Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. - Pdf 28

Tài liệu ôn thi
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Đề 1:
Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền
ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
DÀN Ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG:
1. Đặt vấn đề:
- Giới thiệu truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”:
+ Xuất xứ.
+ Đặc điểm truyện.
- Giới thiệu nhân vật:
+ Cuộc đời.
+ Phẩm chất.
2. Giải quyết vấn đề :
a. Giới thiệu chung về nhân vật:
- Hiện thân cho mảng đời tăm tối cơ cực.
- Vẫn toát lên những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.
- Nhân vật quan trọng trong tác phẩm.
b. Phân tích nhân vật:
* Ngoại hình:
- Từ nhỏ đã có ngoại hình xấu xí, sau đó có mang với một anh con trai hàng chài, gã
chồng hiện thời lúc đó cục tính nhưng hiền lành.
- Qua năm tháng lam lũ, vất vả, lo toan nên nét xấu xí càng được thể hiện rõ….
* Sức chịu đựng và sự hi sinh thầm lặng :
- Vừa ở dưới thuyền lội lên, chị đã bị chồng đánh tới tấp.
- Bị chồng đánh đập dã man, chị hoàn toàn cam chịu, nhẫn nhục.
* Lòng tự trọng:
- Bị chồng đánh đập tàn nhẫn, chỉ cắn răng chịu đựng.
- Khi biết chuyện mình bị Phác và Phùng chứng kiến, cảm thấy đau đớn, xấu hổ,
nhục nhã; không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương hại, không muốn con trai chứng

+ Một người phụ nữ nghèo khổ, lam lũ
+ Nhưng có đức hi sinh cao cả, bao dung, nhân hậu và rất trải đời.
2. Giải quyết vấn đề :
a. Giới thiệu chung về nhân vật:
- Nhân vật người đàn bà hàng chài là hiện thân cho mảng đời tăm tối cơ cực vẫn tồn
Tài liệu ôn thi
tại quanh cuộc sống của chúng ta.
- Dù cuộc sống riêng có phải chịu trăm nỗi cơ cực, tủi nhưng ở chị vẫn toát lên những
vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam: tấm lòng nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và
đức hi sinh.
- Người đàn bà ấy không tên, tác giả chỉ gọi là "người đàn bà" một cách phiếm định.
Đó là một con người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác. Nhưng dõi theo
mạch của cốt truyện, người đọc thấy được rằng: số phận của con người ấy được tác giả
tập trung thể hiện và được người đọc quan tâm nhất.
- Như thế, người đàn bà hàng chài là một nhân vật quan trọng trong tác phẩm.
+ Chị có vai trò khá quan trọng trong sự phát triển cốt truyện, mạch truyện, trong mối
quan hệ với các nhân vật khác như Phùng, Đẩu, người chồng và chị em thằng bé Phác.
+ Nếu không có hình tượng của nhân vật này, người đọc cũng không thể nhận ra quan
điểm nghệ thuật và tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đối với con người và cuộc
sống.
b. Phân tích nhân vật:
* Ngoại hình:
- Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả, nhà ở phố huyện sống bằng nghệ buôn bán
bả lưới, nhưng ngay từ nhỏ chị đã có một ngoại hình xấu xí “Từ nhỏ tuổi tôi đã là một
đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”.
+ Cũng vì xấu xí, trong phố không ai lấy nên chị có mang với một anh con trai hàng
chài hay đến nhà chị mua bả về đan lưới.
+ Lúc ấy, gã chồng hiện thời của chị tuy cục tính nhưng hiền lành, không bao giờ
đánh đập chị tàn nhẫn như bây giờ.
- Những nét xấu xí, thô kệch ấy, qua bao nhiêu năm tháng lam lũ, vất vả, lo toan vì

