Tài liệu lý thuyết về hợp đồng trong giao dịch dân sự - Pdf 28

Lí THUYT V HP NG
Lờ Mai Hng
1. Khỏi quỏt chung v h thng phỏp lut hp ng Vit Nam
Mt trong nhng c thự ca phỏp lut hp ng xó hi ch ngha Vit Nam l tri
qua nhiu giai on vi nhng nh hng khỏc nhau. im li lch s, cú th chia
thnh ba thi k sau: Thi k u tiờn c tớnh t trc cho ti ngy 30.6.1996, tc
l trc ngy B lut dõn s u tiờn cú hiu lc (sau õy gi l BLDS 1995). Thi
k th hai c tớnh t ngy 1.7.1996 n 31.12.2005, tc l khong thi gian BLDS
1995 cú hiu lc.Thi k th ba c ỏnh mc t ngy 1.1.2006, tc l t thi im
B lut dõn s sửa đổi cú hiu lc.
1.1Thi k trc 30.6.1996
Trong thi k ny, khỏc vi cỏc h thng phỏp lut trờn th gii, phỏp lut Vit Nam
cú truyn thng phõn bit hai loi hp ng dõn s v hp ng kinh t. S phõn bit
ny gn lin vi vic tn ti khỏi nim ngnh lut kinh t vi t cỏch l mt ngnh
lut c lp. Núi nh mt lut gia, õy l mt sn phm riờng cú ca ch ngha xó
hi
1
. Thc vy, trong nn kinh t k hoch hoỏ, quyn kinh doanh ch thuc v hai
loi ch th l cỏc cụng ty nh nc v cỏc hp tỏc xó (kinh t quc doanh v kinh t
tp th) cũn cỏc cỏ nhõn ch c phộp tham gia cỏc giao dch phc v mc ớch sinh
hot tiờu dựng. Mt khỏc, tớnh cht ti sn trong cỏc quan h kinh t chu s chi phi
ln ca yu t t chc k hoch n mc cỏc quan h kinh t khụng cũn mi liờn h
chung vi cỏc quan h dõn s na. iu ú khin cho nh lm lut thy rng cn phi
cú hai h thng phỏp lut hp ng kinh t v phỏp lut hp ng dõn s c lp
nhau. thi k ny, cú th k n hai vn bn phỏp lut chớnh v hp ng l Phỏp
lnh hp ng kinh t (sau õy gi l PLHKT) ban hnh nm 1989 v Phỏp lnh
hp ng dõn s ban hnh nm 1991. Ngoi ra, trc khi cú PLHKT, vic ký kt
hp ng kinh t da vo Ngh nh 54-CP ngy 10.3.1975 ban hnh iu l v ch
hp ng kinh t. Mc dự, k t nm 1986, Nh nc ch trng mt nn kinh t
nhiu thnh phn tc l tha nhn quyn kinh doanh ca cỏc ch th ngoi quc
doanh nhng vic phõn nh hp ng kinh t v hp ng dõn s vn l nguyờn tc

BLDS 1995 với các quy định về các loại hợp đồng khác như hợp đồng kinh tế, hợp
đồng trong lĩnh vực thương mại, hợp đồng lao động Đây là một quan hệ ngang bằng
hay là quan hệ chi phối ? Một số luật gia vẫn theo tư duy cũ coi hợp đồng dân sự và
hợp đồng kinh tế là hai lĩnh vực hoàn toàn độc lập
4
. Theo quan điểm này, luật kinh tế
chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động kinh doanh, vì vậy, cần những cơ
chế riêng mà luật dân sự không đáp ứng được như việc các giao dịch kinh tế đòi hỏi
phải được thực hiện nghiêm ngặt, các tranh chấp kinh tế phải được giải quyết nhanh
chóng, và quan trọng hơn, vẫn cần có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong một
số lĩnh vực kinh tế then chốt
5
. Hệ quả pháp lý của quan niệm này là việc thẩm phán từ
chối áp dụng các quy định của BLDS khi giải quyết các tranh chấp kinh tế.
Một số luật gia khác tuy không thừa nhận chế định hợp đồng dân sự là chế định gốc
nhưng chấp nhận việc “tham khảo” các quy định trong BLDS 1995 khi giải quyết các
tranh chấp kinh tế
6
. Kết quả của quan điểm này là thẩm phán có quyền áp dụng hoặc
từ chối áp dụng BLDS 1995 khi giải quyết các tranh chấp kinh tế.
Quan điểm thứ ba khẳng định BLDS 1995 đóng vai trò là luật chung, chi phối các luật
chuyên ngành khác
7
. Nói cách khác, các luật chuyên ngành không tồn tại độc lập mà
nằm trong mối liên hệ với luật chung là luật dân sự. Quan điểm này hoàn toàn có cơ
sở pháp lý. Rõ ràng, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm biến mất yếu tố kế
hoạch hoá của quan hệ kinh tế. Cho dù là giao dịch kinh tế hay giao dịch dân sự, thì
những giao dịch này đều được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa
thuận và tự chịu trách nhiệm. Vì lẽ đó, "trong việc điều chỉnh quan hệ tài sản giữa
các chủ thể bình đẳng, BLDS phải đóng vai trò là Bộ luật gốc quy định các nguyên

