trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Một số giải pháp thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài
vào khu công nghiệp ở việt nam
Họ và tên sinh viên :
Nguyễn quang khoan
Giảng viên hớng dẫn :
Pgs.ts nguyễn nh bình
Hà nội - 2007
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Mở đầu
Chương 1.Lý luận chung về FDI và Khu Công nghiệp ở Việt Nam.................1
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về KCN ...................................................1
1.1.1. Khái quát về KCN và định nghĩa KCN...................................................1
1.1.2. Phân biệt KCN với KCX. .......................................................................4
1.1.3. Mô hình và phân loại KCN ....................................................................6
1.1.4. Sự cần thiết khách quan phát triển KCN ở Việt Nam ............................9
1.1.4.1. Sự cần thiết tất yếu phát triển KCN ở Việt Nam...............................9
1.1.4.2. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam ................12
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI của một quốc gia ...........19
1.2.1. Tổng quan về đầu tư nước ngoài...........................................................19
1.2.2. Khái niệm về FDI..................................................................................21
1.2.3. Tác động của FDI..................................................................................23
1.2.3.1. Đối với nước chủ đầu tư..................................................................23
1.2.3.2. Đối với nước nhận đầu tư................................................................23
1.2.4. Các hình thức thu hút FDI vào một quốc gia........................................25
KCN...................................................................................................43
2.4.2. Tồn tại trong thu hút FDI vào các KCN................................................43
2.5. Nguyên nhân và các tồn tại...................................................................45
2.5.1. Nguyên nhân khách quan .....................................................................45
2.5.2. Nguyên nhân chủ quan:.........................................................................45
Chương 3 Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI vào KCN Việt Nam trong
thời gian tới.....................................................................................................48
3.1. Một số vấn đề trong xây dựng , phát triển và phương hướng hoàn thiện
các KCN ở Việt Nam ...........................................................................48
3.2. Mục tiêu , triển vọng phát triển và thu hút FDI vào các KCN đến 2010
...............................................................................................................53
3.3. Giải pháp tăng cường thu hút FDI vào các KCN Việt Nam trong thời
gian tới...................................................................................................55
3.3.1. Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư vào
KCN......................................................................................................55
3.3.1.1. Đẩy mạnh vận động và xúc tiến đầu tư vào các KCN ....................55
3.3.1.2. Áp dụng các biện pháp tăng sức hấp dẫn cho môi trường đầu tư....57
3.3.1.3. Nâng cao chất lượng quy hoạch và danh mục dự án gọi vốn FDI ..57
3.3.1.4. Đa dạng hoá và đổi mới các phương thức tổ chức xúc tiến ............58
3.3.1.5. Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường và đối tác đầu tư.........61
3.3.1.6. Nâng cao chất lượng thông tin, ấn phẩm tuyên truyền về đầu.........62
3.3.2. Cải cách hành chính, nhanh chóng áp dụng cơ chế một cửa một dấu tại
chỗ, tạo môi trường đầu tư thuận lợi.....................................................62
3.3.3. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với KCN..........................63
3.3.4. Tham gia tích cực và chủ động hơn vào các chương trình xúc tiến đầu
tư trong khuôn khổ các tổ chức, diễn đàn khu vực...............................64
3.3.5. Xây dựng chuẩn mực và cơ cấu lại các KCN.......................................65
3.3.6. Cải thiện cơ sở hạ tầng tại KCN............................................................65
3.3.7. Sử dụng đất và tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN..................65
Kết luận ..........................................................................................................67
TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến tm và quyền sở hữu trí
tuệ
TNCs: Các công ty xuyên quốc gia
R&D: Nghiên cứu và triển khai
UNCTAD: Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc UNIDO
WB: Ngân hàng thế giới
WEPZA: Hiệp hội các KCX thế giới
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SỞ ĐỒ HÌNH VẼ
Bảng 1.1. Khác biệt giữa KCN và KCX
Bảng 2.1. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đến tháng 12 năm 2006
Bảng số 2.2. Quy mô bình quân một dự án FDI trong KCN
Bảng 2.3. Cơ cấu KCN theo tỷ lệ lấp đầy
Bảng 3.1. Quy hoạch phát triển KCN đến năm 2010 của các vùng trên cả
nước
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Việc phát triển các KCN trở thành một trong những phương thức huy động
vốn và khai thác có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, vốn khoa học công nghệ, trình
độ tổ chức quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài vào quá trình phát triển
kinh tế ở Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tạo ra bước ngoặt
cho sự phát triển của quốc gia trong hơn 15 năm qua, đồng thời từng bước
góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược của đất nước trong
thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, , thì hoạt động thu
hút vốn FDI vào phát triển các KCN ở Việt Nam đã bộc lộ không ít những tồn
tại, bất cập. Đó là: Việc thu hút FDI vào các KCN trong vài năm gần đây có
xu hướng chậm lại chưa đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá, Hiện đại
hoá. Vấn đề đặt ra là cần phải đánh giá đúng những thành công, những tồn tại,
bất cập trong việc thu hút FDI vào các KCN ở nước ta thời gian qua và tìm ra
chương sau:
Chương 1. Lý luận chung về FDI và Khu Công nghiệp ở Việt Nam.
