GHÉP TẠNGMỤC TIÊU:
- Biết các nguyên lý và nguyên tắc cơ bản về miễn dòch học ghép.
- Hiểu đại cương về tiêu chuẩn chọn cặp cho-nhận trong các loại ghéptạng khác nhau; nói
qua về khía cạnh đạo đức, xã hội trong việc cho và lấy tạng để ghép.
- Hiểu đại cương về các kỹ thuật ngoại khoa trong ghép tạng.
Tạng hay phủ tạng con người gồm : thận,
gan, phổi, tim, ruột, tụy tạng. Các cơ quan
này khi bò các bệnh bẩm sinh, bệnh mạn
hay cấp tính không hồi phục được chức
năng, bò mất hoàn toàn hoặc còn không
đáng kể, phải điều trò bằng những phương
pháp thay thế tạng. Điều trò thay thế tạng
có thể là máy có chức năng thay thế nhân
tạo (thận, tim, tim-phổi nhân tạo …); hoặc
cấy ghép tạng của một người khác hiến
tặng.
Tạng được ghép cùng vò trí cũ của tạng
bệnh đã phải cắt bỏ (ghép tim, ghép phổi,
ruột non), hoặc ghép khác vò trí (ghép thận,
ghép tụy).
Tạng ghép vào cơ thể của tự người cho gọi
là ghép tự thân (autograft, autogrèffe).
Ghép đồng loài (allograft, allogreffe) là
ghép tạng hay mô cho cùng loài, thí dụ
ghép tạng người cho người. Ghép dò loài
(zenograft, xénogrèffe) là ghép tạng loài
vật cho loài người.
Thành công của ghép tạng đồng loài của Y
1963 : Ghép gan đầu tiên Thomas
Starzl (Huston): sau đó,1968, Roy
Calne (London).
1966: phát hiện phản ứng chéo dương
tính đẫn tới thải ghép tối cấp
(Kissmeyer-Nielson ; Terasaki)
1967: phát triển phương pháp bảo quản
thận (Belzer , 1967)
1967: Christia Barnard ghép tim đầu
tiên, người nhận sống 18 ngày. Sau đó
liên tục thất bại.
1970: Shumway được coi là ngời đầu
tiên thành công trong ghép tim.
1978:dùng Cyclosporine A lần đầu
(Calcineurine Inhibitor)(Calne, 1978)
1978: ghép thận có hòa hợp HLA-DR
(Ting and Morris, 1978)
1987: làn sóng thuốc ức chế miễn dòch
mới: FK506 hay Tacrolimus tức
Prograf
®
)
1992 : Việt Nam, trường hợp ghép thận
đầu tiên từ người cho sống cùng huyết
thống vào tháng 6-1992 tại Học viện
Quân Y, Hà Đông; tháng 12-1992 tại
bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh.
30/01/2004: trường hợp ghép gan từ
người cho sống đầu tiên ở Việt Nam,
tại Học Viên Quân Y, rồi Viện Nhi
nếu lymphôâ bào phát hiện kháng nguyên
lạ, phản ứng miễn dòch sẽ xảy ra làm
hỏng tạng ghép.
Vì vậy, dùng thuốc ức chế miễn dòch là cơ
sở bảo đảm thành công trong phẫu thuật
ghép tạng. Ghép tạng là giải pháp điều trò
tốt nhất cho những trường hợp bò suy chức
năng các phủ tạng do nhiều bệnh và do
3
3
Hình 1: Sự đáp ứng miễn dòch: cơ chế của sự nhận biết kháng nguyên trong miễn dòch
ghép và 2 cơ chế thải ghép (thải ghép dòch thể và thải ghép tế bào)
nhiều nguyên nhân khác nhau.
Khi một kháng nguyên lạ hiện
diện trong cơ thể, các lympho-bào sẽ
nhận biết, ghi nhớ, và lần sau nếu gặp
lại nó sẽ có phản ứng nhằm hủy diệt
kháng nguyên lạ, ta gọi đó là sự đáp
ứng miễn dòch (hình 1).
