BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
A.MỞ BÀI
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước,biết bao biến cố thăng
trầm đã chứng minh được sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc ta
tạo nên cội nguồn của nền văn hoá phong tục việt nam với hàng nghìn năm
lịch sử, kiên trì, bền bỉ, gạn đục khơi trong đã bảo tồn và phát triển những
nết phong tục tập quán của người dân việt nam giữ được cho nền văn hoá
dân tộc một cốt cách một dáng vể việt nam với bản lĩnh, rạng rỡ lịch sử.Việt
nam một quốc gia đa dân tộc góp phần phong phú thêm nền văn hoá đồng
thời giữ thêm sự bình đẳng, đa dạng về văn hoá các dân tộc.
Vì vậy việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc nói chung và văn hoá dân
tộc Gia Lai.cũng là vấn đề quan trọng không chỉ ở việc bảo vệ gìn giữ di sản
văn hoá dân tộc mà còn có sự đòi hỏi cấp bách của chiến lược đại đoàn kết
của các dân tộc trong thời đại hiện nay.
Nhằm góp phần xây dựng vì mục đích sẽ xây dựng một nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, giúp không chỉ bản thân tôi mà
các bạn có thêm những thông tin về việc nghiên cứu một phần dân tộc ở Gia
Lai và những nét đặc sắc về phong tục tập quán của ngưòi này làm phong
phú thên những tài liệu trong quá trình nghiên cứu về dân tộc thái ở Việt
Nam.
Với tinh thần học tập, nghiên cứu và sự đam mê về các dân tộc Việt
Nam nói chung và dân tộc ở Gia Lai nói riêng với những sự tìm kiếm và vận
dụng tôi cũng đã tìm được sâu hơn về dân tộc đặc biệt này, nó đã giúp ích tôi
rất nhiều được hiểu thêm về dân tộc anh em của chúng ta.
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài : “Văn hoá lễ hội cồng chiêng tây
nguyên, xúc tiến quảng bá du lịch và vai trò của nó đối với phát triển du lịch
tỉnh Gia Lai trong tương lai.”
Trong quá trình thực hiện, tôi đã sử dụng các thông tin thu thập dữ liệu
từ sách ,báo, internet.Do thời gian thực hiện tương đối ngắn,nên bài tiểu luận
không tránh được những thiếu xót.Nên mong được sự đóng góp của mọi
1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ:
Vùng Tây Nguyên ngày xưa đa số là những người dân tộc thiểu số sinh
sống. Và họ sống với nhau trong những làng mạc mà cha ông họ đã gây
dựng nên. Trong một ngày nọ người trưởng làng cảm thấy trong người của
mình có vẻ không khỏe nên đã cho gọi 2 người con trai vào và tổ chức một
cuộc thi săn bắt để chọn ra người kế vị. Và cuộc thi đã diễn ra nhưng phần
thắng đã thuộc về người em. Người anh buồn bã bỏ sang một vùng đất khác
để sinh sống. Sau đó người em đã lập ra một làng tên là "plei ku". Ở đây nếu
dịch sang nghĩa từ thì Plei là một cái làng, Ku là người em. Pleiku nghĩa là
làng của người em (nhớ về chiến thắng của người em). Và cái tên Pleiku
được gắn liền với địa danh nay suốt bao năm tháng qua.
Gia Lai là một vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang
bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na thể
hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y
phục và nhạc cụ. Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm
trâu, múa xoang trang phục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc
thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ
riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồng chiêng Đến Gia Lai du
khách còn được xem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ
loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) còn
nhiều nét nguyên thủy.
