TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG - Pdf 28

Khoa Sư Phạm Tâm Lý Học Đại Cương
Tác giả: Trần Thị Diễm Thuý Biên mục: sdms
Giới thiệu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Người biên soạn
TRẦN THỊ DIỄM THÚY
Phần I: Tâm lý học đại cương
Bài 1: Tâm lý học là một khoa học
I. ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÝ HỌC:
1. Tâm lý học là gì?
Tâm lý học là khoa học nghiên cứu tâm lý. Khoa học tâm lý ra đời từ năm 1879, chủ yếu nghiên cứu đời sống tâm hồn
của con người.
2. Đối tượng của tâm lý học:
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là toàn bộ đời sống tâm lý của con người như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng
tượng, trí nhớ, tình cảm, nhu cầu, hứng thú, năng lực, khí chất, tính cách…
II. BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI:
1.Tâm lý có bản chất phản ánh: Tâm lý là hình ảnh của từng người về hiện thực khách quan.
Tất cả các hiện tượng tâm lý, từ những hiện tượng tâm lý đơn giản đến những thuộc tính, phẩm chất phức tạp của nhân
cách con người đều tồn tại ở trong não dưới dạng hình ảnh này hay hình ảnh khác với mức độ phức tạp khác nhau. Điều
kiện đầu tiên để có các hình ảnh đó là phải có các hiện tượng, sự vật khách quan của thế giới bên ngoài tác động tới các
giác quan và não bộ bình thường của con người.
Tâm lý mang tính chủ quan của từng người. Tâm lý là phản ánh tồn tại khách quan, nhưng sự phản ánh tâm lý không
máy móc, nguyên xi như phản ánh cơ học, mà tâm lý là tổng hoà các hình ảnh chủ quan ( hình ảnh tâm lý) về tồn tại
khách quan.
2. Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lý.
Để tồn tại và phát triển, thế hệ trước đã truyền đạt kinh nghiệm xã hội- lịch sử cho thế hệ sau. Thế hệ sau tiếp thu những
kinh nghiệm và sáng tạo nên những giá trị vật chất, tinh thần mới. Qua đó tâm lý con người được hình thành và phát triển
Con người tiếp thu nền văn minh nhân loại và biến thành tâm lý của bản thân. Tâm lý mỗi người có cái chung của loài
người, của dân tộc, của vùng, của địa phương nhưng cũng có cái riêng của mỗi con người cụ thể.
Như vậy, mỗi người có một đời sống tâm lý riêng, một tâm hồn riêng. Tâm lý mỗi người là kinh nghiệm xã hội- lịch sử

vậy, giáo viên phải hiểu biết thế giới tâm hồn trẻ thơ. Người giáo viên mầm non cần học tâm lý học để hiểu biết các đặc
điểm tâm lý, nhân cách của trẻ, từ đó định hướng đúng để đề ra phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý của
từng trẻ.
Bài 2: Ý thức và vô thức
I. Ý THỨC:
1.Khái niệm:
Ý thức là một hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có. Đó là khả năng con người hiểu được các
tri thức (hiểu biết) mà người đó đã tiếp thu được.
Có thể ví ý thức như “ cặp mắt thứ hai” soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do “cặp mắt thứ nhất“ (cảm giác, tri giác,
trí nhớ, tư duy, cảm xúc…) mang lại. Với ý nghĩa đó có thể nói: Ý thức là tồn tại được nhận thức.
2. Đặc điểm của ý thức:
• Các hiện tượng tâm lý có ý thức của một người đều được người đó nhận thức. Nghĩa là, con người biết rõ mình
đang làm gì, nghĩ gì, hiểu rõ hành vi của bản thân đúng hay sai, tốt hay xấu.
• Ý thức được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để nhận xét, đánh giá phân tích những hiện
tượng tâm lý của mình.
• Các hiện tượng tâm lý có ý thức của một người thường bao hàm thái độ ít nhiều rõ rệt của người ấy.
• Ở mức độ cao, ý thức thường được kèm theo sự dự kiến trước, tính có chủ định… và nhờ đó mà dẫn tới hành
động.