nên, ý nghĩa lớn nhất của sự phân biệt chỉ là ở việc xây dựng hệ thống cơ quan tài
phán chuyên biệt xét xử nhanh chóng các tranh chấp thương mại.
1.3 Thời kỳ từ 1.1.2006
Thời kỳ này được đánh dấu bằng sự ra đời của BLDS sửa đổi ngày 14.6.2005 (sau
đây gọi là BLDS) và Luật Thương mại 2005 (sau đây gọi là LTM). Việc Quốc hội
thông qua BLDS mới đã đặt dấu chấm hết cho tất cả các tranh cãi về mối quan hệ
giữa pháp luật dân sự và pháp luật kinh tế, khẳng định sự thắng thế của quan điểm thứ
ba trên đây. Điều 1 BLDS quy định rõ ràng rằng: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp
lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân
và gia đỡnh, kinh doanh, thương mại, lao động”. Như vậy, kể từ nay về sau, khái niệm
giao dịch dân sự không còn bị bó hẹp trong các giao dịch phục vụ mục đích sinh hoạt
tiêu dùng nữa mà nhằm chỉ tất cả các giao dịch có tính chất tư, trong đó có các giao
dịch kinh doanh thương mại hay lao động. Vì vậy, chế định hợp đồng dân sự trong
BLDS phải được coi là chế định gốc, có quan hệ chi phối các chế định hợp đồng
chuyên biệt khác. Nói cách khác, các nguyên tắc chung cho việc giao kết, thực hiện
hợp đồng trong BLDS phải được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không
phân biệt hợp đồng dân sự hay thương mại. Các đặc thù của quan hệ kinh doanh,
thương mại hay lao động, nếu có, sẽ được điều chỉnh bởi những chế định chuyên biệt.
Quan niệm này sẽ dẫn tới các hệ quả pháp lý sau:
- Đối với một tranh chấp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chuyên ngành
(thương mại, kinh doanh bảo hiểm, tín dụng, xây dựng…) thì sẽ áp dụng các quy
định của luật chuyên ngành theo quy tắc “cái riêng phủ định cái chung”…;
- Đối với những vấn đề luật chuyên ngành không quy định, sẽ áp dụng các quy định
của luật chung. Thực tế, có rất nhiều quy định vắng bóng trong LTM đã được quy
định chi tiết trong BLDS. Ví dụ, để xem xét hiệu lực của một giao dịch trong kinh
doanh, thương mại (chẳng hạn, hợp đồng mua bán hàng hoá giữa hai thương
nhân), phải nghiên cứu các điều luật của BLDS về giao dịch vô hiệu (các Điều từ
122 đến 138, Điều 410-411).
Cũng cần lưu ý, trong mối tương quan với BLDS, LTM được coi là luật chuyên

xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng. Chỉ
những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mới
tạo nên quan hệ hợp đồng. Trên thực tế, những thoả thuận mang tính cách là sự giúp
đỡ vô tư (ví dụ, cho đi nhờ xe) hay những thoả thuận mang tính cách xã giao (nhận lời
mời đi dự tiệc hay đi chơi…) đều không phải là hợp đồng
10
.
2.2 Phân loại hợp đồng
2.2.1 Phân loại theo BLDS
BLDS đưa ra một số cách phân loại sau:
(i) Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên, hợp đồng được
chia thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà cả hai bên đều có nghĩa vụ. Đặc trưng của loại hợp
đồng này là tính tương ứng giữa quyền của bên này và nghĩa vụ của bên kia. Ví dụ,
trong hợp đồng mua bán hàng hoá, quyền của bên bán là nhận tiền và nghĩa vụ của
bên bán là giao hàng, ngược lại, bên mua có nghĩa vụ trả tiền và có quyền nhận hàng.
Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ, còn bên kia không phải
thực hiện bất cứ nghĩa vụ gì, ví dụ như hợp đồng tặng cho tài sản.
9
LTM, Điều 1.
10
Phương Tây còn thừa nhận một trường hợp khác không tạo nên hợp đồng là những cam kết danh dự (les
engagements d’honneur hay gentlmen agreement). Trái với các thoả thuận mang tính xã giao, những cam kết
danh dự này có thể có nội dung giống như hợp đồng và cũng có động cơ kinh tế nhưng các bên cam kết thi hành
trên danh dự chứ không đem sự việc ra trước pháp luật.
4
(ii) Căn cứ vào tính phụ thuộc về hiệu lực, hợp đồng được chia thành hợp đồng
chính và hợp đồng phụ.
Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Ví dụ, các bên
có thể ký kết một hợp đồng khung về mua bán hàng hoá áp dụng cho một thời kỳ, sau

lợi ích nhưng không phải đền bù cho bên kia bất kỳ lợi ích nào, ví dụ như hợp đồng
tặng cho tài sản, hợp đồng mượn tài sản. Thông thường, đối với hợp đồng không có
đền bù, pháp luật sẽ bảo vệ bên cung cấp lợi ích hơn. Ví dụ, trong hợp đồng mượn tài
sản, pháp luật cho phép bên có tài sản được quyền lấy lại tài sản khi có nhu cầu cấp
bách và đột xuất ngay cả khi bên mượn chưa đạt được mục đích mà chỉ cần báo trước
một thời hạn hợp lý
12
.
3. Giao kết hợp đồng
3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng
3.1.1 Khái niệm hợp đồng
11
BLDS, Điều 410 khoản 2.
12
BLDS Điều 517 khoản 1.
5
Điều 390 khoản 1 BLDS định nghĩa: “đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với
bên đã được xác định cụ thể.” Như vậy, các yếu tố của đề nghị giao kết hợp đồng bao
gồm: (i) thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng; (ii) thể hiện ý chí của bên đề nghị muốn
được ràng buộc nếu bên kia chấp nhận nó; (iii) đề nghị phải được gửi tới đối tượng
xác định cụ thể.
Một đề nghị như thế nào được xem là thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng? Thông
thường, một đề nghị phải đủ cụ thể để cho phép hình thành hợp đồng khi được chấp
nhận. Luật pháp các nước thường quy định một đề nghị giao kết hợp đồng phải hàm
chứa tất cả các nội dung thiết yếu của hợp đồng dự định ký kết. Pháp luật không liệt
kê những nội dung được coi là nội dung thiết yếu của hợp đồng
13
vì vậy thẩm phán sẽ
căn cứ vào từng hoàn cảnh cụ thể và căn cứ vào bản chất của từng loại hợp đồng để

hàng hoá phải có 6 loại điều khoản trong đó có những điều khoản mà thông lệ thế giới không xem là điều khoản
chủ yếu, ví dụ như phương thức thanh toán, địa điểm giao hàng. Để tránh tình trạng này, BLDS đã không quy
định hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu mà tuỳ từng trường hợp các bên có thể thoả thuận về các nội dung
nêu tại Điều 402 Bộ luật này.
6
nhiên, đối với một đề nghị không nêu thời hạn trả lời thì người đề nghị có quyền rút
lại đề nghị chừng nào chưa nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
14
.
3.1.3 Thay đổi, rút lại, huỷ bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết
Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau đây:
(i) Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại
đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
(ii) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đÒ nghị phát sinh trong trường hợp bên
đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều
kiện đó phát sinh.
Bên đề nghị chỉ được huỷ bỏ đề nghị khi thoả mãn hai điều kiện sau:
(i) Đề nghị có nêu quyền được huỷ bỏ đề nghị
(ii) Bên đề nghị thông báo hủy bỏ đề nghị và bên nhận được đề nghị nhận
được thông báo trước khi bên này trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
(i) Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
(ii) Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
(iii) Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
(iv) Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
(v) Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời
hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
3.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo Điều 396, 397 BLDS, một trả lời được xem là chấp nhận giao kết hợp đồng có
hiệu lực khi:

