặc cũng
có thể bơm chất lỏng phòng ngừa hydrat hoá vào chất lỏng giếng trước khi đưa vào bình.
Các bình lọc khí cũng tương tự như bình tách, dùngcho các giếng có chất lưu chứa ít chất lỏng
hơn so với chất lưu của giếng khí và giếng dầu, thường dùng trên các tuyến ống phân phối, thu
gom, được chế tạo theo kiểu lọc khô và lọc ướt. Loại lọc khô có trang bị bộ chiết sương, phổ
biến là kiểu keo tụ và các chi tiết phía trong tương tự như bình tách dầu khí. Đối với loại lọc ướt
thì dòng hơi đi qua một đệm lỏng (có thể là dầu) để rửa sạch bụi bẩn và tạp chất, sau đó qua bộ
chiết sương để tách lỏng. Bình lọc thường lắp ở dòng đi lên từ thiết bị xử lý khí bất kỳ hoặc thiết
bị bảo vệ dòng ra.
20
III.1.2. Phân loại
Việc phân loại bình tách dựa theo nhiều quan điểm khác nhau: Theo chức năng, theo hình
dáng,áp suất làm việc, mục đích sử dụng, nguyên tắc tách cơ bản…
III.1.2.1. Phân loại theo chức năng
Tùy theo từng chức năng của bình tách mà có thể phân loại như sau:
• Bình tách dầu và khí;
• Bình tách 3 pha: Dầu, khí và nước;
• Bình tách dạng bẫy ;
• Bình tách từng giai đoạn;
• Bình tách nước (kiểu khô hay ướt);
• Bình lọc khí;

1- Cửa vào của hỗn hợp; 2- Bộ phận tạo va đập;
3- Bộ phận chiết sương; 4- Đường xả khí;
5- Đường xả chất lỏng.
22
Hình III.2. Bình tách hình trụ đứng 3 pha
1- Đường vào của hỗn hợp; 5- Đường gom các giọt chất lỏng;
2- Bộ phận tạo va đập; 6- Đường xả nước;
3- Bộ phận chiết sương; 7- Đường xả dầu.
4- Đường xả khí;
Thông thường thì các loại bình tách hình trụ đứng có đường kính từ 10 inh cho đến 10 ft
và có chiều cao từ 4- 25 ft.
• Bình tách hình trụ ngang: Tương tự như bình tách hình trụ đứng mà bình tách hình trụ ngang
cũng được chia ra làm 2 loại: 2 pha và 3 pha.
Ngoài ra bình tách hình trụ ngang còn có thể xếp chồng lên nhau dạng 2 hình trụ ghép với
nhau. Đối với loại bình ngang thì có đường kính của bình thay đổi từ 10 in - 16ft và chiều dài từ
4- 70 ft. Dưới đây là một số dạng cụ thể của bình tách hình trụ ngang:
23
Hình III.3. Bình tách hình trụ nằm ngang 2 pha
1- Đường vào của hỗn hợp; 4- Đường xả khí;
2- Bộ phận tạo va đập; 5- Đường xả chất lỏng.
3- Bộ phận chiết sương;
Hình III.4. Bình tách hình trụ nằm ngang 3 pha
1- Đường vào của hỗn hợp; 4- Đường xả khí;
2- Bộ phận tạo va đập; 5- Đường xả nước;
3- Bộ phận chiết sương; 6- Đường xả dầu.
• Bình tách hình cầu: Thường có đường kính từ 24- 72 in, gồm có 2 loại:
24
- Bình tách hình cầu 2 pha (dầu – khí).
- Bình tách hình cầu 3 pha (dầu – khí – nước).
Hình III.5. Bình tách hình cầu 2 pha


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status