3. Sự hình thành và phát triển ý thức:
• Khác với con vật, con người không chỉ thích ứng một cách thụ động với môi trường không chỉ lấy những gì có
sẵn trong thiên nhiên mà con người chủ yếu tác động làm biến đổi thiên nhiên để tạo ra những sản phẩm thoả mãn
nhu cầu của mình. Sở dĩ con người làm được như vậy là nhờ lao động. Lao động là một quá trình đòi hỏi con
người phải thấy trước kết quả lao động, có chương trình lao động, có phương pháp lao động, biết phân tích đánh
giá kết quả lao động. Làm như vậy, chính là ý thức. Như vậy ý thức ra đời trong lao động.
• Khi lao động cùng nhau, con người cần phải nói với nhau ý muốn của họ, xác định mục đích của cả nhóm, cùng
nhau bàn bạc… Nhờ đó làm nảy sinh ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ con người gọi tên sự vật, hiện tượng, đánh giá
hành vi, hành động của mình hay của cả nhóm. Như vậy ngôn ngữ là một yếu tố hình thành nên ý thức.
• Lao động là một dạng hoạt động tập thể. Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội. Vì vậy, ý thức ngay từ đầu là sản phẩm
của xã hội và luôn luôn là sản phẩm của xã hội. Cùng với lao động và ngôn ngữ, xã hội là yếu tố hình thành nên ý
thức.

Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức. Tự ý thức bắt đầu hình thành từ tuổi lên ba. Thông thường tự ý thức biểu
hiện ở các mặt sau:
• Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội.
• Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, đánh giá.
• Tự điều khiển, tự điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác.
• Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện
2. Vai trò của tự ý thức:
• Tự ý thức tạo điều kiện cho con người tự điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi, hành động của họ.
• Giúp con người xác định mục đích phù hợp, đánh giá mục đích hành động trong mối tương quan với những đặc
điểm của bản thân, lựa chọn các phương tiện, biện pháp hành động phù hợp với khả năng, nhu cầu của bản thân.
• Tự ý thức là điều kiện để con người trở thành chủ thể hành động độc lập, trở thành chủ thể của xã hội.
Bài 3: Hoạt động, giao tiếp và nhân cách
Hoạt động
1.Khái niệm về hoạt động:
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm tương ứng,
nhằm thoả mãn (trực tiếp hay gián tiếp ) nhu cầu của bản thân, nhóm và xã hội.
2. Cấu trúc của hoạt động:
Tất cả các hoạt động đều có một cấu trúc chung. Cấu trúc đó được nhà tâm lý học A.N Lêônchiev mô tả như sau:
• Động cơ của hoạt động là cái thúc đẩy con người hoạt động. Tuy nhiên động cơ không hình thành rõ ngay một
lúc. Động cơ thường hiện thân trong đối tượng, cùng biến động theo đối tượng, mà lộ rõ dần dần theo tiến trình
của hoạt động.
• Hoạt động hợp thành bởi các hành động như là các bộ phận của hoạt động. Cái mà hành động nhằm tới gọi là
mục đích. Có thể coi động cơ là mục đích chung, còn mục đích mà hành động nhằm tới là mục đích bộ phận. Có
thể coi mục đích chung là động cơ xa và mục đích bộ phận là động cơ gần.
• Hành động bao giờ cũng để giải quyết một nhiệm vụ nhằm đạt tới mục đích đề ra trong những điều kiện cụ thể
nhất định, tức là mục đích bộ phận phải được cụ thể hoá thêm một bước nữa, sự cụ thể hoá này được quy định bởi
những điều kiện cụ thể nơi diễn ra hành động. Nói cách khác là hành động của chủ thể phải hành động theo một
cách nào đó ứng với phương tiện tức là thao tác.
Những điều mô tả sơ lược trên đây có thể diễn đạt bởi sơ đồ sau:


3. Các loại giao tiếp:
Có nhiều cách phân loại giao tiếp:
a. Theo phương tiện giao tiếp, có thể có ba loại giao tiếp sau:
• Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với vật thể.
• Giao tiếp bằng tín hiệu: là loại giao tiếp bằng điệu bộ, cử chỉ, nét mặt…
• Giao tiếp bằng ngôn ngữ:đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người, xác lập và vận hành mối quan hệ
người – người trong xã hội.
b. Theo khoảng cách, có thể có hai loại giao tiếp cơ bản:
• Giao tiếp trực tiếp: giao tiếp mặt đối mặt, các chủ thể trực tiếp phát và nhận tín hiệu với nhau.