Trong giao kết hợp đồng, có thể xảy ra hai trường hợp: giao kết trực tiếp giữa các bên
và giao kết giữa các bên vắng mặt thông qua việc gửi lời đề nghị giao kết hợp đồng và
trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Đối với giao kết trực tiếp, nếu các bên thỏa thuận
bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thoả thuận xong
về nội dung hợp đồng. Nếu các bên giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết là
thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
Nếu hợp đồng được giao kết giữa các bên vắng mặt, việc xác định thời điểm giao kết
sẽ phức tạp hơn: khi nào có sự thống nhất ý chí giữa các bên? Trên thế giới, tồn tại hai
thuyết về giao kết hợp đồng là thuyết tiếp nhận và thuyết gửi đi. Theo thuyết gửi đi,
hợp đồng được giao kết vào thời điểm người được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết.
Song thuyết này gây nhiều bất lợi cho bên đưa ra đề nghị khi bắt bên này phải chịu
ràng buộc với hợp đồng trong lúc họ chưa biết đích xác lời đề nghị của họ đã được
chấp nhận hay chưa, và hơn nữa, ngay cả trong trường hợp chấp nhận đến tay người
đề nghị chậm hơn thời hạn chờ trả lời thì hợp đồng vẫn được xem như ký kết rồi. Để
khắc phục những hạn chế này, thuyết tiếp nhận chủ trương hợp đồng chỉ hình thành
khi người đề nghị giao kết nhận được chấp nhận giao kết. Đây là thuyết được BLDS
chấp nhận.
Cần lưu ý, Điều 404 BLDS đã loại bỏ trường hợp hợp đồng giao kết vào thời điểm
các bên đã tuân thủ các hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Nghĩa là
ngay cả khi pháp luật quy định một hình thức nào đó là điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng thì hợp đồng vẫn được coi là giao kết khi các bên đã thoả thuận xong nội dung
(chủ yếu) của hợp đồng hoặc khi bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết hoặc khi
cả hai bên ký vào văn bản hợp đồng. Những bất hợp lý của quy định này sẽ được
phân tích dưới đây.
3.3.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
Luật pháp các nước quy định rằng, hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật
của các bên
17
. Vậy một khi hợp đồng đã được giao kết hợp pháp, hợp đồng có hiệu lực
pháp luật, điều đó có nghĩa là một trong các bên không thể phá bỏ thoả thuận đã được

khi có một hợp đồng được giao kết rồi mà hợp đồng đó lại chưa phải là luật của các
bên và bên bị vi phạm không thể sử dụng các chế tài vi phạm hợp đồng để bảo vệ
mình!
Chúng tôi cho rằng có lẽ đã có sự nhầm lẫn giữa tính hiệu lực của hợp đồng với thời
điểm thực thi các quyền và nghĩa vụ từ hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng và
thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phải là một, còn thời điểm thi hành các quyền và
nghĩa vụ có thể là một thời điểm nào đó trong tương lai do các bên thoả thuận hoặc
pháp luật quy định. Vì vậy, Điều 403 khoản 5 BLDS 1995 lẽ ra không nên bị xóa bỏ
hoàn toàn mà nên được sửa lại là: đối với những hợp đồng mà pháp luật có quy định
hình thức, thủ tục nào đó là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng được
giao kết vào thời điểm các bên đã hoàn tất hình thức hoặc thủ tục đó.
Thực ra, ý tưởng của nhà làm luật khi bỏ khoản 5 Điều 403 BLDS 1995 nhằm mục
đích tốt đẹp là bảo vệ quyền lợi của bên giao kết ngay tình vì nếu pháp luật công nhận
sự thoả thuận của các bên đã ràng buộc họ với nhau, không phụ thuộc vào hình thức
của hợp đồng thì quan hệ giữa họ sẽ ổn định hơn
18
. Nhưng theo như phân tích trên đây
của chúng tôi, giải pháp này không lôgic. Chúng tôi nghĩ, để bảo vệ quyền lợi cho bên
giao kết ngay tình, cần phải tiến hành một số các giải pháp đồng bộ sau đây:
(i) Một mặt, hạn chế tối đa các loại hình thức có ý nghĩa là điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng. Chỉ những trường hợp cần bảo vệ lợi ích công cộng hoặc
bảo vệ lợi ích bên ngay tình hay bên yếu thế luật mới cần đặt ra các thủ tục
này. Lấy ví dụ, các hợp đồng liên quan đến bất động sản trong pháp luật
của Pháp về nguyên tắc đều là các hợp đồng ưng thuận nghĩa là được giao
kết và có hiệu lực ngay từ khi các bên thoả thuận xong nội dung hợp đồng,
trừ trường hợp tặng cho bất động sản hay bán bất động sản xây dựng trong
tương lai hoặc thế chấp bất động sản luật yêu cầu phải công chứng mới có
18
Đinh Trung Tụng, Bài đã dẫn, chú thích số 13, trang 178-180.
9

Vấn đề các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu được quy định tại
phần Giao dịch dân sự thuộc chương 6, phần thứ II và các điều 410-411 BLDS. Căn
cứ vào các quy định này, hợp đồng dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau
đây:
(i) Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi;
(ii) Mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội;
(iii) Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;
(iv) Đối tượng của hợp đồng phải thực hiện được.
Riêng vấn đề hình thức, BLDS quy định hình thức giao dịch chỉ bị coi là điều kiện có
hiệu lực của giao dịch khi pháp luật có quy định.
Như vậy, các hợp đồng không thoả mãn các điều kiện kể trên sẽ bị xem là vô hiệu và
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý. Vấn đề này sẽ được nghiên cứu dưới
đây.
19
Jean Marc Mousseron, Technique contractuel, Ed. Francis Lefebvre, 2
e
ed., 1999, đoạn 286, trang 132.
20
Đinh Trung Tụng, Bài đã dẫn, chú thích số 13, trang 179.
10
4.2 Hợp đồng vô hiệu
4.2.1 Lý thuyết về hợp đồng vô hiệu
Về nguyên tắc, bất kỳ một hợp đồng nào bị tuyên vô hiệu đều phải rơi vào một trong
các trường hợp được quy định tại Điều 122, 411 BLDS
21
. Để hiểu được thấu đáo tinh
thần các điều luật này, có lẽ cũng nên phân tích sơ qua về chế định giao dịch vô hiệu.
Pháp luật các nước thường phân biệt hai loại hợp đồng vô hiệu là vô hiệu tuyệt đối và
vô hiệu tương đối. BLDS, thay vì sử dụng thuật ngữ này, đã quy định trường hợp giao