chồng vũ phu. Khi ở toà án huyện, chính người phụ nữ ấy đã đem đến cho Phùng, Đẩu và
người đọc nhiều nhận thức thật mới mẻ.
- Được mời lên toà án để giải quyết việc gia đình, lúc đầu chị lúng túng, sợ sệt, rụt rè
nên “tìm đến một góc tường để ngồi”. Nhà văn đã dụng công nhấn mạnh vào sự thay đổi
ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài.:
+ Với chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng, lúc đầu chị “thưa gởi”, xưng “con” và đã có
lúc chắp tay vái lia lịa van xin: “Con lạy quý toà (…). Quý toà bắt tội con cũng được,
phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.
+ Nhưng khi lấy lại được sự tự tin, tâm thế đã thay đổi, người đàn bà ấy đột ngột
chuyển cách xưng hô: “Chị cảm ơn các chú, lòng các chú tốt, nhưng các chú đa có phải
là người làm ăn … cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ,
khó nhọc.”
- Và qua những lời giãi bày rất chân tình, rất có sức thuyết phục của chị, Đẩu, Phùng
và người đọc đã “vỡ ra” nhiều điều mà trước đây họ chưa biết về chị.
Tài liệu ôn thi
+ Các anh đã nhận ra đằng sau cái vẻ cam chịu, nhịn nhục, đáng thương là cả một tấm
lòng vị tha và giàu đức hi sinh của chị.
. Chị nói: “đám đàn bà ở thuyền chúng tôi … phải sống cho con chứ không thể sống
cho mình”. Chị đã chấp nhận sự đau khổ để hi sinh cho cuộc sống của đàn con.
. Nếu những người đàn bà ở các thuyền chài khác chấp nhận người đàn ông uống rượu,
thì chị cũng chấp nhận bị đánh, có điều chị chỉ xin chồng đánh ở trên bờ để các con đừng
nhìn thấy.
 Đó là một cách ứng xử rất nhân bản. Chị không muốn gieo vào lòng các con thái
độ căm thù đối với cha của chúng.
+ Đẩu và Phùng cũng nhận ra được lí do chị không thể bỏ chồng.
Lời giải thích của chị thật có lí, điều đó chứng tỏ chị không phải là một người nhu
nhược, hèn nhát mà là một người phụ nữ sâu sắc và từng trải.
Chị đã cho các anh biết: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người
đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sấp con mà
nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Chị nhận thức được cuộc sống trên biển: nghề biển

định những phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo khổ.
Dù trong cảnh đói nghèo. Lạc hậu, người phụ nữ vùng biển vẫn bộc lộ một tấm lòng
và một tính cách đầy nữ tính.
- Qua hình tương nhân vật người đàn bà hàng chài này, ta cũng cảm nhận được tấm
lòng nhân đạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu:
+ Đó là cái nhìn yêu thương, thông cảm về số phận bất hạnh của con người;
+ Đó là việc phát hiện và khẳng định những phẩm chất cao đẹp của họ;
+ Đó còn là niềm khao khát có một chỗ dựa tinh thần, một cuộc sống no ấm bình yên,
môt niềm hạnh phúc gia đình bình dị.
- Cũng qua hình tượng nhân vật người đàn bà, ta nhận ra quan điểm sáng tác của
Nguyễn Minh Châu rất sâu sắc, nhiều chiều về con người và cuộc sống. Ông nhận thấy
cuộc sống này có cả ánh sáng và bóng tối, nước mặt và nụ cười, bề nổi và bề chìm.
- Cuộc đời người đàn bà hàng chài còn nhiều ngang trái, khổ đau nhưng ta vẫ cảm
nhận được cái nhìn thật nhân hậu của nhà văn đối với con người và cuộc sống.

Đề 2:
Phân tích sự biến đổi trong nhận thức của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng về
người đàn bà hàng chài để làm rõ quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn
Minh Châu trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
1. Đặt vấn đề: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm
1980:
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn nổi tiếng thời chống Mĩ cứu nước.
Tài liệu ôn thi
+ Đề tài sáng tác chủ yếu của ông trước 1980 là đề tài về chiến tranh với nhân vật
trung tâm là hình tượng người lính thời chống Mĩ anh dũng hay những cô thanh niên
xung phong gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì nhiệm vụ trên tuyến đường Trường
Sơn ác liệt.
+ Quan điểm sáng tác của ông thời kì này là ca ngợi con người Việt Nam thời chống
Mĩ cứu nước.
+ Điều này đã được thể hiện qua những tác phẩm mang đậm tính sử thi và cảm hứng