• Giao tiếp gián tiếp: qua thư từ, báo chí truyền hình…
c. Qua quy cách, người ta chia hai loại giao tiếp:
• Giao tiếp chính thức: giao tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách, quy định, thể chế.
• Giao tiếp không chính thức: giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau, không câu nệ thể thức, mà theo kiểu
thân tình, nhằm mục đích chính là thông cảm, đồng cảm với nhau.
Các loại quan hệ trên luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô cùng đa
dạng, phong phú.
Hành vi
1. Khái niệm hành vi:
Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng chỉ tiến hành hoạt động, hành động với ý thức, mục đích động cơ rõ
rệt, con người còn có những hành động mà sự tham gia của ý thức không rõ rệt hoặc không có ý thức tham gia. Đó là
những hành động bản năng và hành động tự động hoá. Những hành động này ta có thể gọi là hành vi.
Hành vi là toàn bộ những cử chỉ, phản ứng, thao tác trả lời đáp ứng những yêu cầu tác động của thế giới khách quan hoặc
do nhu cầu của con người.
2. Phân loại hành vi:
Theo lịch sử tiến hoá có ba loại hành vi:
a. Hành vi bản năng:
Bản năng là hành vi bẩm sinh, sản phẩm của sự phát triển chủng loại di truyền có cơ chế sinh lý là phản xạ không điều
kiện hoặc chuỗi phản xạ không điều kiện.
Bản năng xuất phát trực tiếp cơ thể và trực tiếp thoả mãn nhu cầu cơ thể. Nhờ bản năng, mỗi thế hệ không cần được huấn
luyện đặc biệt nào vẫn có thể làm được những cái tổ tiên đã làm.

Khi xem xét, đánh giá tính cách của trẻ, giáo viên cần chú đến từng nét tính cách trong mối quan hệ lẫn nhau.
Khí chất:
Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tiến độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý thể
hiện sắc thái của hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân.
Các kiểu khí chất:
• Kiểu khí chất linh hoạt: Những trẻ thuộc loại khí chất này thường năng động, linh hoạt, ham thích tìm tòi cái mới.
Các em thường nhạy cảm, vui vẻ, nhưng xúc cảm không bền vững, sâu sắc. Các em dễ tiếp xúc, dễ hoà nhập vào
nhóm bạn, dễ tiếp thu cái mới nhưng cũng dễ di chuyển chú ý, chóng quên, khó ngồi yên một chỗ. Nếu có
phương pháp giáo dục thích hợp thì trẻ sẽ hăng say học tập, có lòng vị tha, quan tâm bạn bè… ngược lại, nếu
phương pháp giáo dục không tốt trẻ sẽ dễ bị nhẹ dạ, nông nổi, vô tâm, không thực hiện công việc đến nơi đến
chốn…
• Kiểu khí chất bình thản: Trẻ thuộc loại này thường điềm tĩnh, chậm chạp, không hiếu động, khó quen với hoàn
cảnh mới. Trong vui chơi, sinh hoạt thường kiên trì, cố gắng hoàn thành công việc. Nếu biết động viên, lôi kéo trẻ
vào hoạt động của nhóm thì sẽ dễ hình thành những nét tính cách tốt như chuyên cần, kiên trì, chắc chắn. Ngược
lại sẽ dễ phát triển tính ỳ, thụ động, thờ ơ, lãnh đạm…
• Kiểu khí chất nóng nảy: Trẻ thuộc loại này thường dễ xúc động, hành động nhanh nhưng không bền vững. Xúc
cảm mạnh, dễ thay đổi, dễ cáu, tính tình nóng nảy. Nếu giáo viên nhẹ nhàng, tế nhị, không quát tháo, trẻ sẽ nhiệt
tình, hăng say, có sáng kiến. Ngược lại, trẻ dễ thô lỗ, cục cằn, dễ bị kích động.
• Kiểu khí chất ưu tư: Trẻ thuộc loại này các quá trình tâm lý diễn ra chậm chạp, khó đáp ứng với những kích thích
mạnh, kéo dài, khó thích nghi với môi trường mới. Trẻ dễ lo sợ, xúc cảm xuất hiện muộn nhưng sâu sắc, bền
vững. Nếu giáo viên tế nhị, luôn động viên, khuyến khích trẻ sẽ tạo cho trẻ tính kiên trì, tế nhị, nhạy cảm. Ngược
lại sẽ làm trẻ nhút nhát, xa lánh bạn bè.