BLDS không có điều luật cụ thể quy định rõ nhà làm luật Việt Nam đã chấp nhận
thuyết nào. Phân tích dưới đây sẽ cho phép kết luận BLDS chỉ chấp nhận một phần
21
BLDS, Điều 127, 410, 411
22
BLDS, các Điều 128,129.
23
BLDS, các Điều 140, 141, 142, 143.
24
Quả vậy, Planiol đã gọi đây là một trong các đề tài “tối tăm” nhất trong luật dân sự! (Michel Planiol, Traitộ
ộlộmentaire de droit civil, xuất bản lần thứ 9, tập 1, Paris, NXB L.G.D.J., 1922, no 328 và tiếp theo, trang 122
và tiếp theo). Bàn về lý thuyết hợp đồng vô hiệu trong luật Việt Nam, độc giả có thể tham khảo Vũ Văn Mẫu,
Việt Nam dân luật lược khảo- quyển II, Nghĩa vụ và khế ước, Sài Gòn, 1963, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản,
trang 216-232; Nguyễn Mạnh Bách, Nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam, Hà Nội, 1998, NXB Chính trị
quốc gia, 1998, trang 72-84.
25
Về nội dung cụ thể của thuyết này, xem S. Gaudet, “Inexistence, nullitộ et annulabilitộ du contrat” Tạp chí
pháp luật của Đại học McGill, (Quebec) số 40/1995, trang 291 và tiếp theo. Án lệ Pháp chấp nhận một phần
thuyết này. Những trường hợp nhầm lẫn về bản chất của giao dịch như A nghĩ rằng mình bán nhà cho B, trong
khi B lại nghĩ là A cho mình thuê nhà được coi là "nhầm lẫn cản trở" (erreur-obstacle) khiến cho không hề có
sự gặp gỡ giữa hai ý chí. Nhầm lẫn này dẫn đến sự vô hiệu tuyệt đối của hợp đồng và thẩm phán có quyền tuyên
hợp đồng đó vô hiệu ngay cả khi các bên không yêu cầu điều đó. Nếu sự nhầm lẫn không bị coi là nhầm lẫn cản
trở (nhầm lẫn làm thoả thuận bị khiếm khuyết - erreur-vice du consentement) hợp đồng có thể bị vô hiệu (vô
hiệu tương đối). Xem D. Lluelles, Bài đã dẫn, chú thích số 14, no 587-590, trang 310-312.
26
Về nội dung cụ thể của thuyết này, xem S. Gaudet, Bài đã dẫn, chú thích số 25, trang 322-323.
11
thuyết thứ hai. Các trường hợp hợp đồng có thể vô hiệu trong các điều 130, 131, 132,
133 đều là những quy định của nhà làm luật nhằm bảo vệ cho một trong các bên trong
quan hệ hợp đồng, nói cách khác, mục đích của các chế tài nêu trong điều luật này đã

tuyên hợp đồng vô hiệu
28
. Thứ hai, về vấn đề thời hiệu, trên nguyên tắc, đối với các
trường hợp vô hiệu tương đối, thời hiệu khởi kiện chỉ là 2 năm, kể từ ngày giao dịch
được xác lập; đối với các trường hợp đương nhiên vô hiệu và vô hiệu do vi phạm quy
định về hình thức thì thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế
29
.
27
Ví dụ, Điều 476 BLDS.
28
BLDS, Điều 132.
29
BLDS, Điều 136. Ngoài ra, dù BLDS không quy định, còn một điểm khác biệt thứ ba giữa hợp đồng vô hiệu
tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối, liên quan đến việc thừa nhận (hay xác nhận, công nhận, truy nhận
trong tiếng Pháp gọi là confirmation và tiếng Anh là acknowledge) một hợp đồng vô hiệu, đó là chỉ những hợp
đồng vô hiệu tương đối mới có thể được thừa nhận. Xem Nguyễn Mạnh Bách, Bài đã dẫn, chú thích số 24,
trang 79-82: “Sự xác nhận là một hành vi pháp lý [của một bên] nhằm hữu hiệu hoá một hợp đồng vô hiệu
khiến hợp đồng này trở thành không bị bác bỏ. Sự xác nhận được thực hiện bằng cách thay thế một yếu tố bất
12
4.2.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu
4.2.2.1 Người tham gia giao kết hợp đồng không có năng lực hành vi
Một chủ thể được quyền trực tiếp tham gia một quan hệ pháp luật khi có đầy đủ năng
lực chủ thể, được tạo thành bởi năng lực pháp luật
30
và năng lực hành vi
31
. Năng lực
pháp luật gắn liền với quyền của chủ thể (chủ thể có được phép thực hiện quyền đó
hay không) chứ không gắn với khả năng thực hiện quyền đó. Không có năng lực pháp

diện theo pháp luật, chẳng hạn việc lập di chúc phải được sự đồng ý của cha, mẹ
hoặc người giám hộ
36
. Như vậy, trong trường hợp này, chỉ các giao dịch mà pháp
hợp pháp hoặc bằng cách khước từ quyền xin huỷ bỏ hợp đồng”. Ví dụ, A mua gạo của B, do có sự nhầm lẫn về
tên mặt hàng, thay vì giao gạo loại 1, B đã giao gạo loại 2 cho B, xong khi nhận hàng, A đã đồng ý nhận gạo
loại 2, với điều kiện giảm giá. Vậy, hợp đồng mua bán gạo lúc đầu có dấu hiệu bị nhầm lẫn đã được xác nhận
thông qua hành vi chấp nhận mặt hàng mới của A. Kể từ thời điểm xác nhận, A không thể yêu cầu Toà án tuyên
hợp đồng vô hiệu vì nhầm lẫn nữa.
30
BLDS, Điều 14-16.
31
BLDS, Điều 17-23.
32
BLDS, Điều 130.
33
Về khái niệm “năng lực hành vi đầy đủ” và “năng lực hành vi một phần”, xem Trường Đại học Luật Hà Nội,
Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 1, Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, trang 79-80.
34
BLDS, Điều 20, k.1
35
BLDS, Điều 130.
36
BLDS, Điều 647, k.2 và Điều 652, k.2.
13
luật quy định phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật mới có thể vô
hiệu vì lý do người giao kết không có năng lực hành vi
37
.
(ii) Người mất năng lực hành vi dân sự

