Vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay - Pdf 28

Vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Lê Thị Thùy Dung Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử; Mã số: 62 22 80 05
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Văn Huyên
Năm bảo vệ: 2013

Abstract: Làm rõ những vấn đề lý luận về văn hóa thẩm mỹ, nhân cách, tính tương đồng
giữa văn hóa thẩm mỹ và nhân cách, chỉ ra vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển
nhân cách sinh viên Việt Nam. Phân tích thực trạng sự phát triển nhân cách sinh viên Việt
Nam hiện nay do văn hóa thẩm mỹ mang lại, đồng thời, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong thực
trạng ấy. Đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát huy vai trò
của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
Keywords: Chủ nghĩa duy vật biện chứng; Văn hóa thẩm mỹ; Phát triển nhân cách; Mỹ học;
Việt Nam
Content: 4
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU…………………………………………………………
4


98
2.4. Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn
hóa thẩm mỹ mang lại thông qua môi trƣờng nhà trƣờng……….

107
2.5. Những vấn đề đặt ra trong sự phát triển nhân cách sinh viên
Việt Nam hiện nay do việc vận dụng, phát huy vai trò của văn
hóa thẩm mỹ chƣa tốt………………………………………………. 120
Chƣơng 3. PHƢƠNG PHƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM
HIỆN NAY…………………………………………………………
133

5
3.1. Phƣơng hƣớng phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với
sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay…………….
133
3.2. Những giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của văn hoá thẩm
mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
149
C. KẾT LUẬN……………………………………………………….
178

thức và là hiện thân tương lai của đất nước. Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trong
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VI năm 1999 đã xác định,
sinh viên “là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong thế hệ thanh niên, nơi kết tinh nhiều tài
năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên môn sâu và đại bộ phận
sinh viên sẽ trở thành trí thức của đất nước”
2
. Sự phát triển toàn diện của sinh viên
chính là tiền đề cho sự đóng góp tích cực của họ đối với tiến bộ xã hội.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xu thế hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sôi động,
sự phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đòi hỏi
sinh viên Việt Nam phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu vươn lên toàn diện về thể lực, trí
lực, đạo đức, nhân cách, để đáp ứng yêu cầu của thời đại, đưa đất nước từng bước
tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tập
trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn
hoá trong lãnh đạo, quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong ứng xử.”
3
.
Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh
xu hướng tích cực và tiến bộ, nhiều yếu tố tiêu cực từ bên ngoài cũng thâm nhập, tác
động không nhỏ tới nhận thức và hành vi của một bộ phận sinh viên nước ta. Nhiều
vấn đề có liên quan tới tư tưởng, quan điểm, lối sống, đạo đức, nhân cách của sinh
viên đang bị suy thoái, lệch lạc; những giá trị truyền thống, thuần phong mỹ tục của
dân tộc đang có xu hướng bị sinh viên xem nhẹ; việc tìm hiểu, phân tích và tiếp thu
các xu hướng tư tưởng và trào lưu của xã hội hiện đại trong sinh viên còn có phần
cảm tính, thiếu cân nhắc và chọn lọc….Tất cả những “lệch chuẩn” trong nhân cách ấy
cần phải được điều chỉnh để tạo ra những sinh viên đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của
thời đại.
Văn hóa thẩm mỹ hiện diện trong tất cả các hoạt động của con người, đặc biệt
nó tác động đến con người bằng cái đẹp và thông qua cái đẹp, trong sự hài hoà với cái

lí do trên, việc đi sâu nghiên cứu đề tài “Vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự
phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” là một vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn cấp thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu về vấn đề văn hóa thẩm mỹ
Ở Liên Xô trước đây đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ.
Công trình chuyên khảo của M.X Cagan “Văn hóa thẩm mỹ của con người Xô Viết”-
Trường Đại học Tổng hợp Lêningrát (1976), Giáo trình “Cơ sở lý luận văn hóa Mác-
Lênin”, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1983 của tập thể tác giả Liên Xô do giáo sư
A.I.Ácnônđốp chủ biên, cuốn “Nguyên lý mỹ học Mác- Lênin” của IU.A. Lukin và
V.C. Xcacherơsicôp, Nxb Sách giáo khoa Mác- Lênin, Hà Nội, 1984, v.v Các công
trình này tuy chưa đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về văn hóa thẩm mỹ song các tác giả
đã có quan niệm rõ nét về bản chất, chức năng, đặc thù của văn hoá thẩm mỹ.
Ở trong nước cũng có nhiều tác giả nghiên cứu như: Lương Quỳnh Khuê,
Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Ngọc Thu, Đỗ Huy, Nguyễn
Chương Nhiếp, Lương Thanh Tân,… Các công trình của các tác giả trên có tính
chuyên sâu về mỹ học. Trên các bình diện khác nhau như triết học, thẩm mỹ học, xã
hội học, tâm lý học, văn hóa học… các tác giả đã đề cập đến các vấn đề: khái niệm
văn hóa, văn hóa thẩm mỹ; bản chất, cấu trúc và chức năng của văn hóa thẩm mỹ; giá
trị thẩm mỹ, vai trò của văn hóa thẩm mỹ trong sự hình thành và phát triển con người.
Đồng thời, các công trình trên cũng đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ
bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của văn hóa thẩm mỹ. Những công trình
này đã nghiên cứu vấn đề văn hóa thẩm mỹ dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó
tập trung chủ yếu khai thác quan điểm mácxít về văn hóa thẩm mỹ. Những công trình
này có giá trị tham khảo rất cao đối với đề tài luận án.
Về khái niệm văn hóa thẩm mỹ: Các công trình của các nhà nghiên cứu trước
đã bàn khá kỹ lưỡng về khái niệm, cấu trúc và vai trò của văn hóa thẩm mỹ. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu thường chỉ được tiếp cận, phân tích từ một ngành