Bốn kiểu khí chất trên không có kiểu nào là tốt và xấu, mỗi kiểu đều có mặt tích cực và tiêu cực. Dù trẻ thuộc bất kỳ kiểu
khí chất nào, ta đều có thể giáo dục, hình thành ở trẻ những nét tính cách tích cực, những phẩm chất tốt của nhân cách.
b. Xu hướng và năng lực:
Xu hướng:
Xu hướng xác định mục đích mà cá nhân hướng tới, xác định động cơ tương ứng với hoạt động của con người.
Các mặt biểu hiện của xu hướng:
• Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất
yếu mà cá nhân cần thoả mãn để tồn tại và phát triển.

I. KHÁI NIỆM VỀ CHÚ Ý:
1. Định nghĩa chú ý :
Chú ý là sự tập trung vào một hay một nhóm đối tượng, sự vật nào đó để định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần
kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có kết quả.
2. Vai trò của chú ý :
Chú ý là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động. Do tính chọn lọc của chú ý, nên nó giúp cho hoạt động tâm lý ở
người tập trung vào đối tượng này mà bỏ qua hoặc xao lãng đối tượng khác. Nhờ vậy, hoạt động tâm lý có ý thức hơn,
các hoạt động tập trung hơn, kết quả hoạt động sẽ cao hơn.
II. PHÂN LOẠI CHÚ Ý: Có 3 loại chú ý:
1. Chú ý không chủ định:
Là loại chú ý không có mục đích đặt ra trước, không cần sự nỗ lực của bản thân. Chú ý không chủ định chủ yếu do tác
động bên ngoài gây ra, phụ thuộc vào đặc điểm của vật kích thích như :
• Độ mới lạ của kích thích.
• Cường độ kích thích.
• Độ hấp dẫn của kích thích.
Loại kích thích này thường nhẹ nhàng, ít căng thẳng nhưng kém bền vững, khó duy trì lâu.
2. Chú ý có chủ định :
Là loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ lực của bản thân. Do đã xác định mục đích của hoạt động nên chủ
thể vẫn tập trung vào đối tượng hoạt động, vẫn tiến hành hoạt động không phụ thuộc vào các đặc điểm của kích thích.
3. Chú ý sau chủ định :
Là chú ý lúc đầu do mục đích định trước, về sao do hứng thú với hoạt động mà chú ý có chủ định đã phát triển đến mức
chủ thể không cần nỗ lực ý chí vẫn tập trung vào đối tượng hoạt động.
Loại chú ý này giúp cho hoạt động của con người giảm được căng thẳng thần kinh, giảm được tiêu hao năng lượng. Nó
bộc lộ ở trạng thái say sưa công việc của con người.
Bài 5: Ngôn ngữ
I. KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ:
Cần phân biệt khái niệm ngữ ngôn và ngôn ngữ.
1. Ngữ ngôn:
Ngữ ngôn là một thứ tiếng của một dân tộc. Ngữ ngôn bao gồm một hệ thống các ký hiệu, từ, ngữ và hệ thống các quy
tắc ngữ pháp. Ngữ ngôn là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học.

hiệu, tín hiệu, chữ viết.
2. Ngôn ngữ bên trong:
Đây là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ, nó hướng vào bản thân chủ thể. Ngôn ngữ bên trong là vỏ từ ngữ của tư duy, của
ý thức, giúp con người tự điều khiển, tự điều chỉnh mình. Ngôn ngữ bên trong có thể biểu hiện qua ngôn ngữ thầm không
phát ra âm thanh hoặc ngôn ngữ bên trong thực sự dành cho bản thân.
Bài 6: Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên bao gồm cảm giác và tri giác.
I. ĐỊNH NGHĨA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:
1. Cảm giác:
Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác
động vào giác quan.
2. Tri giác:
Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp
tác động vào các giác quan.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:
1. Đặc điểm của cảm giác:
• Là quá trình tâm lý, cảm giác có mở đầu, diễn biến, kết thúc một cách rõ ràng.
• Cảm giác chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác
quan riêng lẻ.