1.2 VÙNG ĐẤT VĂN HOÁ LỊCH SỬ:
Trên Cao Nguyên miền Trung Việt Nam, tỉnh Tây Nguyên Gia Lai nay
đã thêm nhiều dân tộc định cư. Đó là người Kinh (chiếm xấp xỉ 50% dân
số), người Tày, Thái, Nùng ở các tỉnh phía Bắc, tận biên giới vào làm ăn
sinh sống. Còn người "bản thổ" lâu đời ở đây gồm 30 dân tộc cùng sinh sống
được người Việt ở đồng bằng, ven biển gọi là "người Thượng", "Thượng" có
nghĩa là ở trên cao, trên vùng núi, đối lại với miền "xuôi" (thấp) ở đồng bằng
ven biển v.v
Trong đó người Thượng Bana và Gialai là 2 dân tộc chiếm số đông, xấp
văn, sắc màu được tạo thành Ơở đồ dùng "gùi" để mang tải trên lưng cũng
được dùng nan tre chuốt vót kết đan thành hoa văn theo kiểu tương tự như
dệt vải.
Đáng chú ý là sắc màu của vải sợi dệt kết can thành y phục. Ơở đây còn
tàng chứa, ẩn tích nhiều bản sắc như là đầu mối cho nhiều lĩnh vực nghiên
cứu hiểu biết đối với các dân tộc Thượng và nhân loại học. Nói chung sự tồn
tại đến nay thì vải dệt hoa văn người Thượng thường lấy màu đen làm nền.
Trên đó họ kết sợi lên các màu đỏ, vàng (đa số) rực rỡ ở "gam màu" nóng
tương phản rõ nét với nền đen. Cũng có màu trắng nhưng dường như nó xuất
hiện đột khởi nhắc nhở sự tiềm ẩn như đã mờ phai theo thời gian năm tháng
để phù hợp với hoàn cảnh sống, canh tác, nơi núi rừng.
Sắc màu, dệt sợi màu là những tạo hình hoa văn và bố cục rất quen,
thành công thức với những đường hình học, kỷ hà nói trên. Màu xanh cũng
được họ sử dụng nhưng không choán chiếm lấn át nổi các màu đen, đỏ, vàng
rực rỡ (nóng) xuất hiện trên vải là y phục. Có thể những màu này là dạng
phát triển, biến thể của nền trắng xa xưa, nay được hoà quyện với màu
không gian núi rừng cây xanh xung quanh để lẫn chìm trong nó. Nó không
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 4
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
giống như sắc màu, màu nền y phục, vải dệt của một số dân tộc thiểu số phía
Nam Cao Nguyên hay ven biển như những dân tộc, Chàm, Châu Ro, người
Stiêng (ở đây nền màu trắng vẫn còn tồn tại mạnh, tựa như để hòa lẫn với
sóng biển bạc đầu của dân đi biển hay sa mạc từng được biết đến trên thế
giới).
Nói đến Gia Lai với các dân tộc, người "Thượng" (khác với người miền
núi thiểu sô ở các tỉnh phía Bắc lại thường được gọi chung là "dân tộc thiểu
số" hay "người miền núi" hoặc gọi thẳng tên dân tộc họ như Tày, Thái,
Nùng, Mèo, Dao v.v ) Tây Nguyên cũng như người Ba Na, Giarai là nói
đến nghệ thuật cồng chiêng nhạc khí, trường ca chuyện cổ sử thi, là văn hóa
lễ hội, là nghệ thuật điêukhắc gỗ nhà mồ, là xây dựng nhà ở, là nói đến nghệ
Hết ngày thứ nhất, sang ngày thứ hai, tiếng cồng chiêng càng nổi lên rộn
rã, những thanh niên khoẻ mạnh, đầu chít khăn đỏ, tay cầm khiên, gươm
sáng loáng lao ra, vừa múa vũ khí, vừa đi vòng tròn để lừa dịp đâm trâu. Sau
cuộc nhảy múa, họ bắt đầu đâm trâu. Khi con trâu đã tắt thở, thầy cúng
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 6
Quang cảnh lễ hội đâm trâu
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
mang chiêng, nồi đồng nhỏ đến hứng
huyết trâu hòa với rượu, bộ phận đao
kiếm tiếp tục xẻ thịt trâu, làm thịt
trâu xong, họ chia đều cho từng bếp
trong buôn làng. Một phần thịt trâu
sẽ được dành lại để uống rượu chung
tại nhà rông.