Chương 2 Thực trạng thu hút FDI vào Khu Công nghiệp ở Việt Nam hiện
nay
Chương 3 Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI vào KCN Việt Nam
trong thời gian tới.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM.
1.4. Một số vấn đề lý luận cơ bản về KCN
1.4.1. Khái quát về KCN và định nghĩa KCN.
Từ cuối thế kỷ XIX các KCN bắt đầu được hình thành và phát triển.
Năm 1896, KCN đầu tiên trên thế giới được hình thành ở Trafford Park thành
phố Manchester, nước Anh. Tiếp theo Anh, các nước khác lần lượt thành lập
các KCN như Hoa Kỳ 1899, Italy 1904, Puerto Rico 1947 và sau những năm
50 thì sự tăng trưởng các KCN mới bắt đầu bùng nổ. Nếu như năm 1940 ở
Mỹ mới có 33 KCN thì đến năm 1959 con số này đã là 452 và đến năm 1970
số KCN đã lên đến 2.400. Với Châu Á, KCN đầu tiên được thành lập ở
Singapore vào năm 1951, ở Malaysia 1954 và ở Ấn Độ 1955. Hiện nay ở khu
vực Châu Á có trên 1000 KCN đang hoạt động. Như vậy, lịch sử hình thành
và phát triển các KCN trên thế giới đã trên 100 năm. Ở Việt Nam, KCN đầu
tiên được thành lập vào năm 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh, đó là KCX Tân
Thuận.
Về mặt lý thuyết KCN thành lập nhằm mục đích thiết lập những điều
kiện, yếu tố thuận lợi về mặt pháp lý và hạ tầng kỹ thuật trên một địa bàn hạn
chế phù hợp với khả năng về tài chính, quản lý, là một sách lược khôn khéo,
linh hoạt và có ý nghĩa về phương diện vận dụng lý thuyết kinh tế vào thực
tiễn các quan hệ kinh tế quốc tế của các nước đang phát triển. Phát triển KCN
được xác định trên nền tảng lý thuyết kinh tế của trường phái tư do mậu dịch
trong thương mại quốc tế. Lý thuyết này đưa ra hai căn cứ chứng minh cho
Với cách tiếp cận trên và quá trình hình thành KCN cho phép tổng hợp
một số định nhĩa về KCN như sau:
Thứ nhất, KCN được hiểu là một vùng lãnh thổ đặc biệt cho những
điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng sẵn có cùng với nhiều chính sách ưu đãi
đầu tư được áp dụng. Đây sẽ là địa bàn lý tưởng cho các nhà đầu tư cho các
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Thứ hai, KCN là một vùng đất được phân chia và phát triển có hệ thống
theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công
nghiệp với hạ tầng cơ sở, tiện ích công cộng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển.
các nước như Thái Lan, Philipin quan niệm KCN như một thành phố công
nghiệp vì ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng
hoàn chỉnh và sử lý chất thải, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ
ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công
nhân…
Thư ba, Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo nghị
định số 36/CP ngày 24/4/1997, KCN là “Khu tập trung các doanh nghiệp
chuyên sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư
sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất”. Thực tế khái niệm này mới chỉ
được hiểu theo nghĩa hẹp. Điều này dẫn đến một thực tế là nhiều KCN được
xây dựng thiếu tính đồng bộ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và hiệu
quả kinh tế xã hội của các khu công nghiệp thấp. Vì vậy, khái niệm trong
Nghị định 36/CP cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế nước ta
và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ đó, có thể rút ra một số kết luận như sau về KCN:
- KCN là lãnh thổ hữu hạn được phân cách bằng đường bao hữu
hình hoặc vô hình.