• Cảm giác xảy ra khi sự ,vật hiện tượng trực tiếp tác động lên giác quan.
• Cảm giác của con người mang bản chất xã hội.
2. Đặc điểm của tri giác:
• Tri giác là sự phản ánh thế giới một cách trọn vẹn, chỉnh thể.
• Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở các cảm giác, nhưng tri giác không phải là sự cộng lại đơn giản
của các cảm giác tạo thành, mà là sự tổng hợp các thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
• Trong quá trình tri giác có sự tham gia của vốn sống, kinh nghiệm, tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức năng tâm lý
khác.
III. PHÂN LOẠI CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:
1. Các loại cảm giác:
Có nhiều cách phân loại cảm giác, dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau. Nếu phân loại dựa trên vị trí của nguồn kích

chủ yếu của năng lực quan sát.
Quan sát là loại tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật hiện
tượng và những biến đổi của chúng. Năng lực quan sát của mỗi người một khác. Đó là khả năng tri giác nhanh chóng và
chính xác. Năng lực quan sát được hình thành trong cuộc sống, do hoạt động, do luyện tập tích cực và có phương pháp.
Bài 7: Trí nhớ
I. KHÁI NIỆM TRÍ NHỚ:
1. Trí nhớ là gì?
Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của con người dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ
gìn, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải qua.
2.Vai trò của trí nhớ:
Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người. Không có trí nhớ thì không có kinh
nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất cứ một hoạt động nào, không thể phát triển tâm lý, nhân cách con
người.
II. CÁC QUÁ TRÌNH CƠ BẢN CỦA TRÍ NHỚ:
1. Quá trình ghi nhớ:
Ghi nhớ là khâu đầu tiên của hoạt động trí nhớ. Đó là quá trình tạo nên dấu vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời cũng
là quá trình gắn tài liệu mới vào chuỗi kinh nghiệm đã có của bản thân.
Có nhiều hình thức ghi nhớ Căn cứ vào mục đích của ghi nhớ ta có thể có ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ
định.
• Ghi nhớ không chủ định: Là loại ghi nhớ không cần phải đặt ra mục đích ghi nhớ từ trước, không đòi hỏi phải nỗ
lực ý chí hoặc dùng một cách thức nào để ghi nhớ, tài liệu được ghi nhớ một cách tự nhiên.
• Ghi nhớ có chủ định: Là loại ghi nhớ theo một mục đích đã định từ trước, đòi hỏi nỗ lực ý chí, lựa chọn các biện
pháp, thủ thuật để ghi nhớ.
Có hai cách ghi nhớ có chủ định:
• Ghi nhớ máy móc: Là loại ghi nhớ dựa trên sự lặp đi lặp lại tài liệu nhiều lần một cách đơn giản, tạo ra mối liên
hệ bề ngoài giữa các phần của tài liệu cần ghi nhớ không cần hiểu nội dung tài liệu đó.
• Ghi nhớ ý nghĩa: Là loại ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu, trên sự nhận thức những mối liên hệ
lôgíc giữa các bộ phận của tài liệu đó.
2. Quá trình giữ gìn:
Là quá trình lưu giữ những thông tin đã ghi nhớ bằng cách củng cố những dấu vết đã hình thành trên vỏ não.

2. Đặc điểm của tư duy:
A. Tính có vấn đề của tư duy:
Khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của con người không
đủ để giải quyết, lúc đó con người rơi vào “ hoàn cảnh có vấn đề “. Khi đó con người phải tư duy.
B. Tính khái quát của tư duy:
Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật,
hiện tượng.
C. Tính gián tiếp của tư duy:
Trong tư duy, con người phản ánh thế giới một cách gián tiếp – phản ánh bằng ngôn ngữ.
D. Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Nhờ ngôn ngữ mà con người nhận thức được hoàn cảnh có vấn đề, đặt ra được vấn
đề cần giải quyết, nhờ ngôn ngữ mà con người tiến hành các thao tác tư duy. Sản phẩm của tư duy là các khái niệm, phán
đoán, suy nghĩ được biểu đạt bằng từ ngữ.
E. Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính:
Tư duy và nhận thức cảm tính có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong hoạt động nhận thức thống
nhất. Tư duy thường được bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh hoàn cảnh có vấn
đề. Trong quá trình diễn biến, tư duy phải sử dụng nguồn tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại. Ngược lại, tư duy và
những kết quả của nó chi phối khả năng phản ánh của cảm giác và tri giác làm cho khả năng cảm giác của con người tinh
vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa.