2.2. Lễ Pơ Thi (Lễ bỏ mả)
Hàng năm khi mùa mưa vừa chấm dứt (từ tháng 11 đến hết tháng 4
dương lịch năm sau), khi muà màng thu hoạch xong, cả hai tộc người
Bahnar và Jrai ở tỉnh Gia Lai tổ chức Lễ bỏ mả và họ cùng gọi là Pơ thi. Lễ
bỏ mả là lễ hội lớn nhất, đông vui và dài ngày nhất.
Theo quan niệm của cư dân bản địa, người sống đều có hồn, khi người
chết hồn biến thành ma. Hàng ngày, người thân của người chết phải đem
cơm nước đến nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Mục đích của lễ hội chính là tiễn
đưa các tinh linh (ma mới) về với thế giới tổ tiên, về với "ma cũ". Chỉ sau
khi làm Lễ bỏ mả người chết mới đi về với thế giới tổ tiên, chấm dứt mọi
ràng buộc giữa người sống với người chết.
Ngày xưa người Jrai tổ chức lễ hội bỏ mả trong 7 ngày, nay chỉ còn 4
ngày:
Ngày thứ nhất gọi là ngày vào hội
Ngày thứ hai là ngày vỡ hội
Ngày thứ ba là ngày rửa nồi
luyến tiễn đưa người chết về thế giới bên kia bằng bài nhạc cồng chiêng,
bằng những con rối Sau khi làm lễ giải phóng, người sống không còn
ràng buộc gì với người thân đã chết. Họ có thể lấy vợ, lấy chồng, có thể dự
những cuộc vui của dân làng. Đến đây lễ bỏ mả chấm dứt, ngôi nhà mồ cũng
bị bỏ luôn, không còn được chăm sóc.
Xét dưới góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì Lễ bỏ mả là một nghi thức tang
ma. Thế nhưng nhìn ở khía cạnh văn hóa thì Lễ bỏ mả của người Tây
Nguyên mà điển hình nhất của người Jrai và người Bahnar ở tỉnh Gia Lai là
đỉnh điểm của những hoạt động văn hóa truyền thống. Đương nhiên thông
qua lễ hội, chủ lễ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với con
người và giữa con người với thế giới tự nhiên.
Có thể nói, Lễ bỏ mả là một trong những đặc trưng văn hóa tiêu biểu
nhất của các dân tộc tỉnh Gia Lai. Đến với Lễ bỏ mả, du khách còn được
chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc nhà mồ, điêu khắc tượng nhà mồ - những
giá trị có một không hai của đất nước Việt Nam.
2.3. Tượng nhà mồ
Lên Tây Nguyên đến các làng của người Bahnar, Jrai đến những khu
nghĩa địa chúng ta như lạc vào cả rừng tượng gỗ, có những ngôi mộ mới thì
tượng vẫn còn nguyên vẹn nhưng có những ngôi mộ cũ thì tượng nhà mồ đã
bị bỏ ngổn ngang và biến thành rừng. Đó là hình ảnh nhà mồ của người dân
bản địa Gia Lai.
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 8
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Nhà mồ được dựng lên cho người chết, để hàng ngày người thân của
người chết đem cơm nước đến và quét dọn như khi còn sống. Tượng nhà mồ
chỉ xuất hiện khi họ tổ chức lễ bỏ mả cho người chết, tại lễ bỏ mả người ta
khắc tượng và trang trí xung quanh nhà mồ. Tượng nhà mồ phản ánh cuộc
sống hiện thực của người dân bản địa.
Theo lời kể của tộc người Bahnar thì tượng nhà mồ là để đưa tiễn người
nương ngày càng nhiều thóc lúa. Dân làng cúng thần lúa bằng heo, gà lễ ăn
cơm mới được tổ chức ở nhà rông hoặc nhà riêng. Việc tổ chức lễ ăn cơm
mới tuỳ thuộc vào khả năng thu hoạch nhiều hay ít của từng gia đình. Đây là
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 9
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
cơ hội để chủ nhà mời bà con, họ hàng, bạn bè các buôn làng lân cận
đến chung vui, ăn uống, nhà nào đông khách được coi là một vinh dự lớn.