- Phát hiện ấy làm cho người nghệ sĩ cảm thấy thật xúc động
+ “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” .
+ Anh chợt nhận ra đó là cái “khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.
+ Điều đó cho thấy: Người nghệ sĩ chân chính luôn gắn bó với cuộc đời để tìm vẻ đẹp
của nghệ thuật và khi phát hiện được một nét đẹp về nghệ thuật, họ cảm thấy hạnh phúc
tột đỉnh và cảm nhận được “bản thân của cái đẹp chính là đạo đức”, cái đẹp chân chính
có tác dụng thanh lọc tâm hồn.
b. Phát hiện thứ hai: Cuộc sống của gia đình hàng chài – một hiện thực nghiệt
ngã đến xót xa về số phận con người.
- Phát hiện thứ hai của người nghệ sĩ nhiếp ảnh thật bất ngờ và trớ trêu như một trò
đùa quái ác của cuộc sống.
- Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy lần lượt bước ra:
+ Một người đàn bà “trạc ngoài bốn mươi”, với những “đường nét thô kệch”, “rỗ
mặt”, “khuôn mặt mệt mỏi”, “tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá”, “cặp mắt nhìn
xuống chân”, tay “buông thõng xuống” ra vẻ nhẫn nhục, cam chịu.
+ Một người đàn ông đi sau, “lưng rộng và cong như một chiếc thuyền”, “mái tóc tổ
quạ”, “chân đi chữ bát”, “hàng lông mày cháy nắng rủ xuống”, “hai con mắt đầy vẻ
độc dữ”.
+ Lão đàn ông đưa vợ lên bờ với dáng điệu “hùng hổ, mặt đỏ gay”, rồi “rút trong
người ra chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa” và “chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn
giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”,
vừa đánh “vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két” và nguyền rủa bằng cái
giọng rên rỉ, đau đớn “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
- Trước tình cảnh ấy, nghệ sĩ Phùng có thái độ kinh ngạc đến sững sờ, “cứ há mồm ra
mà nhìn”, sau đó “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới” để cứu người đàn bà.
+ Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác đã lao tới để bảo vệ mẹ nó.
+ Nó giật chiếc thắt lưng từ tay người cha rồi đánh trả lại ông để bảo vệ mẹ nó.
+ Người cha đã dùng hết sức lực của mình tát nó “ngã dúi xuống cát” rồi lẳng lặng
trở về thuyền.
- Ba hôm sau, cảnh người đàn ông đánh vợ lại tái diễn.

- Sau buổi nói chuyện với người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện, nhận thức của Đẩu
và Phùng có nhiều thay đổi:
+ Với Đẩu, anh đã vỡ ra nhiều nghịch lí của cuộc sống: lòng tốt là đáng quý nhưng
chưa đủ, luật pháp là cần thiết nhưng phải đi vào đời sống, muốn con người thoát khỏi
cảnh đau khổ cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải li dị.
Tài liệu ôn thi
+ Với Phùng, anh nhận ra một điều vô cùng thấm thía của một người nghệ sĩ làm nghệ
thuật, đó là:
* Đừng vì nghệ thuật mà quên đi cuộc đời, bởi “nghệ thuật chân chính luôn là cuộc
đời và vì cuộc đời”. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một
con người biết yêu ghét, vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một
cuộc sống xứng đáng với con người. Chính vì vậy mà Phùng đã xông ra buộc người đàn
ông chấm dứt hành động độc ác với người vợ của hắn. Anh đã suy nghĩ rất nhiều về gia
đình người đàn bà hàng chài, đã cùng với Đẩu tìm cách giải quyết những bất công ngang
trái trong gia đình của chị.
* Người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản, cần phải nhìn nhận cuộc sống
và con người trong mối quan hệ đa dạng, nhiều chiều thì mới phản ánh đúng về con
người và cuộc sống.
3. Kết thúc vấn đề:
- “Chiếc thuyền ngoài xa” là một hình ảnh ẩn dụ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và
cuộc đời: nghệ thuật phải gắn bó với cuộc đời, phải đi sâu vào cuộc đời chứ không thể
nhìn nó một cách hời hợt bên ngoài, hay nhìn nó “ngoài xa”. Ở xa thì nhìn thấy nó rất
đẹp, nhưng khi đến gần, hoặc đi sâu vào bên trong mới phát hiện biết bao điều oái oăm,
ngang trái.
- Từ đó, tác giả muốn gởi gắm quan điểm nghệ thuật của mình: người nghệ sĩ không
thể nhìn đời một cách đơn giản, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa
dạng, nhiều chiều.

