Đánh giá rủi ro môi trường của thuốc bảo vệ thực vật - Pdf 28

Mục lục:
Trang | 1
DANH MỤC BẢNG
Trang | 2
I. TÓM TẮT
Bài viết này mô tả các kết quả của việc đánh giá rủi ro môi trường của thuốc bảo vệ
thực vật được sử dụng trong nông nghiệp ở Xiamen, Trung Quốc. Mục đích là để đánh
giá tác động đối với tài nguyên nước, đặc biệt là đối với nghề cá và nuôi trồng hải sản.
Dữ liệu về thuộc tính nghiên cứu độc học sinh thái của thuốc bảo vệ thực vật và tính
chất vật lý - hóa học của nó đã được thu thập. Sự mô phỏng các hành vi môi trường
của thuốc bảo vệ thực vật liên quan đến tải trọng để áp dụng vào các lĩnh vực nông
nghiệp được thực hiện bằng cách sử dụng mô hình SoilFug. Đánh giá rủi ro được tiến
hành, thuốc bảo vệ thực vật nồng độ gần đúng đã được tính toán, hóa chất có nguy cơ
cao nhất đã được xác định, và các biện pháp quản lý rủi ro đã được chỉ ra. © 2002
Elsevier Science Ireland Ltd. All rights reserved.
Từ khóa: Đánh giá rủi ro; Nghiên cứu độc học sinh thái; Ảnh hưởng của thuốc bảo
vệ thực vật, độc chất trong thủy sản
II. GIỚI THIỆU
Trong vài năm qua, sự phù hợp của các mô hình phân phối môi trường và số phận
của các chất hóa học đã tăng lên theo cấp số nhân trong cộng đồng khoa học và một số
mô hình đã được đề xuất tiến hành. Trong khi đó, cộng đồng quản lý, đánh giá và kiểm
soát các chất hóa học đã chuyển từ giới hạn chấp nhận được trong nước thải và hoặc
các tiêu chí chất lượng trong các phương tiện truyền thông khác nhau về môi trường
đối với các thủ tục đánh giá rủi ro.
Đánh giá rủi ro là một quá trình liên quan đến việc xác định nguy cơ, đánh giá các
ảnh hưởng, đánh giá sự phơi nhiễm và tính chất đặc thù của các rủi ro (Van Leeuwen
và Hermens, năm 1995). Bài viết này mô tả một ứng dụng thực tế của các mô hình và
mô hình chiến lược trong quá trình đánh giá rủi ro do các loại thuốc bảo vệ thực vật
gây ra. Môi trường toàn cầu - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc - Tổ chức Hàng
hải quốc tế (GEF / UNDP / IMO, 1995) đã thành lập một Chương trình khu vực về
Trang | 3

gây hại cho các sinh vật sống dưới đất và
dưới nước.
- Đối với con người: Được đánh giá là có độc
tính thấp đối với con người. Làm bỏng rát khi
tiếp xúc với da và mắt. Theo các nghiên cứu
trên động vật, tiếp xúc thường xuyên và lâu
dài với carbendazim có thể tác động xấu đến
quá trình sinh sản và phát triển ở người.
2. Thuốc trừ cỏ Butachlor
Tên chung: Butachlor
Tên hóa học:
2-chloro-N-(2-ethyl-6-methylphenyl)-
acetamide
Công thức hóa học: C17H26ClNO2
Loại thuốc: Thuốc trừ cỏ
Thành phẩm: 93% TC. / 60% EC
Cơ chế tác động:
Thuốc cỏ chọn lọc với tác động thấm sâu, chủ
yếu ngấm vào các chồi non. Ngăn sự phân chia
tế bào
Trang | 5
Ứng dụng:
Là loại cỏ tiền nảy mầm để diệt các loại cỏ mọc
quanh năm và một số loại cỏ lá rộng trên lúa, cả
lúa sạ và lúa cấy. Cũng dùng như một loại cỏ
chọn lọc trên lúa mạch, bông vải, đậu phộng, củ
cải đường, lúa mì và một số rau màu thuộc họ
cải bắp. Liều dùng khoảng 1-4.5Kg/ha. Hoạt
động phụ thuộc vào các khu vực có hệ thống
thủy lợi tốt, nhiều mưa.