- Được phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh nghiệp sản
xuất công nghiệp (hàng tiêu dùng, công nghệ chế biến, tư liệu
sản xuất) và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và
Bảng 1.1. Khác biệt giữa KCN và KCX
Khác biệt KCX KCN
Mục tiêu
thành lập
Nhằm thu hút đầu tư của nước
ngoài
Nhằm thu hút cả đầu tư nước
ngoài và đầu tư trong nước
Chế độ ngoại
thương
Ưu đãi, miễn giảm thuế Theo khuôn khổ chế độ mậu
dịch và thuế quan chung của
mỗi quốc gia
Cấu trúc tổ
chức
Chỉ gồm doanh nghiệp sản xuất
và dịch vụ sản xuất hàng xuất
khẩu
Trong KCN có doanh nghiệp
chế xuất và KCN
Tính chất
hoạt động
Khu vực chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu
Khu vực vừa sản xuất hàng xuất
khẩu và sản xuất hàng bán vào
nội địa
Có thể thấy rằng, KCN là một trong những công cụ đểtạo ra thể chê
thương mại tự do cho các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu. Theo các
chuyên gia kinh tế, trong thời gian qua ở các nước Châu Á như Đài Loan,
- KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Đặc trưng của các KCN
này là được xây dựng hiện đại có quy mô thường lớn hơn 100
ha, xuất đầu tư bình quân 1 triệu USD/ha. Thường ở các KCN
này khi xây dựng hoàn chỉnh mới cho các nhà đầu tư thuê xây
dựng hạ tầng. Điển hình ở Việt Nam có các khu: KCN Nomura
(Hải Phòng), KCN Nội Bài (Hà Nội), KCN Đà Nẵng (Đà
Nẵng)…
- KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư, Đặc trưng
của các KCN này thường được xây dựng theo hình thức cuốn
chiếu ( xây dựng đến đâu cho các nhà đầu tư thuê sau đó mới
tiếp tục xây dựng tiếp), xuất đầu tư của các KCN này bình quân
120.000 USD/ha. Điển hình ở Việt Nam có các khu: KCN Tiên
Sơn (Bắc Ninh), KCN Lệ Môn (Thanh Hoá), KCN Bắc Vinh
(Nghệ An)…
Phân theo mục đích phát triển KCN, có các hình thức sau:
- KCN nhằm thu hút đầu tư nước ngoài thường tập trung ở các
Thành phố lớn, các trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Quy mô
thường lớn hơn 100 ha.
- KCN nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố,
đô thị lớn. Thường tập trung ở các Thành phố lớn, có quy mô
nhỏ hơn 100 ha. Vd: KCN Phú Thịnh (Hà Nội), KCN Thanh
Trì (Hà Nội)…
- KCN gắn với ưu thế địa phương, thường có quy mô nhỏ hơn
100 ha, gắn với lợi thế địa phương và chế biến các nông sản,
thực phẩm do địa phương đó sản xuất ra. Điển hình ở Việt Nam
có các khu: KCN Tiền Hải (Thái Bình), KCN Tâm Thắng (Đắc
Lắc)…
Phân theo đặc điểm ngành công nghiệp:
- KCN tập trung các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế
Nền kinh tế nước ta đang vận hành trong một hệ trục toạ độ mà chiến
lược CNH, HĐH chính là trục tung và hội nhập nền kinh tế toàn cầu là trục
hoành. Càng nhanh chóng CNH, HĐH đất nước thì càng sẵn sang hội nhập
nền kinh tế thế giới, hội nhập nhanh, chủ động và có lợi thế hơn. Mặt khác
càng hội nhập toàn cầu hoá sâu rộng thì càng có điều kiện thuận lợi để CNH,
HĐH nhanh, vững chắc và hiệu quả. Phát triển KCN là một giải pháp tổng
hợp, mang tính toàn diện để giải quyết đồng thời các yêu cầu về vốn, lao
động, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý, là con đường tối ưu để tiến tới
mục tiêu trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghã xã hội. Do đó, bằng
việc phát triển KCN, chúng ta có thể rút ngắn và đẩy nhanh tiến trình CNH,
HĐH.
Mặt khác, chúng ta đang thực hiện CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nên sự vận động của tất cả các thành phần
kinh tế trên các lĩnh vực của nền kinh tế không thể tách rời xu thế này. Đồng
thời, để nền kinh tế phát triển vững chắc, bên cạnh việc hội nhập kinh tế quốc
tế một cách chủ động, chung ta cần đảm bảo tính độc lập trong phát triển kinh
tế, có một đường lối phát triển riêng được xây dựng trên cơ sở điều kiện thực
tế của đất nước. Phát triển KCN có thể thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu
trên. Điều này được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất là KCN được hiểu là một vùng lãnh thổ đặc biệt có những
điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng sẵn có cùng với nhiều chính sách ưu đãi
đầu tư được áp dụng. Đây sẽ là nơi đầu tư lý tưởng cho các nhà đầu tư, trong
đó có các nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngoài vào
KCN, các công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, trình độ quản lý của đội
ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các
chuẩn mực quốc tế sẽ được du nhập vào Việt Nam. Đây cũng chính là các
nhân tố góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực chất của toàn cầu hoá quá trình phân công lao động trên phạm vi quốc tế
theo hướng chuyên môn hoá và tập trung hoá. Phát triển KCN chính là một
cách để chúng ta tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế.