6

tới đề tài nhân cách đã được thực hiện như đề tài KX07-04 “Đặc trưng và xu thế phát
triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế - xã hội”. Đề tài này
đã tiến hành nghiên cứu nhân cách dưới dạng nghiên cứu lý luận về nhân cách song
song với điều tra xã hội học. Tuy nhiên, đề tài này chưa làm rõ vì sao lại coi „hệ
thống giá trị và định hướng giá trị là thành phần cơ bản và cốt lõi của nhân cách” hay
vì sao lại nghiên cứu nhân cách thông qua tiềm năng – khả năng – kỹ năng và phẩm
chất – nếp sống – thói quen. Trong chương trình KHXH04, trực tiếp liên quan đến
nhân cách có đề tài “Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Phần cơ sở lý luận của nghiên cứu nhân cách
được tiến hành công phu, nêu rõ được mục tiêu và xác định được giới hạn của đề tài,
song cũng như chương trình KX07, đề tài này chưa lý giải được tại sao lại lựa chọn
sử dụng trắc nghiệm Cattel 16 PF mà không phải là trắc nghiệm khác nên độ thuyết
phục chưa cao, hơn nữa kết quả thu được mới chỉ dừng lại ở việc có được những

7
nhận xét riêng lẻ về các đặc trưng của nhân cách mà không đi đến một hiện trạng
nhân cách toàn diện của con người Việt Nam.
Với đối tượng hẹp là nhân cách sinh viên cũng đã có một số tác giả bàn đến
như: Trần Sỹ Phán với luận án “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”; “Giáo dục nhân cách cho
học sinh, sinh viên trong bối cảnh của cơ chế thị trường”, Phạm Thị Minh với “Xây
dựng nhân cách sinh viên sư phạm phục vụ việc đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Khánh
Hòa”, luận án tiến sĩ của Vũ Thị Kim Oanh …. Tuy nhiên, nhân cách sinh viên mới
chỉ được bàn đến ở khía cạnh đạo đức hoặc dưới góc độ tâm lý học. Trong đề tài “Mô
hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” thuộc Chương trình KHXH04 cũng đưa ra kết quả nghiên cứu nhân cách sinh
viên bằng trắc nghiệm Cattel 16 PF có tham khảo kết quả của một nghiên cứu so sánh
xuyên văn hóa đặc trưng nhân cách của sinh viên Trung Quốc và Việt Nam của
Phùng Đình Mẫn. Kết quả của nghiên cứu này có giá trị tham khảo rất cao trong đề
tài của chúng tôi.

của nghệ thuật trong phát triển nhân cách con người nói chung, thanh niên nói riêng.
Trường Lưu, Hồ Sĩ Vịnh đi sâu vào giá trị văn hóa dân tộc và vai trò của nó đối với
việc giữ gìn các giá trị truyền thống Việt Nam. Nguyễn Văn Huyên khai thác giá trị
thẩm mỹ từ góc độ phản ánh luận, làm rõ sự tác động đặc thù của nó đối với sự gợi
mở tính năng sáng tạo của con người nói chung và phát triển các phẩm chất nhân cách con
người Việt Nam nói riêng. Trong giáo trình Mỹ học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia,
2004, Nguyễn Văn Huyên dành cả một chương cho vấn đề vai trò của giá trị thẩm mỹ đối
với phát triển con người hiện nay, trong đó tác giả đã chứng minh giáo dục thẩm mỹ nói
chung, vai trò của giáo dục nghệ thuật nói riêng có ưu thế đặc biệt, do đó có sức mạnh đặc
biệt trong sự phát triển các phẩm chất người; tác giả cũng đưa ra một số phương thức và
loại hình giáo dục thẩm mỹ trong điều kiện hiện tại.
Nhìn chung, các mảng vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu hết sức sâu sắc, có giá trị lớn về khoa
học, đó là kho tài liệu quý báu làm cơ sở lý luận cho việc tham khảo nghiên cứu, thực hiện
luận án. Một số tác giả đã bàn đến vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển
con người nói chung. Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối
với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay hầu như vẫn còn bỏ ngỏ. Việc
thực hiện đề tài mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với việc phát triển con
người mới xã hội chủ nghĩa nói chung, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
ở Việt Nam hiện nay cần được kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học tiền bối.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Mục đích: Trên cơ sở lý luận về văn hóa thẩm mỹ, nhân cách và vai trò của
văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách, luận án phân tích, làm rõ vai trò của
văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, từ đó
đề xuất phương hướng và một số giải pháp góp phần phát triển nhân cách sinh viên
Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận về văn hóa thẩm mỹ, nhân cách, tính tương