Tài liệu ôn thi
Đề 3:

Tài liệu ôn thi
+ “khuôn mặt mệt mỏi”, “tấm lưng áo bạc thếch và rách rưới”, “cặp mắt nhìn xuống
chân”, “tay buông thõng xuống”, ra vẻ người nhẫn nhục, cam chịu.
- Hơn thế nữa, nhà văn còn muốn bênh vực cho chị, không muốn chọ bị chồng đánh
đập tàn nhẫn.
+ Vì vậy, trong tác phẩm, ít nhất hai lần tác giả đã để cho Phùng xông ra bênh vực cho
chị đến nỗi anh phải bị thương.
+ Chúng ta có thể hiểu, nghệ sĩ Phùng cũng chính là hóa thân của nhà văn trong tác
phẩm, là nhân vật mà nhà văn Nguyễn Minh Châu gửi gắm nhiều suy nghĩ và hành động
của mình.
- Nhà văn cũng cảm thông với tình cảnh của người chồng vũ phu:
+ Cũng chính vì cuộc sống quá nghèo khổ lại phải lao động vất vả để nuôi cả một gia
đình đông con nên “anh con trai cục tính những hiền lành”, không bao giờ biết đánh vợ
xưa kia, giờ đã trở thành một người chồng vũ phu thường xuyên đánh vợ tàn nhẫn “ba
ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”.
+ Có thể nói người đàn ông hàng chài thô bạo ấy là nạn nhân của cuộc sống đói nghèo,
lam lũ. Lão lầm lì đánh vợ như một thói quen để giải tỏa tâm lí và nỗi khổ triền miên của
đời mình.
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phê phán mạnh mẽ hành động vũ phu của
người chồng.
+ Ông muốn giúp người đọc thấy rõ tình trạng bạo lực trong gia đình như một mảng
tối còn tồn tại trong xã hội ta những năm tám mươi của thế kỉ hai mươi.
+ Thông qua hình ảnh người chồng thường xuyên đánh vợ tàn nhẫn, tác giả đã báo
động với mọi người về một hiện tượng nhức nhối của xã hội.
+ Đâu đó trong cuộc sống chung quanh ta vẫn còn sự lộng hành của cái xấu, cái ác.
+ Gióng lên một hồi chuông báo động về cái ác, Nguyễn Minh Châu muốn đấu
tranh cho cái thiện được tồn tại. Đó chính là một trong những biểu hiện về giá trị nhân
đạo của tác phẩm.
b. Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn đứng về cái đẹp, cái thiện. Đi tìm, phát
hiện, ca ngợi, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người, đó là biểu hiện