quản.
5. Dichlorvos
Tên IUPAC
2,2-dichlorovinyl dimethyl phosphate.
Công thức hóa học
C
4
H
7
Cl
2
O
4
P.
Tên gọi khác
DDVP, Nuvan, Vapona, Nogos, Desvap
Khối lượng phân tử
220,975741 g/mol.
Cấu trúc hóa học
Độc tính LD50: 80 mg/kg (chuột cống đực).
Tránh dùng trên các loại họ Bầu Bí Dưa có
lá mỏng, dây yếu. Thuốc rất độc nên được
xếp vào danh mục hạn chế sử dụng.
Tính chất khác Dichlorvos là một chất lỏng không màu,
mùi tương đối dễ chịu, tan tốt trong hầu hết
các dung môi hữu cơ nhưng ít tan trong
Trang | 7
nước (khoảng 1% ở nhiệt độ thường), độ
bay hơi cao thích hợp cho việc xông hơi. Là
chất kị ẩm, kiềm, bị thủy phân chậm trong

Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Hạ Môn là 20.9
o
C , trong đó tháng 7 có nhiệt độ
cao nhất 28.4
o
C và lạnh nhất vào các tháng Một/Hai với 12.6
o
C. Lượng mưa trung
bình hàng năm là 1143 mm. Sự phân bố lượng mưa năm 1996 được cung cấp bởi
Trung tâm khí tượng thuỷ văn địa phương.
Bảng 1: Dữ liệu lượng mưa từ cuối tháng 4 đến tháng 12 năm 1996
Đợt mưa Ngày mưa
(ngày)
Khoảng thời
gian (ngày)
Lượng mưa
(mm)
Lượng dòng chảy
(mm)
1 1 2 75 37.5
2 9 11 35 17.5
3 14 7 139 69.5
4 19 5 56 28.0
5 31 15 453 226.5
6 12 3 22 11.0
7 3 9 80 40.0
8 19 3 22 11.0
9 44 3 30 15.0
2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, các đặc tính đất , tải lượng thuốc bảo vệ thực
vật trong đất.

Thuốc bảo vệ thực
vật
Số lượng
(t/y)
% a.i. Số lượng
a.i. (t / y)
Ứng dụng
(kg / ha)
Ứng dụng
a.i. (kg / ha)
Thuốc diệt nấm tổng
số
50
Carbendazim 15 50 7.5 1.5 0.75
Đồng sunfat 10 96 9.6 0.75–1.125 0.72–1.08
Thiophanate–methyl 15 70 10.5 1.5 1.05
Thuốc diệt cỏ tổng số 100
Butachlor 20 60 12.0 1.5–1.85 0.9–1.11
Glyphosate 60 10 6 15.0 1.5
Thuốc bảo vệ thực
vật tổng số
1000
Organochlorines
Dicofol 20 20 4 1.5 0.3
Organophosphates
Dichlorvos 225 80 180 3.0 2.4*8
Dimethoate 85 40 34.0 1.5–3.0 0.6–1.2
Methamidophos 100 50 50 1.5 0.75
Omethoate 40 40 16 1.5–3.0 0.6–1.2
Parathion–methyl 40 1.5 0.6 22.5–37.5 0.34–0.56