tế, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp quốc gia. Có thể nói thành công của các
KCN đã góp phần không nhỏ để các nước này trở thành những nước có nền
kinh tế phát triển như hiện nay. Các nước công nghiệp mới phát triển (NICs)
như Trung Quốc, Hàn Quốc cũng như các nước đang phát triển ở Đông Nam
Á hiện nay cũng đang triển khai việc xây dựng và phát triển các KCN, khu
kinh tế và đều gặt hái được những thành công đáng kể.
Tóm lại, thành công của KCN đã được khẳng định trên thế giới và bước
đầu được khẳng định ở Việt Nam, như một đòn bẩy quan trọng để đẩy nhanh
tién trình CNH, HĐH đất nước. KCN là nới tập trung các nguồn lực để phát
triển kinh tế, là nơi diễn ra sự phân công lao động xã hội ở trình độ cao, thực
hiện các mối liên kết kinh tế quốc tế. Phát triển KCN là phù hợp với xu thế
kinh tế thế giới, phù hợp với chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,
phát huy năng lực của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước của đảng
và nhà nước ta.
1.4.4.2. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam
Qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, các KCN đang từng bước thể hiện
rõ vai trò không thể thay thế của nó trong tiên trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. các KCN trong thời gian qua đã góp phần đáng kể vào việc hiện
đại hoá vào hệ thống kết cấu hạ tầng, thúc đẩy sự phát triển ngành công
nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Vai trò của KCN thể
hiện ở các khía cạnh sau:
a. KCN huy động một lực lượng vốn lớn từ nhiều nguồn để phát triển
kinh tế.
Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam cho thấy nhân ttó hàng đầu, nếu không nói
là quan trọng nhất đối với CNH, HĐH cũng như đối với sản xuất kinh doanh
của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Muốn cho sự nghiệp CNH, HĐH được tiến
hành với tốc đọ nhanh cần phải có cơ chế, chinh sách và biện pháp huy động
được nguồn vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất. KCN đi
liền với nó là một hệ thống các cơ chế chính sách thu hút đầu tư tương đối
đồng bộ, trong những năm qua đã huy động được một lượng vốn rất lớn cho
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Có được những đóng góp nêu trên phải kể tới vai trò to lớn của khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN. Cùng với dòng vốn của khu vực
có FDI vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư nước
ngoài còn đưa vào Việt Nam những dây truyền sản xuất với công nghệ tiên
tiến, hiện đại. Mặc dù nhiều công nghệ so với trình độ công nghệ trên thế giới
còn ở mức trung bình, nhưng cũng phần nào nâng cao trình độ công nghệ hiện
có của Việt Nam. Đó là chưa kể tới những dự án công nghiệp kỹ thuật cao
(phần lớn của Nhật Bản) đầu tư vào KCN, như Công ty TNHH Canon Việt
Nam, Mabuchi Motor, Orion Hanel…, các dự án này đã du nhập vào Việt
Nam những công nghệ hiện đại nhất trên thế giới, ở những lĩnh vực mà chúng
ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện
tử…
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công
nghiệp. Về mặt lượng, đương nhiên KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngành
công nghiệp trong tổng GDP của các ngành kinh tế tạo ra trong cả nước, tỷ
trọng giá trị sản xuất công nghiệp do các doanh nghiệp KCN tạo ra luông tăng
qua các năm, từ 13% năm 2000 lên 26,4% năm 2004 và năm 2005 đạt 28%.
Nhưng quan trọng hơn, về mặt chất, KCN đã thu hút được các dự án có hàm
lượng vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, dụng cụ văn
phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng… Mặc dù số lượng các dự án này
trong KCN còn ít (chiếm khoảng 5-10% số dự án), nhưng cũng góp phần phát
triển những ngành nghề mới, đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề công nghiệp.
Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ
như dệt may, dự án giày… và công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên
50% tổng số dự án), đây là dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ lệ xuất khẩu
cao. Các ngành công nghiêp nhẹ, chế biến thực phẩm là những ngành truyền
thống, đã có từ lâu ở nước ta, nhưng các dự án trong KCN đã góp phần nâng
cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, phải kể tới đóng góp của KCN vào nâng cao tỷ trọng các ngành