mỹ và nhân cách, chỉ ra tính tương đồng giữa văn hóa thẩm mỹ và nhân cách, từ đó, làm
rõ vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam;
- Phân tích thực trạng sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do
văn hóa thẩm mỹ mang lại, đồng thời, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong thực trạng ấy;
- Đề xuất và luận giải tính khả thi của một số giải pháp thiết thực nhằm phát
huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phát triển lý luận về văn hoá thẩm
mỹ, nhân cách và vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh
viên nói riêng, con người Việt Nam nói chung hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ
công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy về văn hóa thẩm mỹ trong các trường đại
học, cao đẳng. Luận án cũng có ý nghĩa gợi ý, khuyến nghị đối với những người làm
công tác quản lý văn hoá nghệ thuật, công tác giáo dục đào tạo và những người hoạch
định các chính sách xã hội trong giai đoạn hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết
cấu gồm 3 chương, 9 tiết.
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN ÁN
Chƣơng 1. LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
1.1 Văn hoá thẩm mỹ, nhân cách, những nét tƣơng đồng giữa văn hóa
thẩm mỹ và nhân cách
1.1.1 Văn hoá thẩm mỹ
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của văn hóa thẩm mỹ
Văn hóa thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng hợp thành và là bộ phận hữu cơ
của nền văn hóa nhân loại. Văn hoá thẩm mỹ thống nhất với văn hoá từ bản chất, đặc

10

lại thực hiện chức năng đặc thù, chức năng bao trùm nhất của văn hoá thẩm mỹ là
thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người. Từ chức năng thẩm mỹ chung nhất, văn
hoá thẩm mỹ góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người thông qua các
chức năng xã hội mang những đặc trưng riêng cơ bản sau: chức năng thưởng thức,
chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng giao lưu.
1.1.2 Nhân cách
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của nhân cách
Nhân cách là tổng hợp những đặc điểm về phẩm chất, năng lực của cá nhân
quy định con người như một thành viên của xã hội, mang các giá trị đạo đức, cốt
cách của cá nhân, thể hiện thái độ, hành vi, bản lĩnh của cá nhân phù hợp với các giá
trị xã hội.
Khi bàn về nhân cách, gần gũi và hay bị dùng lẫn lộn là các khái niệm: con
người, cá thể, cá nhân, nhân cách, vì vậy cần phải phân biệt chúng.

11
Nhân cách bao hàm tất cả các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một
con người. Nhân cách được hình thành và phát triển nhờ những quan hệ xã hội mà cá
nhân đó sống, hoạt động. Từ đó, những đặc điểm, thuộc tính, thái độ của họ biến đổi
và dần dần được hoàn thiện, trở thành những đặc điểm, thuộc tính mang tính người,
tính xã hội - đạo đức. Nhân cách là tổng hợp các thái độ, những đặc điểm những
thuộc tính tâm lý trong quan hệ hoạt động của từng người đối với thế giới tự nhiên,
xã hội và đối với chính bản thân mình. Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm về phẩm
chất, năng lực, về thuộc tính tâm lý của cá nhân, nó biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội
của con người.
1.1.2.2 Cấu trúc của nhân cách
Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc nhân cách. Chúng tôi tiếp cận nhân
cách từ góc độ triết học với tính khái quát của nó, ở đó cấu trúc nhân cách bao gồm
hai mặt thống nhất với nhau, đó là phẩm chất và năng lực (đức và tài). Phẩm chất
(đức) là cái làm nên giá trị xã hội của con người, nó được thể hiện ở những khía cạnh
chủ yếu sau:

Nó phản ánh lý trí và tình cảm của nhân loại, là những đỉnh cao trên bước đường đi
tới sự hoàn thiện và hoàn mỹ của con người, nó nhân danh con người, nhân danh
nhân loại lên tiếng mưu cầu tự do và hạnh phúc. Nó đi vào tâm khảm con người như
những nhân cách bất diệt, như là biểu trưng cho sức sống vươn lên của con người.
1.1.3.2 Mục đích của văn hoá thẩm mỹ và nhân cách đều hướng tới cái đẹp
Văn hoá thẩm mỹ nói chung và nghệ thuật nói riêng là “thế giới thứ hai”, là sự
đồng hóa, thẩm mỹ hóa bản thân con người theo tiêu chí của cái đẹp. Văn hoá thẩm
mỹ đã hình thành các thuộc tính thẩm mỹ cho con người, làm cho các hoạt động của
con người phù hợp với những thuộc tính vốn có của thế giới khách quan. Đồng thời,
khi đồng hóa bản thân con người bằng thẩm mỹ, văn hoá thẩm mỹ đã làm thành cái
tồn tại độc lập với con người như một khách thể và chính khách thể này là phương
tiện cho con người hình thành những phẩm chất mới.
Những giá trị thẩm mỹ đã tác động đến sự hình thành, làm phong phú và làm
lành mạnh đời sống tinh thần, góp phần tạo nên những phẩm chất của con người. Văn
hoá thẩm mỹ đã mang lại cho con người những tình cảm thẩm mỹ trong sáng. Đồng
thời, cái đẹp gắn với bản chất sáng tạo, với sự tự sản sinh ra con người với tư cách là
một nhân cách.
Văn hoá thẩm mỹ đã xây dựng những giá trị tích cực, tạo nên những hình
tượng mẫu mực về sự phát triển và tiến bộ, về những con người lý tưởng. Mục đích
tối thượng và cuối cùng của văn hoá thẩm mỹ là thể hiện lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp
nhất của con người, của loài người, dẫn dắt con người tới một thế giới hoàn thiện.
Mục đích này đồng nhất với nhân cách cao đẹp.
1.1.3.3 Văn hoá thẩm mỹ - nhân tố độc đáo trong phát triển nhân cách
Thông qua những cảm xúc thẩm mỹ, thế giới chứa đựng những giá trị thẩm mỹ
nói chung, thế giới nghệ thuật nói riêng tác động hết sức độc đáo đến những cơ quan
cảm thụ tinh tế nhất, sâu xa nhất của con người, kích thích con người phát huy cao độ
tính năng động, tìm tòi, vượt khó, hướng tới dự định mà chủ thể mong đạt tới trong
cuộc sống.
Nghệ thuật tác động mạnh đến tình cảm, tư tưởng, giúp người cảm thụ tự thanh
lọc, gạn đục khơi trong, tự điều chỉnh mình trong cuộc sống. Đồng thời, những ý

của những yếu tố cơ bản: hoạt động, giao tiếp, giáo dục, môi trường tự nhiên - xã hội.
Thứ hai, sự hình thành và phát triển nhân cách luôn thống nhất giữa các yếu tố
cá nhân và các yếu tố cộng đồng, giữa mặt sinh vật và mặt xã hội.
1.2.2 Văn hoá thẩm mỹ định hướng giá trị và bồi dưỡng năng lực cảm xúc
cho sự phát triển nhân cách sinh viên
Lý tưởng thẩm mỹ ở mỗi cá nhân không chỉ tác động đến các yếu tố cấu thành
ý thức thẩm mỹ mà còn tác động đến toàn bộ các nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, lý
tưởng nói chung trong phẩm chất của nhân cách sinh viên.
Hình tượng nghệ thuật hướng sinh viên tới cái đúng, cái thiện, cái đẹp trong
cuộc sống.
Hoạt động nghệ thuật hướng cho sinh viên tinh thần lao động và học tập tích
cực, biết vượt lên khó khăn để đạt được ước mơ của mình.
Văn hoá thẩm mỹ định hướng giá trị cho nhân cách sinh viên bằng chính
những giá trị nhân sinh mà nghệ thuật mang lại.
Văn hoá thẩm mỹ góp phần phát triển thế giới tinh thần, tình cảm của sinh viên.
Nó tác động đến toàn bộ thế giới tình cảm - cảm xúc, lý trí và ý chí của sinh viên.
Văn hoá thẩm mỹ với chức năng trau dồi sự tinh tế, độ nhạy cảm của năng lực
cảm xúc giúp con người tìm thấy chính mình trong những cảm xúc vô tư, trong sáng
trước cái đẹp.
1.2.3 Văn hóa thẩm mỹ hoàn thiện năng lực tư duy và phát triển năng lực
sáng tạo của sinh viên
Văn hóa thẩm mỹ không chỉ đánh thức năng lực sáng tạo tiềm ẩn trong sinh
viên mà còn làm cho những kết quả sáng tạo đó có ích hơn, nhân văn hơn.
Văn hóa thẩm mỹ tác động đến vùng cảm xúc tinh tế và sâu kín nhất của tâm
hồn sinh viên, đánh thức những năng lực tiềm ẩn, làm nảy sinh nhu cầu cảm thụ và
sáng tạo cái đẹp bằng những liên tưởng, tưởng tưởng, gợi mở. Hoạt động thẩm mỹ
cũng tác động vào toàn bộ các vùng sáng tạo tiềm ẩn trong sinh viên làm cho những

14
gì nằm dưới đáy sâu tiềm thức chợt bừng dậy, lay động, lan toả biến chúng thành

khác nhau. Nó định hướng giá trị đối với sự phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng lực
cảm xúc, hoàn thiện năng lực tư duy và phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên.
Với vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên như đã
trình bày ở trên, chúng ta sẽ có cơ sở để sử dụng văn hoá thẩm mỹ góp phần phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam.