Trong ngày vui này người ta đánh cồng chiêng, trống vui chơi ca hát cho
đến khi tiệc tàn.
2.5. Lễ cầu mưa
Đồng bào Tây Nguyên thường làm lễ cầu mưa khi sắp bước vào mùa
trồng tỉa. Nhưng cũng có lúc đồng bào cầu mưa khi cây trồng đang trong
thời kỳ sinh trưởng mà Yang (ông trời) quên đem mưa tưới xuống rẫy
nương, hay vì tức giận mà không cho mưa đến một vùng nào đó. Tuỳ theo
từng tộc người, lễ cầu mưa của các dân tộc có thể được tổ chức ở từng gia
đình, tổ chức theo cộng đồng. Một bộ phận cư dân có hẳn người đại diện
Yang tại mặt đất chuyên lo việc cầu mưa. Thông thường lễ cầu mưa được tổ
chức tại bến nước. Đồng bào đắp một đám đất bằng chiếc mâm, tượng trưng
cho đám rẫy, trong đó đặt các lễ vật gồm: một ghè rượu, một chiếc gùi có
treo thịt quanh vành gùi, 2 khúc lồ ô cắt ngắn đựng rượu đặt bên ngoài chân
đế gùi. Ngoài ra, còn có 2 chiếc lá đựng thịt cũng đặt trên mâm đất và 3 ống
nứa dựa 3 phía thân gùi tượng trưng cho những công cụ chứa nước mưa. Lễ
cầu mưa do Pơtao Apui đảm nhận.
Lễ cầu mưa là một hiện tượng tín ngưỡng dân gian, phản ánh nguyện
vọng của một bộ phận cư dân nông nghiệp. Ở Tây Nguyên nó tồn tại song
hành cùng hình thái kinh tế trồng lúa rẫy và hiện chỉ còn thấy ở vùng xa, bởi
sự hiện diện ngày càng nhiều các công trình thuỷ lợi có sức tưới hàng chục
nghìn ha làm cho mưa không còn là nhu cầu bức thiết của dân cư, vì thế lễ
cầu mưa ngày một thưa vắng dần, chỉ còn là mối quan tâm của những người
yêu mến nền văn hoá cổ truyền Tây Nguyên.
nghiên cứu nghệ thuật cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng càng ít hơn. Đó là
một sự thực. Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn
hoá thông tin cho biết đến nay chưa có một công trình sưu tầm, nghiên cứu
nào về cồng chiêng xứng tầm với giá trị thực có của văn hóa cồng chiêng,
thậm chí chưa có một công trình tổng hợp đầy đủ về những dàn cồng chiêng
của các dân tộc thiểu số. Khi xây dựng hồ sơ trình lên UNESCO, Viện tập
hợp tất cả các bài nghiên cứu đã xuất bản lâu nay mà “bề dày” vẫn chưa lấp
đầy 300 trang in!
Từ trước 1945, có một số học giả phương Tây quan tâm đến cồng
chiêng của Việt Nam. Nhưng những bài viết của họ chỉ dừng lại ở miêu tả,
không đi sâu vào nhạc học, cũng không nêu được đầy đủ bản sắc văn hóa
của cồng chiêng Việt Nam. Nói cách khác, họ tiếp cận cồng chiêng với
phương pháp và mục đích dân tộc học mà thôi. Ngay như giáo sư Trần Văn
Khê cũng thừa nhận rằng nhờ Tổ chức UNESCO giao nhiệm vụ đánh giá bộ
hồ sơ cồng chiêng của Việt Nam mà ông có điều kiện tăng bổ kiến thức về
loại hình nghệ thuật, văn hóa này. Những nhận định về tình hình nghiên cứu
cồng chiêng của ông không khác với tiến sĩ Nguyễn Chí Bền. Rằng khi mới
đọc qua bộ hồ sơ trình UNESCO ông nhận thấy các bài nghiên cứu chưa làm
rõ nét độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên so với cồng chiêng các nước
khác, yếu tố cơ bản để được công nhận là “kiệt tác”. Từ đó mới thấy vì sao
cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã vượt qua được các ứng viên nặng
ký khác như cồng chiêng Indonesia hay Philippines để được công nhận là
kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.