cho chồng, đó là một tấm lòng vị tha rất đáng trân trọng ở chị.
Đối với con, chị là người mẹ giàu đức hi sinh. Chị nói: “đàn bà ở thuyền chúng tôi
phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Chị đã chấp nhận sự khổ đau để hi
sinh cho cuộc sống của đàn con.
Chị chấp nhận bị chồng đánh, có điều chỉ xin chồng đánh ở trên bờ để các con đừng
nhìn thấy. Đó là một cách ứng xử rất nhân bản. Chị không muốn con chị chứng kiến
xấu có thể làm hủy hoại nhân cách của chúng và chị cũng không muốn gieo vào lòng các
con thái độ căm thù đối với cha của chúng.
Tài liệu ôn thi
- Tác giả còn giúp ta nhận ra lí do chị không thể bỏ chồng thật có lí, điều đó chứng tỏ
chị không phải là mọt con người phụ nữ nông nổi, thiếu nghĩ suy, nhu nhược, hèn nhát,
mà là người phụ nữ thật sâu sắc và từng trải, biết suy nghĩ, cân nhắc cho từng hành
động của mình.
+ Chị cho biết: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn
ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sấp con mà nhà
nào cũng trên dưới chục đứa”.
+ Nguyễn Minh Châu còn giúp ta cảm nhận được những khát vọng hạnh phúc trong
lòng người đàn bà hàng chài nghèo khổ này.
Trong đau khổ triền miên, chị hết sức trân trọng những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi.
Phải yêu thương con người lắm nhà văn mới chú ý đến từng chuyển biến nhỏ trên
gương mặt của chị khi nói về hạnh phúc. Nhà văn cho ta biết, khi nói về hạnh phúc, “lần
đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí” của chị “chợt ửng sáng lên như một nụ cười”.
Chị nói: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no” và “cũng có lúc
vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
- Có thể nói người đàn bà hàng chài là biểu tượng cho tình mẫu tử, biểu tượng cho
khát vọng hạnh phúc gia đình.
+ Thông qua suy nghĩ của chị về gia đình và hạnh phúc, tác giả đã giúp ta hiểu ra được
một gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên, cho dù trong gia đình ấy còn
nhiều cảnh ngang trái, khổ đau, nhưng chị vẫn nâng niu trân trọng từng chút hạnh phúc
nhỏ nhoi mà mình có được.

III. Kết thúc vấn đề:
- Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu có một giá trị
nhân đạo sâu sắc. Giá trị nhân đạo ấy thể hiện trên nhiều phương diện.
+ Đó là cái nhìn yêu thương, cảm thông của nhà văn về số phận bất hạnh của con
người.
+ Đó là việc phát hiện và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của những con người
lao động nghèo khổ.
+ Đó còn là thái độ lên án nạn bạo hành trong gia đình để mọi người cùng đấu tranh
chống lại hiện tượng tiêu cực này, cùng phấn đấu hướng tới việc xây dựng cuộc sống gia
đình hạnh phúc.
- Giá trị nhân đạo trong tác phẩm này còn thể hiện ngay trong quan điểm nghệ thuật
thật tiến bộ của ông: “Nghệ thuật chân chính phải gắn với cuộc và vì cuộc đời, vì con
người”.

Tài liệu ôn thi
Đề 4: Phân tích hình thượng người đàn bà làng chài trong truyện ngắn “Chiếc
thuyền ngoài xa”?
Mở bài:
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại
ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài - người phụ nữ vô danh
với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta
không thể nào quên.
Thân bài:
Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc đáo và từ
tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận: Truyện được kể lại qua lời của
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau
thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh
biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh
biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời
cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi

dưới thuyền. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh: “có nhiều
tháng biển động phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Gia đình nghèo lại còn đông
con, thuyền thì chật,
+ Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền
lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh
vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba
ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị
ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông
nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ". “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ
con của ông ta. Họ là những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận
của chị.
+ Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà
coi đó là một lẽ đương nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn đánh chị thì đưa chị
lên bờ để đánh vì chị không muốn để những đứa con nhìn thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. - Vì
đâu chị lại chịu đựng và cam chịu như vậy ?
+ Chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp
nhận, không kêu van, không trốn chạy. Vì chị rất thấu hiểu lẽ đời. Chị hiểu cơ cực của
cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông. trong cuộc mưu sinh đầy cam go:
Tài liệu ôn thi
thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề “Mong các chú cách
mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn
ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng
trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi
khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con
chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”.
+ Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là anh con
trai hiền lành nhưng cục tính, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng quẫn lão chồng mới
sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị tha của chị. Chị không hề oán
trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông và vị tha. Chị là người có đức hi sinh cao
thượng.