15
Chƣơng 2. VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Đặc điểm nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
Nhân cách sinh viên Việt Nam là sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam, cùng
sự tác động của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Việt Nam, hình thành nên
những phẩm chất, năng lực phù hợp với yêu cầu xã hội Việt Nam.
2.1.1. Thế giới quan của sinh viên
2.1.1.1. Lý tưởng và niềm tin của sinh viên
Khi đánh giá về lý tưởng và niềm tin của sinh viên Việt Nam hiện nay có hai
luồng quan điểm. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng sinh viên Việt Nam hiện nay ít
quan tâm đến tình hình đất nước, vận mệnh đất nước, ưa sống, suy nghĩ và hành động
theo lối thực dụng, ích kỷ cá nhân. Luồng quan điểm thứ hai cho rằng sinh viên Việt
Nam hiện nay yêu nước, quan tâm đến tình hình đất nước và tin tưởng vào tương lai
của đất nước.
2.1.1.2. Tri thức của sinh viên
Sinh viên Việt Nam hiện nay được trang bị tri thức căn bản, hệ thống, toàn
diện và có định hướng. Tri thức của sinh viên Việt Nam hiện nay khá đa dạng và
phong phú, nó được cập nhật từ nhà trường, từ thầy cô, bạn bè, từ các phương tiện
thông tin đại chúng…. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả của việc trang bị tri thức
cho sinh viên hiện nay chưa cao.
2.1.2. Đạo đức cá nhân của sinh viên
Đạo đức cá nhân của sinh viên thể hiện ở lý tưởng, niềm tin vào Đảng, vào con

những phẩm chất đạo đức cá nhân, hình thành phẩm chất ý chí, tính kỷ luật, tính phê
phán, cung cách ứng xử ở sinh viên, đồng thời, góp phần phát triển năng lực chủ thể
hóa, trong đó có năng lực thẩm mỹ ở nhân cách sinh viên Việt Nam.
Sự phong phú các môn học trong chương trình khung tạo điều kiện để sinh
viên có một “phông” văn hóa cao, góp phần hoàn chỉnh thế giới quan, nhân sinh
quan, tiến tới hoàn thiện nhân cách.
Giá trị thẩm mỹ nằm tiềm ẩn trong nội dung và kết cấu của từng môn học trong
khung chương trình tạo cho sinh viên sự say mê, hứng thú, hăng hái trong học tập và sáng
tạo, góp phần phát triển những phẩm chất xã hội và năng lực xã hội hóa của sinh viên.
Tuy nhiên, chương trình giáo dục đại học quá dài làm hạn chế khả năng sáng
tạo, năng lực xã hội hóa và năng lực hành động của sinh viên.
Chương trình giáo dục đại học ở nước ta vừa thừa lại vừa thiếu làm hạn chế
phát triển tư duy của sinh viên.
Chương trình học nặng về chuyên ngành nhưng dàn trải, hạn chế kiến thức
chuyên sâu khiến cho sinh viên hoang mang, kém tự tin, hạn chế trong hoạt động và
hiệu quả công việc, hạn chế phẩm chất xã hội trong sinh viên,
Chương trình học không có học phần trang bị kiến thức về phương pháp học
tập, phương pháp nghiên cứu khoa học hay cách viết luận văn làm hạn chế năng lực
sinh viên.
Chương trình nặng về lý thuyết, hạn chế trong thực hành làm cho sinh viên bỡ
ngỡ, thiếu tự tin với những kiến thức, hạn chế phẩm chất xã hội, năng lực chủ thể hóa
và năng lực hành động của sinh viên.
2.2.2 Trong công tác giảng dạy của giảng viên
Sự học tập không ngừng nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng sư phạm của
giảng viên tạo cho sinh viên niềm ngưỡng mộ, kính trọng; thúc tinh thần ham học của
sinh viên, hướng sinh viên tới giá trị đích thực của học vấn.
Sự tìm tòi, học hỏi nhằm đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên tạo cho
sinh viên sự kính trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh người thầy; kích thích những phẩm chất
xã hội, phẩm chất tính cách cũng như năng lực xã hội hóa và năng lực hành động
trong nhân cách sinh viên. Tuy nhiên, sự đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng

phẩm chất tính cách và năng lực chủ thể hóa trong nhân cách sinh viên. Nó không
những làm xấu đi hình ảnh của những trí thức tương lai mà làm hạn chế phát triển
năng lực cảm xúc, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo ở một bộ phận sinh viên Việt
Nam hiện nay.
Ý thức học tập của một bộ phận sinh viên chưa cao, chưa đáp ứng được nhu
cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay. Điều này không những làm cho sinh viên không tích
lũy đủ lượng kiến thức cần thiết, làm hạn chế năng lực tư duy và năng lực sáng tạo
của sinh viên mà còn làm thui chột ý chí phấn đấu, tinh thần vươn lên trong cuộc
sống của họ. Sinh viên không nhận thấy cái đẹp trong tri thức, dẫn đến không thấy
được chân giá trị trong cuộc sống mà đuổi theo những giá trị ảo.
Nghiên cứu khoa học không những củng cố kiến thức đã học mà còn phát huy
tính năng động, sáng tạo và góp phần phát triển khả năng làm việc độc lập, rèn luyện
tính tự chủ và bản lĩnh trong nhân cách sinh viên. Tuy nhiên, hiện nay, còn không ít
sinh viên còn lười biếng, thiếu tính chủ động, sáng tạo trong học tập. Trước hết, sự
lười biếng trong học tập này sẽ làm cho một bộ phận sinh viên thấy buồn chán, thất
vọng, khủng hoảng tâm lý, hạn chế ý chí phấn đấu trong học tập và cuộc sống. Đây là
điểm yếu trong phát triển những phẩm chất tính cách, phẩm chất xã hội, năng lực xã
hội hóa và năng lực hành động trong nhân cách sinh viên.
Sự hăng say học tập tin học và ngoại ngữ làm tăng khả năng kết nối thông tin,
mở rộng tầm nhìn ra thế giới; phát huy sự nhanh nhẹn, hoạt bát, năng động, tự chủ