3. Các loại tư duy:
Có nhiều cách phân loại tư duy. Nếu xét về phương diện hình thành và phát triển tư duy thì có thể chia thành ba loại tư
duy:
• Tư duy trực quan - hành động là tư duy bằng các thao tác cụ thể tay chân, hướng vào việc giải quyết một số tình
huống cụ thể, trực quan.
• Tư duy trực quan - hình ảnh là loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh của sự vật, hiện tượng.
• Tư duy trừu tượng (tư duy ngôn ngữ – lôgíc) là loại tư duy phát triển ở mức cao nhất, chỉ có ở con người. Đó là
loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa trên các khái niệm, các mối quan hệ lôgíc và gắn bó chặt chẽ với ngôn
ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện.
Ba loại tư duy trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và chi phối Lẫn nhau, trong đó tư duy trực quan – hành
động, tư duy trực quan – hình ảnh là hai loại tư duy có trước, làm cơ sở cho tư duy trừu tượng.

2. Phân loại tưởng tượng:
Căn cứ vào mức độ của tưởng tượng có thể chia tưởng tượng thành tưởng tượng không chủ định và tưởng tượng có chủ
định.
• Tưởng tượng không chủ định: Là loại tưởng tượng không theo một mục đích trước.
• Tưởng tượng có chủ định: Là loại tưởng tượng theo một mục đích đặt ra từ trước, có kế hoạch và phương pháp
nhất định nhằm tạo ra hình ảnh mới.
Tưởng có chủ định thể hiện ở hai mức độ: Tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.
• Tưởng tượng tái tạo là quá trình tạo ra những hình ảnh mới đối với cá nhân người tưởng tượng, dựa trên sự mô tả
của người khác hoặc của sách vở, tài liệu…
• Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng nên những hình ảnh mới chưa có trong kinh nghiệm cá nhân, cũng
như chưa có trong xã hội.
• Ước mơ là một loại tưởng tượng đặc biệt của con người, loại tưởng tượng tổng quát hướng về tương lai, biểu hiện
những mong muốn, ước ao, gắn liền với nhu cầu của con người.
3. Các cách sáng tạo hình ảnh mới trong tưởng tượng:
Có nhiều cách sáng tạo hình ảnh mới bằng tưởng tượng:
• Tách từ một hình tượng trọn vẹn của một đối tượng có thực lấy ra một yếu tố, một thuộc tính nào đó tạo thành
một biểu tượng mới.
• Thay đổi kích thước, độ lớn, số lượng các thuộc tính, các thành phần của đối tượng… nhằm làm tăng lên hay
giảm đi hình dáng của nó so với hiện thực.
• Nhấn mạnh một tính chất, hoặc một bộ phận nào đó của đối tượng, hoặc gắn thêm cho tính chất đó những ý nghĩa
đặc biệt.
• Chắp ghép là cách tạo ra biểu tượng mới bằng cách chắp ghép một số bộ phận của các sự vật khác nhau.
• Liên hợp có nhiều mặt giống với chắp ghép, nhưng khi tham gia vào việc tạo ra một hình ảnh mới thì các yếu tố
ban đầu bị cải tổ đi.
• Điển hình hoá là phương pháp tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở tổng hợp sáng tạo của các thuộc tính điển
hình là cái đại diện cho hàng loạt đối tượng.
• Loại suy là cách tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở mô phỏng, bắt chước những chi tiết, những bộ phận, những
sự vật có thực.
Trên thực tế, trong quá trình tưởng tượng, các cách sáng tạo nói trên kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau làm cho phương
thức hoạt động tưởng tượng vô cùng phong phú và độc đáo.

hiện khác nhau là xúc động và tâm trạng.
Xúc động là một dạng xúc cảm có cường độ mạnh, xảy ra trong thời gian ngắn và có khi chủ thể không làm chủ được bản
thân. Tâm trạng là một trạng thái xúc cảm có cường độ vừa phải hoặc yếu, tồn tại trong một thời gian tương đối dài, ảnh
hưởng đến toàn bộ hành động của con người.
