MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN - Pdf 28

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG
THỜI KÌ HÔN NHÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
 Thời kì hôn nhân
Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng. Theo
pháp luật Việt Nam thì thời kì hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn
đến ngày chấm dứt hôn nhân1. Tuy nhiên từ các qui định của Nghị quyết số
35/2000/NQ-QH10 có thể suy ra hai trường hợp đặc biệt mà thời kì hôn nhân
được tính theo cách khác, đó là trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập
trước ngày 3/1/1987 mà không đăng kí kết hôn, trường hợp quan hệ vợ chồng
được xác lập trong khoảng thời gian từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà
đăng kí kết hôn trong khoảng từ ngày 1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 (thời kì
hôn nhân được tính từ ngày quan hệ vợ chồng thực tế được xác lập đến ngày
chấm dứt hôn nhân)2.
 Tài sản chung
Tài sản chung là tài sản thuộc sở hữu của nhiều chủ sở hữu. Tuy nhiên
khái niệm tài sản chung được đề cập ở đây chỉ là tài sản thuộc sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng, tức là tài sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng mà với
tài sản đó phần quyền sở hữu của mỗi người không được xác định.
 Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không được định nghĩa
trong các văn bản pháp luật, có lẽ nhà làm luật cho rằng cụm từ chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân đã đủ để phản ánh khái niệm đó. Theo người
viết có thể tạm định nghĩa: chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là việc
1 Khoản 7 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
2 TS. Nguyễn Văn Cừ, Thời kì hôn nhân - căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, Tạp chí
Tòa án nhân
dân tháng 12 - 2006 (số 23), tr. 7 - 13.
- 6 -

c ă n c ứ l àm chấ m d ứ t s ở h ữ u c h u n g.
- 7 -
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân hoàn toàn không làm ảnh
hưởng tới quan hệ nhân thân của vợ chồng. Sau khi chia tài sản chung, quan
hệ vợ chồng vẫn tồn tại trước pháp luật, do đó vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng như chung thủy yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, tôn
trọng giữ gìn danh dự, nhân phẩm uy tín cho nhau, tôn trọng tự do tín ngưỡng
tôn giáo của nhau … điều này khác hẳn với chế định li thân ở một số nước.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp để loại
bỏ các mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản. Tài
sản chung của vợ chồng theo qui định pháp luật phải được quản lí theo sự
nhất trí của hai người, định đoạt theo sự thỏa thuận của hai người mà hai
người thì không phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản lí của nhau,
bằng lòng về cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn sẽ có
mâu thuẫn phát sinh, mâu thuẫn đó khiến cho việc dịch chuyển tài sản bị
chậm lại, có khi bị ngừng lại gây bất lợi cho kinh tế gia đình. Còn việc định
đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân thì không cần có sự nhất trí, sự bằng lòng
của nhau, chính vì vậy mà việc chia tài sản chung sẽ là một giải pháp để loại
bỏ các mâu thuẫn trong quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản.
Việc chia tài sản chung là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có tuổi vì
lí do nào đó mà có mẫu thuẫn sâu sắc về tình cảm, nhưng lại không dám ra
tòa li hôn do sợ điều tiếng của dư luận, sợ mất hòa khí gia đình, sợ con cái lo
buồn, sợ hàng xóm chê cười. Qui định này tạo điều kiện cho họ được có tài
sản riêng để sống độc lập, tránh đối mặt với các mâu thuẫn.
2
Qui định về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đánh dấu
sự chuyển mình theo thời đại của các qui định pháp luật về quyền sở hữu tài
sản của vợ chồng. Việt Nam trong một thời gian dài tồn tại dựa vào nền kinh

chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được cho chung”5. Luật không qui định rằng những tài sản mà vợ chồng
5 Xem điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
- 9 -
thỏa thuận là tài sản chung thì cũng thuộc khối tài sản chung nhưng lại qui
định "đối với tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế
riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có
quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”6 và việc
nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng được thực hiện theo
3
qui định của Nghị định số 45-HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động
của công chứng nhà nước7.
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kì hôn nhân
khi có lí do chính đáng và có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên. Chỉ có
một cách thức chia duy nhất là quyết định của tòa án. Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 1986 không dự liệu các lí do chính đáng nên việc đánh giá lí do
chính đáng hoàn toàn phụ thuộc vào tòa án (Nghị quyết hướng dẫn Luật Hôn
nhân và Gia đình có nêu một trường hợp được coi là lí do chính đáng đó là vợ
chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn li hôn mà
chỉ muốn ở riêng8). Nguyên tắc chia giống như chia tài sản trong một vụ li
hôn9. Luật cũng không hề dự liệu về hậu quả pháp lí về tài sản sau khi chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân và các văn bản dưới luật cũng không hướng
dẫn vấn đề này. Vấn đề nhập lại tài sản riêng có được do chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân cũng không được qui định trong luật, mà luật cũng chỉ
qui định về việc nhập hay không nhập các tài sản có trước khi kết hôn, tài sản
được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân10.
Xuất phát từ tình hình năm 1986 đất nước ta đang bước vào thời kì đổi
mới, nên mọi qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chưa được
cụ thể. Hơn nữa với tình hình thời đó thì không có một vụ án nào về chia tài

phép vợ chồng được thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản bên cạnh việc
chia tài sản chung bằng quyết định của tòa án.
Luật đã dự liệu về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân, và theo qui định về tài sản chung thì vợ chồng cũng có thể nhập lại tài
sản đã được chia vào khối tài sản chung theo căn cứ xác lập tài sản chung là thỏa
thuận của vợ chồng.
Vấn đề qui định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân sẽ
được làm rõ hơn ở chương 2.
1.3. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH TƯƠNG TỰ TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
Do sự khác nhau về nền văn hóa và các điều kiện kinh tế, chính trị
những hình thức có thể coi là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ở một
11 Theo thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình (thống kê theo báo cáo của các
tòa sơ thẩm
trong cả nước) thì trong thời gian từ năm 1987 đến hết quí 3 năm 2004 chưa hề có vụ án chia tài
sản chung
trong thời kì hôn nhân nào được thụ lí - tài liệu từ Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhân dân tối
cao.
- 11 -
số nước có sự khác nhau nhất định với Việt Nam. Sau đây xin được điểm qua
một số hình thức tương tự chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
1.3.1. Chế định chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Bộ
luật Dân sự và Thương mại Thái Lan12
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai
phương thức: theo hôn ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo qui
định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó không
được công nhận.
Theo qui định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng
sẽ phát sinh quan hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:
 Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân.

quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây
nguy hại cho họ17
Sau khi chia tài sản chung thì phần tài sản chia cho mỗi bên cợ chồng trở
thành tài sản riêng của họ. Bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc chồng có được sau
khi chia sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi là tài sản chung.
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trở thành tài sản
riêng chia đều cho mỗi bên. Hoa lợi thu được từ tài sản riêng của người nào
thuộc sở hữu của người đó18.
Chế độ tài sản chung chỉ được tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của
vợ, chồng và khi các lí do chia tài sản chung đã hết.
1.3.2. Một loại hậu hôn ước (postnuptial agreement) ở Hoa Kì19
Ở Hoa Kì chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản ước định, luật
pháp chỉ can thiệp vào việc qui định tài sản của vợ chồng khi họ không lập
hôn ước hay còn gọi là khế ước tiền hôn nhân (prenuptial agreement) và việc
qui định về tài sản của vợ chồng ở mỗi bang lại có sự khác nhau. Tuy nhiên
pháp luật Hoa Kì cũng cho phép các cặp vợ chồng được lập hậu hôn ước
(postnuptial agreement) một loại khế ước được lập sau khi kết hôn nhưng
trước khi li hôn để qui định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
15 Xem điều 1484 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
16 Xem điều 1491 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
17 Xem điều 1598: 1598/17 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
18 Xem điều 1492 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
6
19Dr. Ronald B. Standler, Prenuptial and postnuptial contract law in the USA, page 18.
- 13 -
Có ba kiểu hậu hôn ước:
 Hậu hôn ước qui ước về tài sản của vợ chồng khi xảy ra cái chết của
một người, như vậy thì người còn sống sẽ không phải nhận tài sản từ di chúc
hay từ qui định của pháp luật về thừa kế.
 Hậu hôn ước qui ước về những tranh chấp khi li hôn và tránh việc