Trang | 11
đặc tính lý hoá của thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho mô hình đánh giá rủi ro ở người
đàn ông khu vực Xia- với mô hình SoilFug.
Một đánh giá tổng quát ban đầu về một chất hóa học được đề xuất trong một chuỗi
các tiêu chí cân bằng (Equilibrium Criteria) trong các bài báo (Mackay et al, 1996a, b,
c).
Những giai đoạn đánh giá dưới đây đòi hỏi những mô hình có vị trí rất rõ ràng,
giống như SoilFug, ở đây điều kiện địa phương đã được đưa vào tính toán. Tuy nhiên,
cần tuyên bố rằng những kịch bản chính xác cho việc mô phỏng có thể được xây dựng
cực kỳ khó khăn, như là số biến cố hữu với mô hình không cho phép kịch bản chính
xác (ví dụ như một người nông dân đang xử lý một ngày, một vài ngày khác sau đó,
đất địa phương khác nhau, vv…).
Bảng 3. Mô tả các phương pháp xử lý và tải lượng các loại thuốc
bảo vệ thực vật.
Bảng 4. Đặc tính của các thuốc bảo vệ thực vật.
Trang | 12
- Application: lượng sử dụng.
- Herbicides: thuốc diệt cỏ
- Fungicides: thuốc diệt nấm
- MW: phân tử khối
- Kow: hệ số octanol-nước
- Soil persistence: thời gian lưu( độ bền) trong đất
 Mô hình SoilFug và ứng dụng mô hình trong việc ước lượng dòng chảy của
thuốc bảo vệ thực vật:
SoilFug là mô hình dự báo tiềm năng ô nhiễm nước mặt bắt nguồn từ việc sử dụng
thuốc BVTV trên những cánh đồng. Trong một số trường hợp mô hình này được công
nhận trong các nghiên cứu, xem bài báo của Di Guardo et al. (1994 a,b) và Barra et al
(1995).
Mô hình này đã mô phỏng theo quy mô của một lưu vực sông và tính toán sự phân
bố của hóa chất đã áp dụng trong những pha đất và khả năng gây ô nhiễm nước mặt

lớn nhất và tải trọng thuốc BVTV lớn nhất. Trường hợp đặc biệt về dichlovos (lên đến
8 lần xử lý trong một năm ở những điều kiện bình thường) một mô hình đặc biệt đã
được thực hiện với việc cân nhắc 3 lần xử lý trong khoảng 2 tuần. Từ những bộ dữ liệu
đã mô tả ở trên, mô hình có thể tính toán nồng độ trung bình của những loại thuốc
BVTV khác nhau trong nước trong suốt mỗi đợt mưa, đưa vào tính toán không chỉ
Trang | 14
hiện tượng phân chia giữa đất và nước, mà còn ước lượng độ lưu (lượng dư) của mỗi
phân tử (cụ thể là chu kỳ bán rã của nó). Dữ liệu cuối cùng là một loạt các biểu đồ đưa
ra dự đoán nồng độ của những loại thuốc BVTV khác nhau ở cửa của lưu vực, trong
trường hợp này, nó đại diện bằng điểm tiếp xúc giữa nước ngọt và nước mặn của biển
Xiamen. Những đồ thị này đã được đưa ra trong hình 1-3 và thảo luận bên dưới, cùng
với độc học sinh thái đáng kể của nồng độ được ước lượng. Đối với thời gian chính
xác của mỗi đợt mưa tham khảo trong bảng 1.
 Đánh giá rủi ro cho môi trường sống dưới nước
Kết quả của mô hình tính toán Soilfug đã chứng minh rằng số lượng nhất định các
loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng phổ biến nhất có thể đã có mặt trong các cửa
sông của các con sông chính vào biển Hạ Môn ở mức độ nhất định. Các chất đang
nghiên cứu có tiềm năng tích lũy sinh học giới hạn, theo giá trị Kow, ngoại trừ
dicofol(một loại thuốc bảo vệ thực vật dùng cho các cây trồng họ cam quýt). Việc tính
toán mức độ của các độc chất sinh thái được đại diện bởi 5 chất hóa học riêng biệt.
Thuốc diệt nấm Carbendazim, có nồng độ tính toán tại cửa sông có nồng độ khoảng
45µg/l, độc cấp tính Daphnia khoảng 130µg/l, phát tán do xói mòn đất và một phần do
dòng chảy.Butachlor được tính toán ở nồng độ 8µg/l trong khi độc cấp tính đối với các
loài sinh vật dưới nước lên đến hàng trăm µg/l.
Dicofol tồn tại (lưu) trong đất khoảng 1 năm nhưng do ái lực của nó với đất nên
việc rửa trôi bị hạn chế; nồng độ trong nước là 0.04µl/l thấp hơn nhiều so với những
cấp độ độc. Một lượng tích tụ sinh học nào đó có thể được dự đoán(Log Kow 4.3),
nhưng nó đã được chứng minh rằng nó có thể được chuyển hóa bởi động vật hữu nhũ
và chim, chưa có dữ liệu nào được tìm thấy là do cá.
Carbofuran được phát tán bởi xới mòn và dòng chảy. Nồng độ của nước tính toán