do pháp nhân, tổ chức giao kết sẽ được xem xét trong nội dung Đại diện tiếp theo đây.
4.2.2.1.3 Vấn đề đại diện
Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác (người được đại diện) có thể xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự thông qua người khác (người đại diện). Người được đại diện chỉ có thể bị
ràng buộc với giao dịch do người đại diện thiết lập trong những điều kiện sau đây:
(i) Thứ nhất, về mặt khách quan, người đại diện phải có thẩm quyền đại diện.
Thẩm quyền này có thể do pháp luật quy định (đại diện theo pháp luật)
hoặc do các bên thoả thuận (đại diện theo uỷ quyền). Vì vậy, một bên trong
hợp đồng sẽ không bị ràng buộc bởi hợp đồng này nếu nó được giao kết,
thực hiện thông qua một người mang danh đại diện trong khi trên thực tế
người này không có thẩm quyền đại diện cho họ
43
.
(ii) Thứ hai, về mặt chủ quan, người đại diện phải hành động nhân danh người
được đại diện chứ không phải nhân danh chính mình
44
.
37
BLDS, Điều 130.
38
BLDS, Điều 130.
39
D. LLUELLES, Bài đã dẫn, chú thích số 14, no 1006 và 1009, trang 578-580.
40
BLDS, Điều 23.
41
BLDS, Điều 130, k.1.
42
BLDS, Điều 86, k.3; Điều 91.
43

hoặc hưởng lợi ích mà hợp đồng mang lại
47
.
4.2.2.2 Nội dung, mục đích hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo
đức xã hội
(i) Nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã
hội
Trước đây, khi quy định điều kiện về nội dung của hợp đồng, BLDS 1995 sử dụng
thuật ngữ “nội dung trái pháp luật”. Nay BLDS sửa đổi thành “vi phạm điều cấm của
pháp luật”
48
. Bàn về vấn đề này, chúng tôi sẽ phân tích các nội dung sau đây:
 Thế nào là điều cấm của pháp luật?
45
BLDS, Điều 139 k.5;, Điều 143 k.2.
46
BLDS, Điều 145. Trước đây, Điều 8 khoản 1 điểm c PLHĐKT có quy định rằng hợp đồng bị xem là vô hiệu
toàn bộ nếu người ký kết hợp đồng không có thẩm quyền. Nay pháp lệnh này không còn hiệu lực nữa, khi xem
xét tính hiệu lực của mọi hợp đồng, dù là trong lĩnh vực kinh tế hay lao động, thì đều phải xuất phát từ các
nguyên tắc đã được quy định trong BLDS.
47
Xem Báo cáo công tác giải quyết các vụ án kinh tế trong năm 2002 và một số kiến nghị, đề xuất, ngày
6/1/2003, trang 8-9; Nghị quyết số 04/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Cần lưu ý rằng, các văn bản
này dẫn chiếu tới BLDS 1995 và PLHĐKT, tuy nhiên có thể nghiên cứu để nắm được thực tiễn xét xử của Việt
Nam về vấn đề này.
48
Phải chăng dụng ý của nhà làm luật là nhằm tránh việc có quá nhiều hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu? Về
nguyên tắc, một giao dịch trái pháp luật phải là một giao dịch vi phạm một quy phạm bắt buộc nào đó. Nhưng
trên thực tế, có nhiều thẩm phán quan niệm rằng, trong một số trường hợp việc các bên đưa ra một thoả thuận
khác luật hoặc thoả thuận luật không quy định cũng có thể bị xem như đã trái luật. Cách hiểu này có thể dẫn đến

 Mọi giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật đều bị xem là vô hiệu tuyệt đối
Tham khảo luật pháp một số nước thì thấy, để xác định tính vô hiệu tương đối hay
tuyệt đối khi nội dung hợp đồng vi phạm một quy phạm bắt buộc của pháp luật, việc
phân định quy phạm “cấm”, quy phạm “phải làm một việc” hoặc “không được làm
một việc” không có mấy ý nghĩa, mà phải căn cứ vào việc quy phạm bắt buộc này có
mục đích bảo vệ lợi ích công cộng hay lợi ích cá nhân. Nếu quy phạm đó nhằm bảo vệ
lợi ích công cộng thì hợp đồng sẽ vô hiệu tuyệt đối, ngược lại, nếu nhằm bảo vệ lợi
ích cá nhân thì hợp đồng sẽ vô hiệu tương đối
53
. Ở Việt Nam, mọi trường hợp vi phạm
điều cấm đều dẫn đến vô hiệu tuyệt đối. Chẳng hạn, Điều 476 BLDS quy định về mức
49
Chẳng hạn, Điều 30 Luật Đầu tư 2006 quy định các lĩnh vực cấm đầu tư.
50
Chẳng hạn, Điều 77 khoản 1 Luật Tổ chức tín dụng quy định:
“1. Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với những người sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám
đốc) của tổ chức tín dụng;
b) Người thẩm định, xét duyệt cho vay;
c) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó
Tổng giám đốc (Phó Giám đốc).
2. Các quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng hợp tác.
3. Tổ chức tín dụng không được chấp nhận bảo lãnh của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này để làm
cơ sở cho việc cấp tín dụng đối với khách hàng”.
51
Chẳng hạn, Điều 9 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định nghĩa vụ (là việc phải làm) của doanh nghiệp là kinh
doanh đúng ngành nghề đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc Điều 59 Luật này quy định các
hợp đồng phải được Hội đồng thành viên chấp thuận.
52
Ví dụ, khoản 2 Điều 59, khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2005.