Như vậy, một lần nữa, có thể nói ngay trên cái nôi của mình, nghệ thuật
và văn hóa cồng chiêng đã không có nhiều đất sinh tồn, phát triển. Trong khi
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 11
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
đó, phần lớn bài viết trên các kênh truyền thông gần đây nhấn mạnh một
thực tế: Cồng chiêng vốn là vật thiêng, là phương tiện để con người thông
linh với trời-thần, hiện đang bị tục hóa, chẳng khác một nhạc cụ bình
dàn cồng chiêng các nước khác tổ chức gần như cố định về số lượng trong
khi một dàn cồng chiêng Tây Nguyên có thể từ 2 chiếc đến 15 chiếc. Hoặc
ở các nước khác, người chơi trong dàn cồng chiêng phải ngồi yên tại vị trí cố
định thì ở Việt Nam người chơi luôn di chuyển, và có những động tác uyển
chuyển biểu lộ cảm hứng cá nhân như nghiêng mình, khom lưng
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 12
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Mở rộng không gian cho nghệ thuật cồng chiêng cũng là tích cực bảo
tồn không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 13
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG III VĂN HOÁ LỄ HỘI CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
VỚI XÚC TIẾN VÀ QUẢNG BÁ DU LỊCH
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
UNESCO tổ chức lễ công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác di
sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Trong dịp này, trên các kênh
thông tin, các vấn đề liên quan đến văn hóa cồng chiêng đã được đăng tải
với mật độ dày. Bên cạnh niềm vui lớn là nỗi lo chung về thực tiễn bảo tồn:
nghệ thuật cồng chiêng chính thống ngày càng rời xa không gian thiêng của
nó khibước vào lĩnh vực dịch vụ du lịch. Và như thế, nguy cơ lai tạp, thậm
chí mai một là rất cao. Bài viết này xin trình bày một cái nhìn khác về bảo
tồn cồng chiêng.
Số người am hiểu thấu đáo nghệ thuật cồng chiêng rất ít. Công trình
nghiên cứu nghệ thuật cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng càng ít hơn. Đó là
một sự thực. Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn
hoá thông tin cho biết đến nay chưa có một công trình sưu tầm, nghiên cứu
nào về cồng chiêng xứng tầm với giá trị thực có của văn hóa cồng chiêng,
thậm chí chưa có một công trình tổng hợp đầy đủ về những dàn cồng chiêng
của các dân tộc thiểu số. Khi xây dựng hồ sơ trình lên UNESCO, Viện tập
hợp tất cả các bài nghiên cứu đã xuất bản lâu nay mà “bề dày” vẫn chưa lấp
Thực ra, một khi bản thân nếp sống văn hóa, kinh tế của đồng bào Tây
Nguyên có những thay đổi lớn lao theo dòng phát triển đương đại, giảm hẳn
vai trò quyết định của thế giới thần linh trong năng suất sản xuất, trong lễ tục
thì tần suất diễn tấu cồng chiêng như phương tiện giao đãi với thần linh giảm
theo, kéo theo sự giảm thiểu số lượng các dàn cồng chiêng là tất yếu (hiện
nay chỉ còn khoảng 2000 dàn so với khoảng 6000 dàn trước năm 1980). Và
như thế, địa vị của cồng chiêng trong đời sống tâm linh của đồng bào Tây
Nguyên, đặc biệt đối với lớp trẻ, cũng không được như xưa.
Cho nên, ở một cách nhìn khác, phần “hình thức” cũng quan trọng và
cần thiết. Nó là nhịp cầu để quảng bá nghệ thuật cồng chiêng ra một không
gian rộng lớn hơn bên ngoài buôn làng, bên ngoài thời gian thiêng của lễ tế
thần linh của đồng bào Tây Nguyên. Không nhất thiết phải lên Tây Nguyên,
vào buôn làng, đợi tới dịp lễ hội mới được tiếp xúc văn hóa cồng chiêng.