Trang | 17
Trang | 18
Trang | 19
V.
KẾT LUẬN
Thông qua khảo sát hiện tại, đánh giá rủi ro đầu tiên về ảnh hưởng của thuốc bảo vệ
thực vật trong nông nghiệp đã được hoàn thành. Nghiên cứu này có thể đại diện cho
phương pháp phân tích chi phí lợi ích có thể được sử dụng trước khi tiến hành những
chương trình quan trắc tốn kém. Nghiên cứu này có thể hữu dụng cho sự phát triển bền
vững trong nông nghiệp và đánh giá rủi ro đối với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở
các nước đang phát triển, những nơi đang thiếu điều kiện phân tích.
Cho tới nay, những hệ số dự đoán sự phân bố môi trường/ liều lượng gây ra ảnh
hưởng không quan sát được hoặc mục tiêu về chất lượng nước vẫn chưa được tính toán.
Theo ý kiến của chúng tôi, tỉ lệ này nên được tính toán chỉ khi biên độ không chắc chắn
được giảm xuống tới mức thấp nhất có thể.
Trong quy trình mô tả, nhiều hệ số không chắc chắn được đưa ra. Sự ước tính tải
lượng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sử dụng trên đồng ruộng, sự cân bằng nước (đầu
vào/ đầu ra), sự biến đổi của đất, vv chỉ là một vài ví dụ về ảnh hưởng của những biến
số môi trường lên mô hình. Sự bền vững của môi trường, sự chính xác của những dữ liệu
Trang | 20
hóa lý, cũng như những giới hạn sẵn có và sự lựa chọn dữ liệu độc học sinh thái là những
ví dụ không chắc chắn liên quan đến những tính chất phân tử.
Tuy nhiên, khẳng định rằng ngay cả khi thiếu sự chính xác, thì rủi ro cao nhất do
thuốc bảo vệ thực vật, những xu hướng và nồng độ xấp xỉ của thuốc bảo vệ thực vật vẫn
có thể được xác định chắc chắn, do đó biện pháp quản lý rủi ro nên được thực hiện. Tình
hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại những vùng nông nghiệp ở Xiamen đang là mối
quan tâm chính. Tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất nông nghiệp trung bình là 27
kg/ha. Nếu việc tính toán được thực hiện trên toàn vùng khảo sát, khối lượng vẫn cao 7.6
kg/ha. Những dữ liệu này rất cao ngay cả khi so sánh với những vùng nông nghiệp đã
được khai thác mạnh mẽ.

của những phương pháp nông nghiêp mới
- Gieo trồng theo phương thức nông lâm kết
hợp tạo tính đa dạng sinh học cao và bằng
việc cây này đứng cạnh cây kia để phát triển
các loài thiên địch
 Biện pháp hoá học:
- Sử dụng chất bảo vệ thực vật hợp lý, liều lưọng vừa phải, phun đúng nồng độ quy
định, quy trình
- Sử dụng các loại hoá chất thảo mộc,
đựoc chiết rút từ những cây trồng như
xoan
Trang | 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status