trước tiên đến quan niệm của nhà làm luật mỗi khi soạn thảo một điều luật hay cả một
đạo luật. Trong pháp luật hợp đồng, một trong các nguyên tắc cơ bản là tôn trọng tối
đa quyền tự do ý chí của các bên và hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước, có như
vậy mới thúc đẩy được các giao lưu dân sự, thương mại phát triển. Pháp luật các nước
phát triển đều có xu hướng tuân theo phương châm hợp đồng sinh ra là để thực hiện
chứ không phải bị huỷ. Chính vì vậy, khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng vô hiệu,
các thẩm phán các nước theo hệ thống Common law đã sử dụng phương pháp “blue
pencil” để xác định việc vi phạm một quy phạm pháp luật bắt buộc nào đó có ảnh
hưởng trực tiếp đến nội dung của hợp đồng hay chỉ có chủ thể của hành vi vi phạm
mới phải chịu một chế tài khác về hành chính hay hình sự, còn hợp đồng vẫn tồn tại
56
.
54
Không nên nhầm lẫn điều khoản lãi suất vượt quá quy định của Điều 476 là vô hiệu tương đối, vì giả sử đó là
vô hiệu tương đối thì chỉ các bên mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên điều khoản đó vô hiệu; nếu các bên không
yêu cầu, Tòa án không được can thiệp đến mức lãi suất do các bên thoả thuận. Song trên thực tế, Tòa án vẫn
điều chỉnh mức lãi suất ngay cả khi các bên không yêu cầu. Vì vậy, điều khoản lãi suất vượt quá quy định của
Điều 476 BLDS vô hiệu tuyệt đối. Tuy nhiên, sự vô hiệu này chỉ là vô hiệu một phần, tức là chỉ phần vượt quá
mức lãi suất quy định là vô hiệu. Ví dụ, các bên thoả thuận lãi suất cho vay là 4%/tháng, trong khi mức lãi suất
cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định là 1%, vậy, điều khoản vô hiệu được thay thế bằng điều khoản luật
định: mức lãi suất mới sẽ là: 1% x 150% = 1,5 %, bởi chỉ phần lãi suất vượt quá (2,5 %) là vô hiệu.
55
Pierre Gabriel Jobin, "Les effets du droit pộnal ou administratif sur le contrat: où s’arrête l’ordre public», Tạp
chí của Đoàn luật sư Quebec (R. du B.), số 45/1985, trang 655, 672; J. Pineau, D. Burman và S. Gaudet,
Théorie générale des obligations, xuất bản lần thứ ba, Montreal, NXB Themis, 1996, trang 260-261. Các tác giả
này đã đưa ra ví dụ sau: Một thành phố có quy định mọi nhà cho thuê đều phải có ít nhất 2 cửa; một hợp đồng
cho thuê nhà vi phạm quy định này không nhất thiết bị vô hiệu vì quy phạm bắt buộc trên nằm ngoài ranh giới
hợp đồng, chủ sở hữu sẽ phải chịu một khoản tiền phạt hành chính, hợp đồng cho thuê nhà vẫn có hiệu lực pháp
luật.
56

của các doanh nghiệp đối với hiệu lực hợp đồng, nhất là trong bối cảnh có sự mâu
thuẫn giữa các luật. Điều 9 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định doanh nghiệp có nghĩa
vụ kinh doanh đúng ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
nhưng Điều 3 khoản 1 Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định chi tiết thi
hành LTM lại quy định trừ hàng hoá thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất
khẩu, hàng hoá thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, thương nhân
được xuất nhập khẩu hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh.
Để phù hợp với thông lệ thế giới và xu thế tự do hoá thương mại, cần có quy định rõ
ràng nếu đối tượng hợp đồng không thuộc danh mục những điều pháp luật cấm kinh
doanh thì hợp đồng vẫn có hiệu lực, không phụ thuộc vào việc ngành nghề đó đã được
đăng ký kinh doanh hay chưa.
57
Thông tư số 11/TT-PL ngày 25 tháng 5 năm 1992 của Trọng tài kinh tế nhà nước đã giải thích nếu pháp luật
quy định rằng để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng kinh tế đòi hỏi cả hai bên đều phải có đăng
ký kinh doanh mà một bên không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thì hợp đồng vô hiệu.
Những hợp đồng kinh tế sau đây chỉ cần một bên có đăng ký kinh doanh theo pháp luật là đủ: đối với hợp đồng
xây dựng cơ bản là chủ thầu, đối với hợp đồng vận chuyển là bên chủ phương tiện, đối với hợp đồng dịch vụ là
bên nhận dịch vụ.
58
Toà Kinh tế TANDTC, Báo cáo công tác giải quyết các vụ án kinh tế trong năm 2002 và một số kiến nghị,
đề xuất, ngày 6 tháng 1 năm 2003; Lê Thị Bích Thọ, "Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp
đồng kinh tế vô hiệu…, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý -Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
số 5/2002, trang 90-100; Xem vụ án Công ty Liên doanh ôtô VN DAEWOO kiện Công ty TNHH XDGT Thương
mại Tân Á, 2002, Toà Phúc thẩm TANDTC tại thành phố HCM, bản án số 02/KTPT ngày 10/1/2002.
18
Đối với hợp đồng vay ngoại hối hay có điều khoản thanh toán bằng ngoại hối cũng
tương tự như vậy. Pháp luật không cấm công dân được sở hữu ngoại hối, mà chỉ hạn
chế việc sử dụng ngoại hối trong thanh toán
59
. Vậy nếu người cho vay hoặc người

câu: “Với một điều không thể thực hiện được thì không ai phải có trách nhiệm cả!”
62
.
Tính hợp pháp của đối tượng nghĩa vụ được hiểu là công việc mà pháp luật không
cấm hoặc vật được phép lưu thông. Như vậy, một hợp đồng có nghĩa vụ liên quan đến
đối tượng không hợp pháp sẽ vô hiệu và căn cứ để hợp đồng vô hiệu là Điều 122
khoản 1 điểm b BLDS.
1.2.2.2 Mục đích hợp đồng trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Điều 123 BLDS đưa ra định nghĩa khá mơ hồ về mục đích của hợp đồng. Có nên
xem mục đích của hợp đồng chính là động cơ cá nhân thúc đẩy các bên giao kết hợp
59
Pháp lệnh ngoại hối, Điều 22; Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối,
Điều 29.
60
Đối với vật cùng loại, không bắt buộc các bên phải thoả thuận về yếu tố chất lượng. Nếu các bên không thoả
thuận, chất lượng của vật sẽ được xác định theo pháp luật (Điều 430 BLDS).
61
BLDS, Điều 411. Đừng nhầm lẫn với việc vật không tồn tại sau khi ký kết hợp đồng vì đây là nguyên nhân
khiến hợp đồng chấm dứt (Điều 424 khoản 5 BLDS).
62
“A l"impossible, nul n"est tenu”.
19
đồng ? Chẳng hạn, mục đích của bên thuê nhà là để ở hoặc để kinh doanh, mục đích
của bên cho thuê là để khai thác hoa lợi tài sản của mình ? Hơn nữa, mục đích hợp
đồng không phải là một điều khoản bắt buộc của hợp đồng trừ phi luật pháp quy
định
63
hoặc các bên thoả thuận. Điều đó có nghĩa là các bên không có nghĩa vụ phải
tiết lộ mục đích ký kết hợp đồng nếu pháp luật không buộc phải tiết lộ.
Một vấn đề khác đặt ra, hợp đồng vô hiệu do có mục đích trái pháp luật khi cả hai bên