Tuy nhiên Luật Hôn nhân (sửa đổi năm 2001) có qui định cho vợ chồng
qui ước để những tài sản trên không còn là tài sản chung nữa. Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể qui ước những tài sản có được trong thời gian
quan hệ hôn nhân còn duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở
hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ
phận.
7
Qui ước được ghi lại bằng văn bản. Nếu không có quy ước hoặc quy ước
không rõ ràng, áp dụng thích hợp theo qui định của điều 17 và 18 luật này.
Qui ước về những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân
đang được duy trì và những tài sản trước hôn nhân, có sức ràng buộc đối với
cả hai phía”.
Theo qui định đó thì vợ chồng hoàn toàn có thể thương lượng với nhau
về vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Việc qui ước này phải
được lập thành văn bản, văn bản này có thể được công chứng21. Nếu không có
bản thỏa thuận này hoặc bản thỏa thuận này không rõ ràng thì mới áp dụng
thích hợp theo điều 17 và điều 18 (qui định về tài sản chung và tài sản riêng
của vợ chồng) 22.
21 Điều 11 luật Công chứng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có qui định về cơ cấu công chứng
việc phân
chia tài sản.
22 Điều 18: Với một trong những tình hình dưới đây, tài sản thuộc về một bên vợ hoặc chồng:
1, tài sản của một bên trước hôn nhân
2, một bên vì thân thể có thương tích có được phí chữa trị, phí trợ cấp cuộc sống của người tàn
tật.
3, những tài sản mà trong di chúc hoặc văn bản hiến tặng xác định là chỉ thuộc về một bên vợ
hoặc
chồng.
4, những nhu yếu phẩm chuyên dùng của một bên
5, những tài sản khác mà cần thuộc về một bên.

 Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân
 Các thu nhập có tính ổn định
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước hết phải
kể đến các khoản thu nhập có tính chất ổn định của vợ, chồng như lương, lợi
nhuận do hoạt động kinh doanh mang lại, hoa lợi lợi tức có tính chất ổn định
như tiền do bán cây ăn quả lâu năm, tiền cho thuê nhà…Những thu nhập này
thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để đảm bảo cho cuộc sống chung
của gia đình. Theo điều 233 Bộ luật Dân sự thì người lao động, người tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh có quyền sở hữu đối với tài sản tạo ra
đó23, nhưng theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản đó được qui định là
thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Theo điều 235 Bộ luật Dân sự thì “chủ sở
hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả
thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi
tức đó” như vậy có thể thấy nếu tài sản gốc là tài sản chung thì hoa lợi lợi tức
tất nhiên sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu tài sản gốc là tài sản
riêng của một người thì hoa lợi lợi tức phát sinh trong trường hợp này cũng
thuộc khối tài sản chung theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
 Các thu nhập có tính chất bất thường
Một số thu nhập có tính chất bất thường, sự phát sinh ra nó là bất thường
hoặc có thể là bất ngờ với chủ sở hữu. Các thu nhập này có thể là do trúng xổ
số, trúng thưởng, được hưởng các loại khuyến mại bất ngờ, hoặc cũng có thể
là lợi tức bất thường: cổ phiếu đột ngột lên giá... Trong các trường hợp này
chỉ cần quyền sở hữu đối với chủ sở hữu (vợ hoặc chồng hoặc cả hai) được
xác lập thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Ví dụ một người mua xổ số
trước ngày kết hôn, sau khi kết hôn thì có kết quả và trúng số độc đắc, số tiền
thưởng sẽ là tài sản chung của vợ chồng.
23 Đ i ều 233. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất,
kinh doanh
hợp pháp
Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối

đã thuộc tài sản chung, các trường hợp đào được, nhặt được… có thể coi như
là một trường hợp của thu nhập bất thường của vợ chồng. Đối với các trường
24 Cách chia giữa tài sản tạo ra và thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân chỉ là tương đối, và
đây chỉ là
cách chia của người viết, trong Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 thì các tài
sản này được
coi là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng.
- 18 -
hợp này, chỉ cần quyền sở hữu thuộc về một trong hai người trong thời kì hôn
nhân thì đó đương nhiên là tài sản chung.
Ví dụ 1: Một người bắt được một con bò bị lạc, sau khi đã báo cho ủy
ban nhân dân xã nơi cư trú để thông báo rộng rãi cho chủ sở hữu biết mà nhận
lại. Ba tháng sau người đó kết hôn, ba tháng sau nữa là hết thời hạn sáu tháng
không có ai đến nhận bò, con bò là tài sản chung của vợ chồng.25
Ví dụ 2: Một người mua một bức tượng bằng vàng chiếm hữu công khai,
liên tục, nhưng không biết đó là đồ ăn trộm, 9 năm sau người đó kết hôn, một
năm sau khi kết hôn, bức tượng bằng vàng sẽ thuộc sở hữu chung của vợ
chồng chứ không phải là tài sản riêng của một người như trong trường hợp nó
10
không phải là đồ ăn trộm26.
 Tài sản có được theo thỏa thuận dưới dạng các hợp đồng, mua bán,
vay mượn… đối với các chủ sở hữu khác
Với các trường hợp này, dù tiền dùng để mua, tài sản dùng để trao đổi,
tài sản dùng để thế chấp cầm cố... là tài sản riêng hay chung thì những tài sản
mua được, đổi được, vay được....có được thông qua sự thỏa thuận này cũng
thuộc khối tài sản chung. Theo qui định pháp luật thì việc định đoạt tài sản
chung của vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận, dễ nhận thấy một điều như
sau: một căn nhà thuộc sở hữu riêng của anh chồng, trong trường hợp nó
không phải là có giá trị lớn so với tổng số tài sản của hai vợ chồng, anh chồng
có thể tự do định đoạt, có thể cho, tặng bất cứ ai tùy ý, vì đó là tài sản riêng