qua những tiểu thuyết như: Cửa sông, Dấu chân người lính cùng khá nhiều truyện ngắn
được đánh giá là những thành công của văn xuôi chống Mĩ. Hồi ấy, chắc không ít người
từng nghĩ rằng: ông như con tằm đã nhả hết tơ trong thời chiến nên chuyển sang thời bình
tất yếu sẽ "giảm phong độ".
Nhưng những tác phẩm được viết từ sau 1975 và nhất là từ thời kỳ đổi mới của
Nguyễn Minh Châu đã chứng tỏ ở ông vẫn còn một vốn viết rất sung mãn. Ông đã đem
đến cho văn đàn sau chiến tranh những khám mới về con người, những suy tư về thế sự
và đó hình như mới đúng là Nguyễn Minh Châu. Không phải vô cớ mà Nguyên Ngọc coi
ông là "người mở đường tinh anh và tài năng" thời kỳ đổi mới. Chỉ cần viện dẫn truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng đủ thấy Nguyên Ngọc không quá lời.
Khi được đưa vào chương trình ngữ văn 12 mới, thay thế cho Mảnh trăng cuối
rừng, nhiều giáo viên văn tỏ ra nuối tiếc thiên diễm tình lãng mạn giữa bom đạn Trường
Sơn. Cùng với tâm lí ấy là sự cảm thấy khó khăn khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật
của Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm này quả thực không dễ dàng tiếp nhận vì nó là
tiếng nói đa thanh, đa nghĩa; nó đặt ra rất những vấn đề bức xúc, phức tạp của thế sự
nhưng lại giải quyết trong vỏn vẹn khuôn khổ một truyện ngắn. Để hiểu tác phẩm này, có
thể bắt đầu từ tình huống truyện. Đó là tình huống của những nghịch lí.
Nghịch lí thứ nhất là sự kiện nhân vật Phùng - nghệ sĩ nhiếp ảnh được trưởng
phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh về cảnh biển buổi sáng có sương mù để bổ sung
xuất bản bộ lịch. Phùng đến vùng biển từng là bãi chiến trường cũ thời chống Mĩ. Sau
một tuần lễ kiên nhẫn chờ đợi, người nghệ sĩ đã gặp "một cảnh "đắt" trời cho". Đó là
tuyệt tác của tạo hóa đẹp như "một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ". Bằng
Tài liệu ôn thi
con mắt nhạy cảm nhà nghề, Phùng phát hiện ra một sự hài hòa, thơ mộng đến tuyệt diệu
của cảnh biển buổi sáng. Trên cái phông nền mờ nhòe của sương sớm có pha chút màu
hồng dịu của bình minh, có những bóng người trên thuyền im phắc được nhìn qua những
mắt lưới. Phát hiện ra vẻ đẹp "thực đơn giản và toàn bích" đó, tâm tư của Phùng không
chỉ tràn đầy những rung cảm thẩm mĩ mà còn như được thanh lọc để trở nên trong sáng
hơn. Trong lúc tâm hồn thăng hoa bởi cái đẹp, anh nghiệm thấy đúng như ai đó đã phát
hiện ra "bản thân cái đẹp chính là đạo đức". Vì đứng trước thế giới ấy - thế giới mà