65
H. và L. Mazeaud, J. Mazeaud và F. Chabas, Lecon de droit civil: Obligations- Théorie générale, tập 2, xuất
bản lần thứ 8, Paris, Montchrestien, 1991, no 269, trang 254.
66
J. Ghestin, Traité de droit civil: La formation du contrat, xuất bản lần thứ 3, Paris, NXB L.G.D.J., 1993, no
894 và tiếp theo, trang 905 và tiếp theo.
67
Civ. 1e 7 octobre 1998, Bull. Civ. I, no 285; D. 1998. 563; J.C.P. 1998, 10202. Luật dân sự Quebec chấp nhận
giải pháp tương tự (BLDS Quebec, Điều 1411). Tham khảo học thuyết Việt Nam trước đây, cũng tìm thấy quan
điểm tương tự. Xem Vũ Văn Mẫu, Bài đã dẫn, chú thích số 24, no 253, trang 210 và tiếp theo.
68
Chúng tôi cho rằng, cách dùng thuật ngữ “tự nguyện” của nhà làm luật tại Điều 122 khoản 1 điểm c BLDS đã
không bao quát được hết phạm vi của điều luật là chi phối cả giao dịch dân sự đơn phương và giao dịch dân sự
song phương. Theo VIỆN NGÔN NGỮ HỌC, Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội, NXB Đà nẵng, 1998, trang 1040 thì
tự nguyện là "tự mình muốn làm, không phải bị thúc ép, bắt buộc". Vậy mà, bản chất của quan hệ hợp đồng
phải là sự thoả thuận giữa các bên. Như vậy, một mặt, ý chí thể hiện ra bên ngoài của từng bên phải phản ánh
đúng ý chí thực của họ, tức là họ hoàn toàn “tự nguyện” tham gia quan hệ hợp đồng, mặt khác, ý chí của các
bên phải gặp nhau, tức là đã đạt được sự "thống nhất" giữa hai ý chí. Vì vậy, từ “tự nguyện” chỉ chính xác khi
chi phối các giao dịch đơn phương. Đối với các giao dịch song phương, phải dùng thuật ngữ “ưng thuận” hoặc
“đồng ý” mới có thể bao quát được yếu tố tự nguyện về ý chí và yếu tố thống nhất ý chí. Vả lại, đây cũng là
những thuật ngữ đã được sử dụng trong các bộ dân luật trước đây của Việt Nam (Bộ dân luật Bắc kỳ, Điều 651;
Bộ dân luật Sài gòn, Điều 660). Đặc biệt, Điều 653 Bộ dân luật Bắc kỳ còn đưa ra định nghĩa về sự “đồng ý”
như sau: “đồng-ý là ý-nguyện của mọi bên có quan-hệ trong hiệp-ước đều thoả-hợp nhau cả”. Vì vậy, trong bối
cảnh BLDS muốn quy định hiệu lực của giao dịch, Điều luật nói trên nên bao quát được các trường hợp sau:
Đối với giao dịch đơn phương, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, đôí với giao dịch song phương,
các bên tham gia giao dịch đã đạt được sự ưng thuận (hoặc đồng ý).
20
khiến cho sự ưng thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng không còn chính xác nữa
nên đây là những nguyên nhân khiến cho hợp đồng có thể vô hiệu
69

án tuyên hợp đồng vô hiệu nếu anh ta đã từng nói tại sao anh ta lại có ý định
mua bức tượng đó với người bán
72
.
Không theo cách tiếp cận bằng việc phân chia các loại nhầm lẫn, BLDS, tại Điều 131,
chỉ quy định khi một bên, do lỗi vô ý của bên kia, nhầm lẫn về nội dung của giao dịch
mà xác lập giao dịch thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó;
nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm
lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Như vậy, theo luật Việt
Nam, bên bị nhầm lẫn phải chứng minh được nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn là do lỗi
của bên kia.
4.2.2.3.2 Lừa dối
69
Các luật gia Việt Nam trước đây gọi những trường hợp nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ là những “hà tỳ của sự ưng
thuận” (Xem Vũ Văn Mẫu, Bài đã dẫn, chú thích số 24, trang 107 ) hoặc “sự khiếm khuyết của thoả thuận”
(Xem Nguyễn Mạnh Bách, Bài đã dẫn, chú thích số 24, trang 80).
70
P B Mignault, Luật dân sự Canada (Le droit civil canadien), tập 5, Montreal, NXB Theoret, trang 211.
71
R. Saleilles, Về sự tuyên bố ý chí (De la déclaration de la volonté), Paris, NXB L.G.D J., bài 119, số 1, trang
12.
72
Didier Lluelles, Bài đã dẫn, chú thích số 14, no. 525-538, trang 275-283.
21
Điều 132 BLDS định nghĩa: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên
hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệnh về chủ thể, tính chất của
đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”. Từ định nghĩa
này, có thể rút ra hai yếu tố của lừa dối, về mặt chủ quan, lừa dối là hành vi cố ý của
một bên hoặc bên thứ ba, về mặt khách quan, hành vi đó đã khiến cho bên kia bị
nhầm lẫn nên đã giao kết.

thì nhầm lẫn do sự
lừa dối của bên kia có phạm vi rộng hơn, đó là nhầm lẫn về chủ thể giao kết, về tính
chất của đối tượng, và về nội dung của hợp đồng.
4.2.2.3.3 Đe doạ
Đe dọa trong giao dịch dân sự được hiểu là “hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ
ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha mẹ, vợ
chồng, con của mình”. Như vậy, người đe dọa có thể là một bên trong giao dịch hoặc
73
Các luật gia La mã cổ đại đã gọi những trường hợp này là dolus bonus để phân biệt với lừa dối malus dolus.
74
Jacques FLOUR và Jean Luc AUBERT, Les obligations, tập 1, xuất bản lần thứ 6, Paris, NXB Armand Colin,
1994, no 211, trang 164.
75
BLDS, Điều 141.
22
người thứ ba. Sự đe dọa phải có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến ý chí của
bên kia, khiến bên kia sợ hãi mà phải giao kết. Học thuyết các nước thường cho rằng
sự sợ hãi phải xuất phát từ một sự đe dọa trái pháp luật
76
. Vì vậy, nếu một bên đe dọa
sẽ kiện bên kia ra toà nếu bên kia không trả nợ không phải là đe dọa khiến giao dịch
bị vô hiệu
77
.
4.2.2.4 Hình thức
Phần này, chúng tôi muốn đề cập hai nội dung sau:
(i) Khi nào hợp đồng bị xem là vô hiệu vì lý do hình thức?
Nguyên tắc tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng dẫn tới một hệ quả là hợp đồng có thể
được giao kết dưới bất kỳ hình thức nào theo sự thoả thuận giữa các bên