cha mẹ...) thì tùy từng trường hợp có thể coi đây tài sản riêng của mỗi người,
hoặc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần dân sự của hai người, chứ không
11
thể coi là thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
 Tặng cho chung
Cũng như trường hợp thừa kế, nếu như người có tài sản tặng cho thể
hiện rõ là tặng cho chung vợ chồng mà không hề phân biệt phần quyền của
mỗi người đối với tài sản tặng cho thì tài sản đó mới được coi là sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng.
 Các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Do tôn trọng ý chí của vợ chồng, xuất phát từ thực tế cuộc sống là cần
phải có tài sản chung để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, xuất phát từ sự gắn
bó tình cảm vợ chồng, từ quan niệm không phân biệt “của anh của tôi” vợ
- 20 -
chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung và
Luật Hôn nhân và Gia đình cũng qui định nó là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản chung do thỏa thuận này có thể là tài sản riêng có được trước khi kết
hôn, cũng có thể là tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, cũng có thể là
tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Với những tài sản là
là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn hoặc những tài
sản là tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì việc thỏa
thuận này phải được lập thành văn bản, có chữ kí của cả vợ và chồng, một số
trường hợp pháp luật qui định thì văn bản đó phải được công chứng chứng
thực. Việc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm trốn tránh các
nghĩa vụ về tài sản thì sẽ bị vô hiệu.28
 Một số trường hợp đặc biệt
 Quyền sử dụng đất có được trong thời kì hôn nhân
Theo khoản 1 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002, “Quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa

bán tài sản để mua tài sản mới thì tài sản mới cũng thuộc tài sản chung); nếu
khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm
sút do bị thiệt hại về sức khỏe thì đó rõ ràng là tài sản chung giống như thu
nhập hợp pháp vậy; nếu như trong trường hợp khoản tiền bồi thường là để lo
cho chi phí thuốc thang… thì đó cũng có thể coi là tài sản chung bởi thực tế
thì khối tài sản chung phải ứng trước để lo chi trả cho thuốc thang và bởi vì
cũng có thể coi đây là nhu cầu thiết yếu của gia đình; tuy nhiên trường hợp
khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm thì
sao? Theo đúng qui định của luật thì nó là tài sản chung, nhưng lí giải nó như
thế nào? Có lẽ chỉ còn cách lí giải duy nhất là khi vợ chồng gắn bó với nhau
thì coi nhau như một, mọi sự tổn hại về tinh thần của người này cũng là tổn
hại về tinh thần, danh dự của người kia, nên tài sản bồi thường là tài sản
chung.
 Tài sản trí tuệ
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tất cả các tài sản, thu
nhập hợp pháp được tạo ra trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ
30 Xem khoản 1 điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- 22 -
chồng. Tuy nhiên với tài sản trí tuệ thì lại khác mặc dù nó cũng là một loại tài
sản dưới dạng quyền tài sản. Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình, người
ta chỉ có thể thể hiện quyền sở hữu với nó thông qua các quyền tài sản. Quyền
sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công
nghiệp, quyền sở hữu đối với giống cây trồng31 trong đó có các quyền tài sản.
Các chủ sở hữu đối với ba loại quyền trên đã được chỉ rõ trong Luật Sở hữu
trí tuệ. Cụ thể: chủ sở hữu quyền tác giả chỉ bao gồm tác giả (người trực tiếp
sáng tạo ra tác phẩm), đồng tác giả, tổ chức cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả
hoặc kí kết hợp đồng với tác giả, người thừa kế; người được tác giả trao
quyền theo hợp đồng, Nhà nước32; chủ sở hữu quyền liên quan chỉ có thể là
những cá nhân, tổ chức đã được qui định cụ thể trong điều 44 Luật Sở hữu trí
tuệ; chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được qui định rõ trong điều