Phải từ chỗ làm quen với nghệ thuật cồng chiêng, công chúng yêu nghệ
thuật sẽ tiếp cận với văn hóa cồng chiêng sau đó. Quảng bá không phản trắc
với bảo tồn, nếu quảng bá mang sẵn ý thức bảo tồn. Như không thể chấp
nhận các dàn cồng chiêng được điều chỉnh thang âm theo “đồ-rê-mi” của
phím đàn piano, mà phải giữ nguyên thang âm gốc Tây Nguyên: “bố-mẹ-
con-cháu” Mặt khác, các cơ quan chức năng phải đầu tư lớn cho công tác
bảo tồn thuần tuý, bởi một khi UNESCO đã công nhận cồng chiêng Tây
Nguyên là “kiệt tác”, là nghệ thuật đỉnh cao, thì không được phép biến cải.
Và quảng bá, bảo tồn nghệ thuật cồng chiêng không chỉ dừng lại ở các
buổi biểu diễn để mở rộng kiến văn của công chúng. Mà phải đưa vào không
gian học đường, đặc biệt là các trường trung cấp, đại học nghệ thuật, trước
tiên là đại học Tây Nguyên. Nếu không được học, tuổi trẻ Việt Nam không
thể phân biệt cồng khác chiêng thế nào, chứ chưa nói đến việc phân biệt
dàn cồng chiêng các nước khác tổ chức gần như cố định về số lượng trong
khi một dàn cồng chiêng Tây Nguyên có thể từ 2 chiếc đến 15 chiếc. Hoặc
ở các nước khác, người chơi trong dàn cồng chiêng phải ngồi yên tại vị trí cố
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 15
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4 bảo tàng đang hoạt động, hơn 35 di tích lịch
sử văn hóa, trong đó có 15 di tích được công nhận xếp hạng cấp tỉnh và cấp
quốc gia, cùng hàng chục địa điểm dấu tích khảo cổ mang dấu ấn về xã hội
loài người cổ xưa trên vùng đất này cũng như các hoạt động lễ hội mang
đậm dấu ấn cổ truyền thường xuyên diễn ra trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện
nay để việc khai thác và sử dụng nguồn lực di sản văn hóa tốt hơn trong phát
triển du lịch văn hóa, tạo ra một sản phẩm du lịch
đặc thù hấp dẫn khách tham quan chúng ta cần
quan tâm một số vấn đề sau:
Trước hết về cơ sở hạ tầng. Phần lớn các di
tích trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa đáp ứng nhu
cầu của khách tham quan, vì vậy cần tập trung
nguồn vốn Trung ương và địa phương, đồng thời
tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức kinh tế- xã
hội và tất cả người dân để từng bước nâng cấp,
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các khu di tích, tổ chức các lễ hội với quy
mô lớn, các hoạt động trưng bày có chiều sâu tại bảo tàng….
Bản làng Gia LaiCòn các hướng dẫn viên du lịch thì có trình độ ngoại
ngữ phương pháp truyền đạt tốt nhưng lại không nắm rõ giá trị của di tích,
nội dung trưng bày của bảo tàng cũng như các ý nghĩa của hoạt động lễ
hội… do vậy phần nào chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, đôi lúc
còn làm sai lệch giá trị nguyên gốc. Chính vì thế ngành Du lịch và các ngành
liên quan cần xem xét kỹ lưỡng vấn đề này để vạch ra kế hoạch, hướng đi
thích hợp hơn trong giai đoạn mới. Đồng thời tăng cường quảng bá hình ảnh
bảo tàng, di tích và lễ hội ở địa phương trên các phương tiện truyền thông,
sách, ấn phẩm hoặc có thể cắm biển quảng cáo trên các trục đường chính,
đường đi đến di tích. Nên tổ chức một số dịch vụ văn hóa, ăn uống lành
mạnh, bán những sản phẩm mang đặc trưng văn hóa của địa phương tại khu
di tích, bảo tàng. Không những thế, cần có phòng bán vé theo quy định tại
các di tích tiêu biểu vừa tạo thuận lợi cho du khách vừa tăng thu nhập…
lịch đến với làng, xã là cơ hội để tỉnh ta quảng bá rộng rãi hình ảnh của một
Gia Lai tràn đầy nhựa sống. Đồng thời giúp du khách có thể cảm nhận và
khâm phục được sự phát triển liên tục, lâu dài, từng thời kỳ lịch sử- văn hóa
của con người trên vùng đất này, bởi du lịch là một hình thức trải nghiệm
văn hóa, mà nền tảng là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở trong
chính mỗi cộng đồng làng xã, hay trong mỗi bản thân con người.