76
J.Pineau, D. Burman và S. Gaudet, Bài đã dẫn, chú thích số 55, no 96, trang 155; D. LLuelles, Bài đã dẫn,
chú thích số 14, no 629, trang 338.
77
D. Lluelles, Bài đã dẫn, chú thích số 14, no 749-751, trang 405-406.
78
BLDS, Điều 400, khoản 1.
79
Theo nguyên nghĩa, hình thức được hiểu là cách thức thể hiện ý chí của các bên, gồm 3 loại: lời nói, văn bản,
hành vi. BLDS quy định các thủ tục cũng được xem là hình thức hợp đồng. Theo Điều 124 BLDS, có năm loại
hình thức bắt buộc là: văn bản, công chứng, chứng thực, đăng ký, xin phép. Sau đây chúng tôi dùng thuật ngữ
hình thức để chỉ cả vấn đề hình thức và thủ tục của hợp đồng.
80
Thực tế, Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1108) và Bộ luật Dân sự Quebec (Điều 1385) chỉ quy định 4 yếu tố cơ
bản của hiệu lực hợp đồng là sự ưng thuận, năng lực hành vi, đối tượng và chủ đích (nguyên nhân) của nghĩa vụ
và hợp đồng. Hình thức (forme), thủ tục (formalité) có ý nghĩa quyết định hiệu lực hợp đồng, vì thế, chỉ được
quy định trong những điều luật riêng lẻ liên quan đến một giao dịch cụ thể nào đó với điều kiện điều luật này
nói rõ việc không tuân thủ điều kiện hình thức hay thủ tục này sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu.
81
Đinh Trung Tụng, Bài đã dẫn, chú thích 13, trang 178-181.
23
Luật đất đai 2003 thì thủ tục đăng ký là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; căn cứ
vào Điều 19 khoản 2 Luật chuyển giao công nghệ, thủ tục cấp Giấy phép chuyển giao
công nghệ là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc Danh
mục công nghệ hạn chế chuyển giao…Vậy, những trường hợp hợp đồng vi phạm hình
thức bắt buộc nhưng hình thức đó không phải là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
thì hậu quả pháp lý là gì
82
? Án lệ và học thuyết các nước theo truyền thống dân luật
(civil law) phân biệt ba loại hình thức hợp đồng sau:

dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu
cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định
buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá
thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
82
Hiện nay, đại đa số các quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức của một giao dịch nào đó nào đó
thường chỉ được xây dựng dưới dạng một quy phạm bắt buộc mà không chỉ cụ thể chế tài trong trường hợp
không tuân thủ điều kiện đó. Chẳng hạn, Điều 450 BLDS quy định hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập
thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”; Điều 569 BLDS
quy định hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản, vv.
83
BLDS đã nhắc tới khái niệm này và dùng thuật ngữ hợp đồng có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba. Xem Điều
323 BLDS.
84
Philippe Simler và Philippe Delebecque, Les suretés, la publicité foncière, NXB Dalloz, 2004, trang 682-709.
85
Hiện nay, chỉ có Điều 323 BLDS quy định việc đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ làm cho giao dịch có giá trị
pháp lý đối với bên thứ ba, trừ phi pháp luật quy định rõ việc đăng ký là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
24
Như vậy, xét về bản chất, vô hiệu về hình thức có thể được hiểu là một hình thức vô
hiệu “treo”, mang một nửa tính chất của vô hiệu tương đối, một nửa tính chất của vô
hiệu tuyệt đối. Tại sao ? Đó là hình thức vô hiệu “treo” vì pháp luật dành cho các bên
một khoảng thời gian để khắc phục khiếm khuyết về hình thức đó. Đó là hình thức vô
hiệu nửa tương đối vì chủ thể của quyền được yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu
là một hoặc cả hai bên trong quan hệ hợp đồng. Cuối cùng, đó cũng là hình thức vô
hiệu nửa tuyệt đối, vì nếu sau thời hạn buộc các bên thực hiện quy định về hình thức
của giao dịch mà các bên không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.
Xét về bản chất của vô hiệu vì lý do hình thức có thể thấy tinh thần điều luật trên
không khác xa Điều 139 BLDS 1995, tuy nhiên từ trước đến nay, thực tiễn xét xử đã
có nhiều hướng không nhất quán nhau. Nhiều trường hợp Toà án tuyên hợp đồng vô

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấ. Vì vậy, nếu một trong các bên không
86
Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Côi kiện Lã Thị Điện và Nguyễn Thị Loan, 2000, TAND thành phố Hà Nội, bản án
số 118/DSPT ngày 31/5/2000.
87
Trần Thị Lan Hương kiện Chu Thị Kim Phượng, 2002, TAND thành phố Hà Nội, bản án số191/DSPT ngày
25.10.2002.
88
Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, Mục I.2.2.b); Trần Thị Lan Hương kiện Chu Thị Kim
Phượng, chú thích số 133.
89
Dưới chế độ cũ, học thuyết này được chấp nhận và khái niệm hợp đồng hứa mua, hứa bán nhà thường được
nhắc tới. Các công ty kinh doanh bất động sản hiện nay cũng hay dùng các hình thức hứa mua, hứa bán nhà để
ký kết với các đối tác. Xem Nguyễn Mạnh Bách, Luật dân sự Việt Nam- Lược giải các hợp đồng thông dụng,
Hà nội, NXB Chính trị quốc gia, 1997, trang 14-19.
25

Trích đoạn Thay vỡ dựng thuật ngữ đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, LTM dựng thuật ngữ đỡnh chỉ thực hiện hợp đồng Tương tự đối với chế tài huỷ bỏ hợp đồng, trong khi BLDS khụng quy định điều kiện chung ỏp dụng LTM 1997, Điều 229 khoản 2; LTM Điều 301 khoản 2. Ngoại trừ trường hợp chậm tiếp nhận nghĩa vụ, bờn cú nghĩa vụ phải ỏp dụng cỏc biện phỏp cần thiết để bảo quản tài sản (Điều 288 khoản 2 BLDS).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status