18
trong hoạt động của sinh viên. Việc sử dụng internet như một điều kiện và phương
tiện học tập hiện đại, hiệu quả kích thích tinh thần ham học hỏi, làm chủ công nghệ
của sinh viên; phát triển những phẩm chất xã hội, phẩm chất tính cách cũng như năng
lực chủ thể hóa, xã hội hóa và năng lực hành động trong nhân cách sinh viên.
2.3 Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn hóa thẩm
mỹ mang lại thông qua hoạt động chính trị xã hội và hoạt động vui chơi giải trí
2.3.1 Trong hoạt động chính trị - xã hội của sinh viên dưới sự dẫn dắt của
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam

của sinh viên hoặc ý nghĩa giáo dục của chúng đối với sinh viên còn thấp, làm giảm
đi ý nghĩa tốt đẹp trong các hoạt động của sinh viên cũng như tính định hướng giá trị
đối với nhân cách sinh viên của những hoạt động này.
19
2.3.2 Trong vui chơi giải trí của sinh viên
Hoạt động thể dục, thể thao mang lại cho sinh viên sức khỏe dẻo dai, bền bỉ,
thân hình cân đối hài hòa, nhanh nhẹn, vừa rèn luyện trí tuệ sáng suốt, mạch lạc và
tinh thần sảng khoái; phát triển phẩm chất tính cách, phẩm chất xã hội và năng lực
hành động của sinh viên.
Hoạt động văn hóa văn nghệ góp phần định hướng và giáo dục thẩm mỹ, âm
nhạc, khơi dậy nét văn hóa truyền thống trong sinh viên.
Các sân chơi bổ ích tạo điều kiện cho sinh viên được giao lưu, chia sẻ, thể hiện
khả năng, giải tỏa tinh thần, phát huy sự tự tin, nhanh nhẹn, nâng cao kiến thức và các
kỹ năng trong cuộc sống.
Sử dụng internet như một phương tiện thông tin, giải trí lành mạnh góp phần
nâng cao năng lực hội nhập với xã hội của sinh viên. Tuy nhiên, đa số thanh niên trong
đó có sinh viên vào mạng với những mục đích ngoài học tập. Điều đó làm lãng phí thời
gian, tiền bạc, sức lực của sinh viên vào những việc tiêu khiển vô bổ và độc hại, không
còn đủ thời gian, sức lực, tâm trí và tiền bạc để đầu tư cho lao động, học tập và các
hoạt động lành mạnh khác, thậm chí gây ra các tệ nạn xã hội khác. Điều đó làm hạn
chế phát triển năng lực cảm xúc và năng lực tư duy trong nhân cách sinh viên.
Giải trí bằng những bài hát với giai điệu và ca từ phản thẩm mỹ làm vẩn đục
tâm hồn, cản trở tính định hướng thẩm mỹ của âm nhạc tới nhân cách sinh viên, hạn
chế phát triển phẩm chất xã hội của sinh viên Việt Nam hiện nay.
2.4 Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn hóa thẩm
mỹ mang lại thông qua môi trƣờng nhà trƣờng
2.4.1 Cấu trúc cơ sở vật chất, không gian kiến trúc và cảnh quan của nhà