Ngoài văn hóa truyền thống của người bản địa, ngay tại Phố núi, nhiều
du khách cũng tìm được sự thích thú riêng và hài lòng về một thành phố yên
bình Nhưng ngay cả khi Gia Lai tổ chức một sự kiện lớn đến thế thì thành
phố nhỏ này vẫn rất yên bình, không bị “khuấy đảo” như ở thành phố của
tôi. Tối tối, trong sương lạnh, tôi và cộng sự vẫn tìm cho mình được những
góc riêng, yên tĩnh nhâm nhi cà phê ngắm Phố núi về đêm”. Nhiều du khách
đến từ vùng cao phía Bắc, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hay các tỉnh sông nước
miền Tây lần đầu đến Gia Lai đều có nhiều ấn tượng và tìm thấy cho mình
những cảm xúc riêng trên thành phố cao nguyên này. “Gia Lai có nhiều thế
mạnh, tiềm năng để khai thác du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, đặc biệt là
du lịch buôn làng như một số tỉnh vùng cao Tây Bắc. Nếu có sự đầu tư để
khai thác thế mạnh này, cùng với sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa truyền
thống và sự hiện đại của một đô thị trẻ, chắc chắn Gia Lai sẽ là một trong
những địa chỉ hấp dẫn với du khách trong Năm Du lịch Quốc gia 2011”.
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 18
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Tỉnh đang tập trung đẩy mạnh xúc tiến liên kết, hợp tác nhằm phát huy
tiềm năng và thế mạnh ở địa phương, tạo thế phát triển ổn định và bền vững
trong hội nhập kinh tế quốc tế. Sự liên kết, hợp tác này nhằm thu hút đầu tư
của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh bảo đảm các điều kiện về sự
phát triển bền vững trên lĩnh vực kinh doanh du lịch thông qua tổ chức Hiệp
hội du lịch.
Nhiều dự án có quy mô lớn đã được đưa vào danh mục gọi vốn đầu tư,
như khu du lịch Biển Hồ, du lịch thác Phú Cường, du lịch sinh thái hồ Ayun
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4 bảo tàng đang hoạt động, hơn 35 di tích lịch
sử văn hóa, trong đó có 15 di tích được công nhận xếp hạng cấp tỉnh và cấp
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 19
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
quốc gia, cùng hàng chục địa điểm dấu tích khảo cổ mang dấu ấn về xã hội
loài người cổ xưa trên vùng đất này cũng như các hoạt động lễ hội mang
đậm dấu ấn cổ truyền thường xuyên diễn ra trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện
nay để việc khai thác và sử dụng nguồn lực di sản văn hóa tốt hơn trong phát
triển du lịch văn hóa, tạo ra một sản phẩm du lịch đặc thù hấp dẫn khách
tham quan chúng ta cần quan tâm một số vấn đề sau:
Trước hết về cơ sở hạ tầng. Phần lớn các di tích trên địa bàn tỉnh hiện
nay chưa đáp ứng nhu cầu của khách tham quan, vì vậy cần tập trung nguồn
vốn Trung ương và địa phương, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tổ
chức kinh tế- xã hội và tất cả người dân để từng bước nâng cấp, đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng tại các khu di tích, tổ chức các lễ hội với quy mô lớn, các
hoạt động trưng bày có chiều sâu tại bảo tàng….