vô tư, trách nhiệm của một nhà chấp pháp, Đẩu đã mời người đàn bà đến vì mục đích giải
thoát cho chị ta. Nhưng cả Đẩu và Phùng đều không ngờ rằng, người đàn bà từ chối một
cách quyết liệt thiện chí giúp đỡ của Phùng và Đẩu. Theo lời chị ta thì "quý tòa bắt tội
con cũng được, phạt tù con cũng được" nhưng "đừng bắt con bỏ nó"!
Điều gì làm nên cách ứng xử ("lấy cam chịu làm đầu") của người đàn bà qua
những nghịch lí ấy?
Người đàn bà cam chịu anh chồng vũ phu thô bạo bởi chị ta hiểu chồng và ít nhiều
có sự biết ơn. Biết ơn bởi lúc nhỏ chị ta đã là một "đứa con gái xấu, lại rỗ mặt", "trong
phố không ai lấy" và vì thế việc gã đàn ông làng chài trở thành chồng đối với chị cũng là
một sự hàm ơn. Trong những lời kể về cuộc đời dằng dặc những nhọc nhằn của mình,
người đàn bà không hề tỏ ra oán chồng. Chị ta hiểu chồng mình bản chất không phải là
kẻ độc ác. Trước kia anh ta "hiền lành lắm" và không bao giờ đánh đập vợ. Chỉ khi đối
mặt với sự nghèo túng, phải gánh cả một gia đình đông con lão ta mới tha hóa. Nói về
chồng mình, người đàn bà tỏ ra rất vị tha. Chị ta cho rằng, việc người đàn ông đánh vợ
không phải lỗi ở hắn mà là ở mình. Nghĩa là do "đẻ nhiều quá" mà cuộc sống chật vật,
căng thẳng khiến "cứ lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh".
Lí do thứ hai khiến người đàn bà cam chịu là tình thương với con cái. Vì thương
con mà chị ta tìm mọi cách nhằm vẫn chấp nhận để cho chồng giải tỏa bằng đánh đập mà
vẫn không làm tổn thương đến con. Bản tính người mẹ đã tạo cho người đàn bà một sự
chịu đựng khủng khiếp. Đọc chiếc thuyền ngoài xa, lắm lúc tôi cứ băn khoăn một lẽ,
chẳng biết cái đức hi sinh, nhẫn nhịn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam - Cái
phẩm chất mà từ ca dao, đến ông Tú rồi biết bao áng thơ văn hiện đại hết lời ca ngợi ấy là
ưu hay nhược điểm? Là đáng tự hào hay không nên quá tự hào? Vì không muốn để con
biết là mình bị đánh nên chị ta chỉ dám cầu xin một "ân huệ" - xin chồng đưa mình lên bờ
để đánh. Trong những đứa con đông đúc của mình, chị ta thương nhất thằng Phác nên đã
gửi nó lên theo ông ngoại trên đất liền. Gửi thằng bé lên đó không chỉ vì tránh cho tâm
hồn non nớt của nó bị tổn thương mà quan trọng hơn là để nó khỏi làm điều gì dại dột với
bố. Thế nên, khi để thằng Phác chứng kiến mình bị đánh đập, khi thằng Phác bất chấp
tình cha con để bênh vực mẹ, người đàn bà đã không thể chịu đựng nổi nỗi đau. Tình
thương con đã biến chị từ chỗ tỏ ra không có cảm giác đau đớn thân xác đã trở nên yếu

bạo".
Đúng là cái đức hi sinh từ ngàn đời của người phụ nữ Việt đã di truyền cho người
đàn bà này sức chịu đựng khủng khiếp và cùng với sự chịu đựng ấy là một nỗi khổ ải kỳ
cục. Người chồng cũng khổ nhưng còn được giải tỏa bằng việc đánh vợ. Thằng Phác
cũng khổ nhưng còn có chỗ che chở là ông ngoại. Người đàn bà dân chài này khổ còn vì
không biết giải tỏa bằng cách nào, không thể và không muốn chia sẻ cùng ai. Khổ đến
mức, chỉ được chồng chiếu cố cho một ân huệ là được lên bờ chịu đòn mà cũng như một
Tài liệu ôn thi
cái ơn. Tất nhiên, không phải chị ta không hạnh phúc nhưng đó là hạnh phúc tội nghiệp -
hạnh phúc khi đôi lúc nhìn lũ con được ăn no. Như vậy, người đàn bà vùng biển này cũng
như cô Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng, đều là kiểu "hạt ngọc ẩn" mà Nguyễn Minh
Châu cả đời tìm kiếm. Có điều, cô Nguyệt trong Mảnh Trăng cuối rừng là mẫu hình lí
tưởng chỉ để mơ ước, để ngắm nhìn chứ không có thực còn người đàn bà vùng biển trong
tác phẩm này thì hiện lên từ những lấm lem bụi đời. Chị ta là "hạt ngọc ẩn" bởi lẽ đằng
sau cái vẻ ngỡ như thô vụng, thậm chí u tối, người đàn bà này không phải không có
những suy nghĩ sắc sảo, sâu xa. Và "hạt ngọc ẩn" ấy chỉ thực sự hiển lộ khi buộc phải bộc
lộ mình.
Hé mở dần bản chất của người đàn bà vùng biến, thiên truyện đã đặt ra những vấn
đề có ý nghĩa xã hội bức thiết. Ý nghĩa ấy trước hết được gửi vào Đầu. Anh là chánh án
tòa án thông hiểu luật pháp lại sẵn có lòng hào hiệp cứu người nhưng lại thiếu hiểu biết
thực tế. Trong suy nghĩ đơn giản của Đẩu chỉ cần giúp người đàn bà li hôn, trừng phạt lão
đàn ông vũ phu kia là sẽ đem lại lẽ công bằng. Nhưng nếu giả sử buộc phải li hôn, người
đàn bà sẽ sống như thế nào với sóng gió biển cả và nhất là phải nhìn cảnh lũ con bị chia
sẻ "có bố thì không có mẹ, có mẹ thì không có bố". Bài học đặt ra từ mâu thuẫn này là:
muốn cải tạo cuộc sống phải căn cứ vào thực tế cuộc sống làm cho cuộc sống "dễ thở"
hơn chứ không phải chỉ đem sách vở mà áp đặt vào cuộc sống. Nếu chỉ biết đem sách vở
mà áp vào cuộc sống thì chánh án Đẩu có khác nào một thứ Rôbốt, có khi vô tình trở
thành kẻ hành động phản nhân văn mà chính mình không ý thức được. Người đàn ông
đánh vợ, về lí là có tội nhưng nếu xét từ hoàn cảnh sống thì chính anh ta cũng là nạn nhân
chứ không chỉ là phạm nhân. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả sáng tạo chi tiết Phùng