trong thời kì hôn nhân mà phải đền bù thì đều coi là tài sản chung. Có lẽ là
do tính cộng đồng của hôn nhân nên mọi thứ của hai vợ chồng lúc đó đều là
của nhau. Chính vì vậy mọi thứ vợ chồng bỏ ra trong thời kì hôn nhân đều
được coi là của chung, và thứ có được nhờ nó cũng phải được coi là của
chung. Vậy nên lương, tiền thưởng, lợi nhuận do sản xuất kinh doanh và các
thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung.
Những tài sản nào mà không đủ chứng cứ chứng minh là tài sản riêng
thì là tài sản chung. Nguyên tắc này được ghi nhận trong khoản 3 điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình 2000. Theo các qui định của luật thì ta thấy khối
tài sản chung bao giờ cũng có xu hướng thu hút các khối tài sản khác. Chính
vì thế mà tất cả những tài sản nào không đủ chứng cứ là tài sản riêng thì đều
được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Tất cả những điều trên là “do tính cộng đồng của hôn nhân và mục đích
của quan hệ vợ chồng được xác lập, khi dự liệu chế độ tài sản giữa vợ chồng,
14
Luật Hôn nhân và Gia đình đã thực hiện cách thức điều chỉnh đặc biệt để qui
định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; những đặc điểm riêng biệt
33 Xem thêm về “Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chòng trong pháp luật” - TS. Nguyễn
Văn Cừ , Chế
độ tài sản của vợ chồng theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, phần IV chương I,
NXB Tư
pháp,2008.
- 24 -
của sở hữu chung hợp nhất giữa vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không
nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra một cách trực tiếp, chỉ cần vợ, chồng
tạo ra được trong thời kì hôn nhân; không xác định được tỉ lệ (kỉ phần) từ
trước của vợ, chồng đối với tài sản chung; đặc biệt, vợ, chồng bình đẳng khi
thực hiện quyền sở hữu, không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên
vợ, chồng trong quá trình tạo lập tài sản chung...”34
2.2. NGƯỜI YÊU CẦU CHIA

chồng không hề có mâu thuẫn gì thì chắc họ sẽ tự nguyện dùng khối tài sản
chung để thanh toán chứ không chia tài sản chung. Theo người viết thì cơ chế
để thực hiện quyền yêu cầu của người thứ ba như sau: người thứ ba có quyền
yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, thậm chí được kê
biên tài sản riêng của người đó; nếu tài sản riêng không đủ thì người này có
thể yêu cầu vợ chồng bằng cách nào đó để có tài sản thực hiện nghĩa vụ đối
với mình; nếu không được thì người này có quyền yêu cầu vợ chồng thỏa
thuận chia tài sản chung để người kia có tài sản thanh toán cho mình, thậm chí
được tham gia vào việc chia tài sản chung đó; nếu cả ba người không thể thỏa
thuận được thì người thứ ba này có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung
của vợ chồng họ để một người có tài sản thực hiện nghĩa vụ với mình37.
2.3. ĐIỀU KIỆN CHIA
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì điều kiện để có thể
chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là phải có lí do chính đáng, hiện tại
luật đã dự liệu hai trường hợp cụ thể được coi là có lí do chính đáng đó là
trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng và trường hợp vợ chồng thực
hiện nghĩa vụ dân sự riêng, ngoài ra luật vẫn để dự trù các trường hợp có lí do
chính đáng khác.
2.3.1. Đầu tư kinh doanh riêng
Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó
xác định, theo người viết thì hoạt động đầu tư kinh doanh riêng là hoạt động
nhằm sinh lợi, do một người (vợ hoặc chồng) bỏ vốn ra để thực hiện một
37 Có ý kiến cho rằng trong trường hợp này quyền khởi kiện của người thứ ba không được thừa
nhận. ThS.
Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo
pháp Luật Hôn
nhân và Gia đình hiện hành, Tạp chí Luật học số 5 năm 2003, tr. 26-29
- 26 -
trong các công đoạn của quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung cấp dịch vụ trên thị trường38.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status