Còn các hướng dẫn viên du lịch thì có trình độ ngoại ngữ phương pháp
truyền đạt tốt nhưng lại không nắm rõ giá trị của di tích, nội dung trưng bày
của bảo tàng cũng như các ý nghĩa của hoạt động lễ hội… do vậy phần nào
chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, đôi lúc còn làm sai lệch giá trị
nguyên gốc. Chính vì thế ngành Du lịch và các ngành liên quan cần xem xét
kỹ lưỡng vấn đề này để vạch ra kế hoạch, hướng đi thích hợp hơn trong giai
đoạn mới. Đồng thời tăng cường quảng bá hình ảnh bảo tàng, di tích và lễ
hội ở địa phương trên các phương tiện truyền thông, sách, ấn phẩm hoặc có
thể cắm biển quảng cáo trên các trục đường chính, đường đi đến di tích. Nên
tổ chức một số dịch vụ văn hóa, ăn uống lành mạnh, bán những sản phẩm
mang đặc trưng văn hóa của địa phương tại khu di tích, bảo tàng. Không
những thế, cần có phòng bán vé theo quy định tại các di tích tiêu biểu vừa
tạo thuận lợi cho du khách vừa tăng thu nhập…
Sau khi không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO công nhận là di
chiêng của các tỉnh Tây nguyên lần thứ nhất” tại Thành phố Pleiku. Đây là
một hoạt động rất có ý nghĩa để các tỉnh rà soát lại số lượng nghệ nhân chỉnh
chiêng cùng vốn âm nhạc cồng chiêng cổ của mình.
Hướng dẫn viên du lịch thì có trình độ ngoại ngữ phương pháp truyền
đạt tốt nhưng lại không nắm rõ giá trị của di tích, nội dung trưng bày của
bảo tàng cũng như các ý nghĩa của hoạt động lễ hội… do vậy phần nào chưa
đáp ứng được nhu cầu của du khách, đôi lúc còn làm sai lệch giá trị nguyên
gốc. Chính vì thế ngành Du lịch và các ngành liên quan cần xem xét kỹ
lưỡng vấn đề này để vạch ra kế hoạch, hướng đi thích hợp hơn trong giai
đoạn mới. Đồng thời tăng cường quảng bá hình ảnh bảo tàng, di tích và lễ
hội ở địa phương trên các phương tiện truyền thông, sách, ấn phẩm hoặc có
thể cắm biển quảng cáo trên các trục đường chính, đường đi đến di tích. Nên
tổ chức một số dịch vụ văn hóa, ăn uống lành mạnh, bán những sản phẩm
mang đặc trưng văn hóa của địa phương tại khu di tích, bảo tàng. Không
những thế, cần có phòng bán vé theo quy định tại các di tích tiêu biểu vừa
tạo thuận lợi cho du khách vừa tăng thu nhập
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 21
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
C .KẾT LUẬN:
I.KẾT LUẬN:
1. Kết quả đạt được của đề tài:
Đề tài này gồm 3 phần và phần hai là phần nội dung với 3 chương chủ
yếu . Nó đạt được nhưng yêu cầu sau :
Đề tài này gồm 3 phần và phần 2 là phần nội dung và 3 chương chủ yếu.
Nó đạt được những yêu cầu sau:
Một là hệ thống theo trình độ tư duy lôgic những vấn đề từ xưa đến nay
được đề cập đến đó là phần lịch sử hình thành và phát triển của nền văn hóa
tỉnh Gía Lai.
Hai là, khái quát các hiểu biết hệ thống, rút ra một số đặc trưng về
“không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên”. Các giá trị nhân văn, sự
Nhằm có hiệu quả thu hút khách du lịch vốn đầu tue nguồn nhân lục để
phát triển nền kinh tế không riêng gì của tỉnh Gia Lai mà của cả đất nước.
Cần gắn kết việc phát triển du lịch với việc xây dựng một môi trường
sinh thái, nhân văn trong đời sống cộng đồng ở các buôn làng. Khuyến khích
từng cá nhân phát huy vai trò là chủ thể của mọi sự sáng tạo các giá trị văn
hóa nhằm hình thành nên các sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn mang tính
đặc thù của địa phưong.
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 23
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 24
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
SVTH: Đặng Thị Thanh Trâm 25