Say mê là một trạng thái tình cảm mạnh, lâu, sâu sắc và bền vững.
• Tình cảm là thái độ ổn định của con người đối với hiện thực, là một thuộc tính tâm lý bền vững của nhân cách.
b. Các loại tình cảm:
Có nhiều cách phân loại tình cảm, có thể phân chia tình cảm thành: tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao.
Tình cảm cấp thấp có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu có tính chất sinh vật, sinh lý và có tính
vật chất.
Tình cảm cấp cao có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu tinh thần. Tình cảm cấp cao bao gồm:
• Tình cảm đạo đức: biểu thị thái độ của con người đối với yêu cầu của đạo đức xã hội, , trong mối quan hệ đối với
những người khác, đối với tập thể, đối với trách nhiệm xã hội của bản thân.
• Tình cảm trí tuệ: biểu thị thái độ của con người đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các nhu cầu nhận thức. Tình cảm trí
tuệ bao gồm: sự ham hiểu biết, sự hoài nghi, sự hài lòng …
• Tình cảm thẩm mỹ: là thái độ rung cảm của con người đối với cái đẹp trong thiên nhiên, xã hội, trong nghệ thuật,
văn học.
• Tình cảm hành động thực tiễn: tình cảm này thể hiện thái độ của con người đối với hành động liên quan đến sự
thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu thực hiện hành động đó.
• Tình cảm mang tính chất thế giới quan: là mức độ cao nhất của tình cảm con người. Loại tình cảm này thường
được diễn đạt bằng các từ “tinh thần”, “ chủ nghĩa”…
Các loại tình cảm trên có mối quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau tạo nên sự phong phú của đời sống
tình cảm con người.
3. Các quy luật của đời sống tình cảm:
Cũng như mọi hiện tượng tâm lý của con người, tình cảm diễn ra theo quy luật của nó.
a. Quy luật thích ứng: Trong lĩnh vực tình cảm, nếu một tình cảm nào đó cứ lặp đi lặp lại nhiều lần một cách đơn điệu
thì một lúc nào đó có hiện tượng thích ứng mang tính chất “ chai dạn “ của tình cảm.
b. Quy luật cảm ứng: Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy yếu đi của một tình cảm
này có thể làm tăng hoặc giảm một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp với nó.
c. Quy luật pha trộn: Trong đời sống tình cảm của một con người cụ thể, nhiều khi hai tình cảm đối cực nhau có thể xảy

lường trước được, đòi hỏi phải nỗ lực ý chí để vượt qua nhằm thực hiện hành động đạt mục đích đã định.
• Giai đoạn đánh giá kết quả hành động: Khi kết thúc hành động con người đối chiếu kết quả với mục đích đã định.
Khi kết quả của hành động phù hợp với mô hình về mục đích của hành động thì hành động kết thúc.
Các giai đoạn trên có liên quan hữu cơ, tiếp nối nhau, là tiền đề của nhau.
3. Hành động tự động hoá (Kỹ xảo và thói quen):
a. Hành động tự động hoá là gì?
Hành động tự động hoá vốn là hành động có ý thức, có ý chí nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần, hoặc do luyện tập mà nó
trở thành tự động hoá, không cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà vẫn được thực hiện có kết quả.
Có hai loại hành động tự động hoá: Kỹ xảo và thói quen.
• Kỹ xảo: Là loại hành động có ý thức được tự động hoá nhờ luyện tập.
• Thói quen: Là loại hành động tự động hoá đã trở thành nhu cầu của con người.
b. Quy luật hình thành kỹ xảo:
Quá trình hình thành kỹ xảo diễn ra theo các quy luật sau đây:
• Quy luật tiến bộ không đồng đều. Nghĩa là:
Có loại kỹ xảo khi mới luyện tập thì tiến bộ rất nhanh, sau đó chậm lại.
Có những kỹ xảo khi bắt đầu luyện tập sự tiến bộ chậm, nhưng đến một giai đoạn nhất định nó lại tăng nhanh.
Có những trường hợp khi bắt đầu luyện tập thì sự tiến bộ tạm thời lùi lại, sau đó tăng dần.
• Quy luật “ đỉnh” của phương pháp luyện tập:
Mỗi phương pháp luyện tập kỹ xảo chỉ đem lại một kết quả cao nhất đối với nó, gọi là “ đỉnh “ của phương pháp đó.