trường làm lây lan những hành vi và lối sống tiêu cực trong sinh viên, làm hạn chế
phát triển nhân cách sinh viên.
Những hoạt động chia sẻ, trao đổi, giao lưu của Đảng ủy và Ban giám hiệu
giúp sinh viên tự tin bước vào môi trường học tập mới, cảm nhận được bầu không khí
dân chủ, cởi mở trong nhà trường, tự hào với ngôi trường, ngành học mà mình đang
theo đuổi; phát triển phẩm chất xã hội hóa trong nhân cách sinh viên Việt Nam.
Hoạt động tích cực và hiệu quả của các phòng ban chức năng trong trường góp
phần xây dựng môi trường văn hoá thẩm mỹ đẹp trong các trường đại học, cao đẳng,
phát triển phẩm chất xã hội và phẩm chất tính cách trong nhân cách sinh viên Việt
Nam. Tuy nhiên, lối làm việc quan liêu và thái độ thiếu thân thiện của một số bộ phận
hành chính tạo tâm lý e ngại của sinh viên khi phải tiếp xúc với những bộ phận này,
làm hạn chế việc phát triển phẩm chất xã hội, phẩm chất đạo đức và phẩm chất tính
cách trong nhân cách sinh viên Việt Nam.
2.5 Những vấn đề đặt ra trong sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
hiện nay do văn hóa thẩm mỹ mang lại
2.5.1 Mâu thuẫn giữa lượng tri thức thẩm mỹ còn hạn chế của sinh viên với
sự phát triển ngày càng đa dạng của đời sống thẩm mỹ xã hội
2.5.2 Mâu thuẫn giữa nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ ngày càng đa đạng của
sinh viên với sự phát triển còn hạn chế của các trường đại học, cao đẳng
2.5.3 Mâu thuẫn giữa mặt trái của cơ chế thị trường với những chuẩn mực
văn hoá thẩm mỹ của xã hội
Kết luận chƣơng 2
Với mục tiêu phân tích, làm rõ vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, chúng tôi tìm hiểu, đánh giá thực trạng
sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn hóa thẩm mỹ mang lại
thông qua hoạt động giảng dạy và học tập; hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động
ngoài giờ học; môi trường văn hoá thẩm mỹ trong nhà trường.
Nghiên cứu vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh
viên Việt Nam hiện nay thông qua quá trình giảng dạy và học tập trong các trường
đại học, cao đẳng chúng tôi nhận thấy: hai chủ thể chính trong nhà trường là giảng

nền văn hóa thẩm mỹ Việt Nam với sự phát triển con người toàn diện; phát huy các
giá trị thẩm mỹ tích cực và tiến bộ trong truyền thống văn hoá dân tộc, xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; từng bước tiếp
nhận những tinh hoa văn hoá của nhân loại; xây dựng cơ sở vật chất và tinh thần của
nền văn hoá thẩm mỹ; tạo nên một đời sống thẩm mỹ phong phú và đa dạng phục vụ
đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cơ sở vật chất và
tinh thần cho phát triển con người Việt Nam nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng.
Phương hướng nêu trên được thực hiện bởi các phương hướng cụ thể sau:
3.1.1 Nhận thức và định hướng đúng sự phát triển nền văn hóa thẩm mỹ
nhằm phát huy vai trò của nó trong phát triển nhân cách sinh viên
Chúng ta phải hiểu đúng những đặc điểm đặc thù của văn hóa thẩm mỹ và
nhân cách, về mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng.
Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa thẩm
mỹ trong việc phát triển nhân cách.
Chúng ta xem xét nhìn nhận đánh giá vấn đề dưới sự chỉ dẫn của Mỹ học Mác
–Lênin, quan điểm, tư tưởng văn hoá, văn nghệ của Hồ Chí Minh.
Những vấn đề có tính định hướng của Đảng về vai trò của văn hóa, văn hóa
thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật trong đời sống tinh thần phải thể hiện ra bằng những
giải pháp thiết thực nhằm nâng cao thể chất và tinh thần, tri thức và kinh nghiệm của

22
con người, phát huy tính sáng tạo của tuổi trẻ, đưa đến sự hài hòa giữa tính cách và
khí chất của con người, v.v. thực hiện mục tiêu lớn là phát triển con người toàn diện.
Sự xích lại gần nhau giữa các giá trị văn hóa của các dân tộc đang là xu hướng
mang tính toàn cầu, do đó, phải mở rộng các quan niệm về giá trị theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, mở cửa giao lưu, đẩy mạnh các quan hệ song phương và đa phương
trên mọi lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội, hội nhập vào tiến trình phát triển chung
của nhân loại.
3.1.2 Xây dựng nền văn hóa thẩm mỹ hiện đại trên cơ sở văn hoá thẩm mỹ
truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hoá thẩm mỹ của nhân loại

thích đáng đến công tác xoá đói giảm nghèo; cải thiện an sinh xã hội và xây dựng
chiến lược phát triển con người 23
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ
đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
3.2.1 Nâng cao chất lượng văn hóa thẩm mỹ trong công tác giáo dục đào tạo
nhằm phát triển nhân cách sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng
Đổi mới nhận thức của những nhà hoạch định chính sách giáo dục, những nhà
quản lý giáo dục, những người trực tiếp làm công tác giáo dục đào tạo cho tới toàn bộ
xã hội để họ nhận thức đầy đủ giá trị của văn hóa thẩm mỹ trong phát triển nhân cách
sinh viên.
Nhà nước cần tạo ra môi trường pháp lý, xây dựng các kế hoạch, tạo ra các
thiết chế tài chính, đầu tư về cơ sở vật chất, đề ra các cơ chế cần thiết cho sự quản lý
nhà nước trong tác giáo dục nói chung và giáo dục thẩm mỹ nói riêng.
Sinh viên cần được tiếp nhận các hình thức giáo dục tổng hợp với sự kết hợp
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều bộ môn, cần được trang bị một phông văn hóa chung.
Kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục sinh viên.
3.2.2 Nâng cao trình độ thẩm mỹ của sinh viên trong quá trình học tập, rèn
luyện, phát triển nhân cách
Yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ thẩm mỹ của sinh viên là giáo dục thẩm
mỹ cho sinh viên.
Nội dung chủ yếu của giáo dục thẩm mỹ là văn hoá thẩm mỹ và văn hoá nghệ
thuật, giáo dục tình cảm thẩm mỹ trong sáng, giáo dục những giá trị văn hoá truyền
thống của dân tộc, kinh nghiệm hoạt động, sáng tạo thẩm mỹ nói chung của loài
người qua các thời đại, cung cấp các tri thức mỹ học Mác-Lênin là quan trọng và có
tính chiến lược.
Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên cần tuân thủ theo những nguyên tắc giáo dục
chung, đó là nhận thức thẩm mỹ cũng đi theo con đường biện chứng của sự nhận thức