Nghĩa là theo sự giao việc của trưởng phòng - mà như thế không thể gọi là sáng tạo. Bản
thân từ sáng tạo đã bao hàm một cái gì của riêng mình, từ chính mình, là chống lại công
thức Trong hoàn cảnh thời đại, khi cái nhìn giản đơn về con người và cuộc sống còn
ngự trị trong sáng tác văn học thì tác phẩm này đặt ra một vấn đề liên quan đến sự sống
còn của nghệ thuật Việt Nam sau chiến tranh. Đó là cách nhìn con người và cuộc đời.
Người nghệ sĩ - theo nhà văn - phải nhìn cuộc đời bằng đôi mắt toàn diện, phải thấy được
những phức tạp của cuộc sống chứ không thể nhìn cuộc sống một cách dễ dãi, xuôi chiều.
Đó không chỉ là tâm nguyện của riêng Nguyễn Minh Châu mà là của cả một lớp văn nghệ
sĩ thời kỳ Đổi mới.
Còn nhớ hồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao viết truyện ngắn Đôi mắt
phê phán lối sống ích kỉ, suy nghĩ lạc lõng của văn sĩ Hoàng, ca ngợi Độ, tức là ca ngợi
mẫu hình văn nghệ sĩ từ bỏ cái cao siêu, cá nhân trong nghệ thuật, tự nguyện dùng nghệ
thuật để tuyên truyền, vận động Cách mạng góp phần giải phóng dân tộc. Khi dùng nghệ
thuật để tuyên truyền thì tất yếu nghệ thuật phải tìm đến lối thể hiện đơn giản (vì lực
lượng cách mạng chính là quần chúng nhân dân trong những năm 40 -50 của thế kỷ
trước). Tư tưởng ấy ngỡ mâu thuẫn mà lại thống nhất với Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu. Thống nhất ở chỗ Nam Cao đặt ra vấn đề "đôi mắt" của người nghệ
Tài liệu ôn thi
sĩ trong thời chiến còn Nguyễn Minh Châu thì trăn trở về cách nhìn con người và cuộc
đời trong thời bình. Thời chiến, mọi vấn đề thuộc về cá nhân phải tạm gạt bỏ, mọi nỗi
đau phải nén lại để lấy tinh thần đánh giặc nhưng thời bình văn chương không thể không
quan tâm đến số phận cá nhân, không thể không thâm nhập đến tận cùng những góc tối,
góc khuất của con người và cuộc đời. Bởi có như vậy mới khơi dậy được ở con người
những tình cảm nhân văn và mới làm nên sự sống của nghệ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status