• Quy luật về sự tác động qua lại giữa kỹ xảo cũ và kỹ xảo mới: Sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng:
o Kỹ xảo cũ ảnh hưởng tốt, có lợi cho việc hình thành kỹ xảo mới. Đó là sự di chuyển kỹ xảo (còn gọi là
“cộng” kỹ xảo).
o Kỹ xảo cũ ảnh hưởng xấu, gây trở ngại, khó khăn cho sự hình thành kỹ xảo mới. Đó là hiện tượng giao
thoa kỹ xảo.
• Quy luật dập tắt kỹ xảo:
Một kỹ xảo đã được hình thành nếu không luyện tập củng cố và sử dụng thường xuyên có thể bị suy yếu và cuối cùng bị
mất đi, đó là sự dập tắt kỹ xảo.
Phần III: Các chuyên đề
Chuyên đề 3: Tâm lý học giao tiếp
Giao tiếp là một dạng hoạt động đặc biệt của con người

o Đặc điểm cá nhân:
 Đặc điểm rõ nét nhất của ngôn ngữ nói về cá nhân là giọng điệu lời nói.
 Cách sử dụng từ trong câu nói.
 Ngữ pháp: để hiểu được lời nói, thì cấu trúc câu, hành vi ngôn ngữ nói phải tuân theo cấu trúc ngữ
pháp chuẩn tiếng Việt.
 Phong cách ngôn ngữ nói: là tổng thể những đặc điểm tâm lý cá nhân thể hiện qua giọng điệu, cách
phát âm, cách sử dụng từ…
• Đặc điểm ngôn ngữ viết:
Ngôn ngữ viết ra đời muộn trong quá trình phát triển loài người và cá thể. Nfgôn ngữ viết cũng có những đặc điểm xã hội
và cá nhân tương tự như ngôn ngữ nói. Nhưng khác biệt ở chỗ, ngôn ngữ viết được thể hiện bằng đường nét và các
khoảng cách của đường nét trong không gian. Đường nét không gian có những đặc điểm riêng cá nhân và chung của xã
hội được thể hiện qua ý và nghĩa của ngôn ngữ viết.
2. Hành vi, cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp:
Ngoài ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, cử chỉ, điệu bộ, tư thế, hành vi, ánh mắt, nụ cười là phương tiện giao tiếp sư phạm
thường xuyên giữa giáo viên và học sinh. Vận động của các bộ phận cơ thể và toàn bộ cơ thể mang nhiều thông tin,
nhưng nó chỉ mang ý nghĩa định hướng mà thiếu sự chính xác, rành mạch; vẫn một điệu bộ, cử chỉ ở tình huống, đối
tượng giao tiếp khác nhau nhưng lại mang nội dung biểu cảm khác nhau. Do vậy, sự vận động các bộ phận cơ thể và toàn
bộ cơ thể chỉ mang ý nghĩa làm nền, hỗ trợ, bổ sung hoặc làm chính xác thêm cho nội dung ngôn ngữ nói.
3. Trang phục trong giao tiếp:
Từ lâu trang phục, y phục đã được con người sử dụng trong giao tiếp. Trang phục trong giao tiếp thường được thể hiện
qua các đặc trưng:
• Kiểu ( môđen ): Giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, vị trí xã hội, dân tộc…
• Sắc mầu: Thay đổi theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, vị trí xã hội, dân tộc, cá nhân.
Một số hiện tượng tâm lý trong quá trình giao tiếp
1. Cảm giác và tri giác trong giao tiếp:
Sự giao tiếp đầu tiên giữa hai người bao giờ cũng bắt đầu từ những cảm giác và tri giác. Những cảm giác và tri giác về
nhau giữa hai người trong giao tiếp là quan trọng, vì chính những cảm giác đó, chính sự tri giác đó nó đưa ta đến một sự
đánh giá nhân cách của đối tượng giao tiếp, đánh giá trình độ văn hoá, thái độ, tình cảm của họ đối với ta.
Tuy nhiên cảm giác, tri giác là sự nhận thức cảm tính, sự nhận thức về những hiện tượng bên ngoài. Chỉ với những cảm
giác, tri giác mà đã vội kết luận về bản chất bên trong, về nhân cách thực sự của con người rồi đánh giá con người là tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status