năng cảm thụ và đánh giá thẩm mỹ, tránh được sự hoạt động tuỳ tiện, tự phát trong
cảm thụ, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ.
Gắn lý luận về văn hóa thẩm mỹ với thực tiễn văn hóa thẩm mỹ trong giáo dục
văn hóa thẩm mỹ cho sinh viên không chỉ là trách nhiệm của giảng viên mà là trách
nhiệm của mọi cá nhân trong xã hội, trong đó không thể không bàn tới việc kết hợp
giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình giáo dục.
Các biện pháp có hiệu quả cao, gắn lý luận với thực tiễn là tổ chức cho sinh
viên nghiên cứu thực tế, tham gia các phong trào văn hoá văn nghệ, các hoạt động
chính trị - xã hội, tham quan các bảo tàng, triển lãm, các di tích văn hoá lịch sử; tạo
điều kiện để sinh viên được cập nhật tình hình thực tiễn cuộc sống hằng ngày thông
qua các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng; để sinh viên tự trải nghiệm
những tri thức lý luận thẩm mỹ thông qua các hoạt động sáng tạo thẩm mỹ.
Kết luận chƣơng 3
Chúng tôi cho rằng, để khắc phục những hạn chế của thực trạng đã nêu, cần
phải kiên định đi theo mục tiêu văn hoá của Đảng “xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc”. Cụ thể hoá mục tiêu đó thành phương hướng phát huy vai
trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên hiện nay là: nhận
thức và định hướng đúng sự phát triển của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển
nhân cách sinh viên; xây dựng nền văn hóa thẩm mỹ hiện đại trên cơ sở văn hoá thẩm
mỹ truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hoá thẩm mỹ của nhân loại; cải thiện đời
sống kinh tế - xã hội như là yếu tố văn hóa thẩm mỹ tổng hợp tác động tích cực với
sự phát triển nhân cách sinh viên.
Để thực hiện mục tiêu đó, chúng tôi cho rằng cần thực hiện đồng bộ những giải
pháp cụ thể:
1. Nâng cao chất lượng văn hóa thẩm mỹ trong công tác giáo dục đào tạo nhằm
phát triển nhân cách sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng
2. Nâng cao trình độ thẩm mỹ của sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện
phát triển nhân cách
3. Xây dựng môi trường văn hoá thẩm mỹ trong các trường đại học, cao đẳng
4. Gắn lý luận về văn hoá thẩm mỹ với thực tiễn văn hoá thẩm mỹ trong giáo

3. Với những nét đặc thù, văn hóa thẩm mỹ tồn tại những nét tương đồng với
nhân cách cao đẹp. Văn hoá thẩm mỹ là lĩnh vực độc đáo biểu hiện một cách tổng
hợp toàn bộ thế giới thẩm mỹ bên trong của con người, góp phần quan trọng cải tạo
bản thân con người theo quy luật của cái đẹp. Văn hoá thẩm mỹ là nơi chứa đựng
những giá trị thể hiện ước mơ, khát vọng của con người, của dân tộc, của thời đại; đó
cũng chính là những giá trị thể hiện ước mơ, khát vọng hoàn thiện con người. Về mặt
nhân cách, nó là những giá trị thể hiện đỉnh cao của một nhân cách. Văn hoá thẩm mỹ
đã hình thành các thuộc tính thẩm mỹ cho con người, làm cho các hoạt động của con
người phù hợp với những thuộc tính vốn có của thế giới khách quan. Đồng thời, khi
đồng hóa bản thân con người bằng thẩm mỹ, văn hoá thẩm mỹ đã làm thành cái tồn
tại độc lập với con người như một khách thể và chính khách thể này là phương tiện
cho con người hình thành những phẩm chất mới. Mục đích tối thượng và cuối cùng
của văn hoá thẩm mỹ là thể hiện lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp nhất của con người, của
loài người, dẫn dắt con người tới một thế giới hoàn thiện. Mục đích này đồng nhất
với nhân cách cao đẹp. Trước những giá trị thẩm mỹ - sự đúc kết kinh nghiệm của
nhiều thế hệ, cảm thụ cuộc sống của người sáng tạo thẩm mỹ được lựa chọn, cô đúc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status