2. Cơ chế của sự đáp ứng miễn dòch
(hình 1 và 2)
Tác động của sự đáp ứng miễn dòch
theo 2 dạng dòch thể và tế bào. Liên
quan với hai cơ chế tác động này là 2
loại lymphô : lymphô T và lymphô B
(hình 2).
- Miễn dòch dòch thể: Lymphô
B, có vai trò chung là sản xuất các kháng
thể chống lại các kháng nguyên xâm
nhập từ bên ngoài vào. Trong ghép tạng,
4
4
1. Vai trò của nhóm máu trong ghép
tạng
Nhóm máu ABO là các kháng nguyên
mạnh trong ghép tạng. Nguyên tắc là
phải bảo đảm có sự hoà hợp giữa các
nhóm máu thuộc hệ ABO khi cho và
nhận tạng, giống như khi truyền máu.
Các kháng nguyên ABO là hàng rào
cấm kỵ trong ghép tạng. Ghép sai
nguyên tắc này sẽ dẫn đến thải ghép tối
cấp không hồi phục.
Những đối tượng có thể cho hoặc nhận
tạng gồm: những người có cùng nhóm
máu có thể cho và nhận; những người có
nhóm máu O là người cho vạn ứng;
người có nhóm máu AB là người nhận
vạn ứng; người có nhóm máu A và B
không thể cho nhau; người có nhóm A
hoặc B có thề cho nhóm AB.
Nguyên tắc hòa hợp ABO được đặt nặng
trong ghép thận. Với các tạng khác, có
thể chấp nhận bất tương hợp khi cuộc
ghép đó mang tính tối cấp (trong ghép
gan, tim, phổi).
Theo các tác giả, yếu tố Rhésus (Rh)
không có vai trò trong tiêu chuẩn chọn
lựa cho và nhận tạng.
Ngày nay, do tình trạng khan hiếm tạng
(Major Histocompatibility Complex
viết tắt MHC) : là từ ngữ dùng diễn tả
một vùng của các gen nằm trên
nhánh ngắn của nhiễm sắc thể số 6
mang tính di truyền theo đơnbội. Giải
mã protein các gen này người ta thấy
nó
giữ nhiệm vụ thải ghép khi ghép tạng
hoặc mô giữa các loài. MHC là các
mã hiệu trên bề mặt tế bào còn được
gọi kháng nguyên bạch cầu (HLA), vì
các kháng nguyên này được phát
hiện đầu tiên trên tế bào bạch cầu.
5
5
Năm 1958, Dausset ở Paris phát hiện
ra MAC tức HLA-A2, đến nay HLA ra
đời đã 50 năm. Theo Dallman và
Morris (1988), hệ thống phức hợp
tương hợp mô có vai trò lớn nhất trong
sự đáp ứng miễn dòch ghép thận; đối
với các tạng khác vai trò này vẫn quan
trọng, nhưng phần nào ít quan trọng
như trong ghép gan.
Có hai loại HLA chính:
- HLA loại I: Gồm các phân tử mang tên
HLA-A, HLA-B, là 1 chuỗi
polypeptide, trọng lượng phân tử là
45.000 daltons, có 3 vùng dạng cầu
mang tên α
răng, tế bào nội mạc cầu thận, nội
mạc ống thận, và nội mạc vi mạch
thận (hình 3 và 4).
Các loại HLA trên còn chia ra nhiều loại
nhỏ (thí dụ HLA-A2 cũng còn chia ra một
số loại phụ tùy chủng tộc và giống loài).
Ngày nay người ta có thể đònh danh toàn
bộ gen HLA (DNA typing) trong thực
hành chọn cặp cho nhận.
Cả hai loại I và II của MHC đều có vai
trò đặc biệt là nhận biết và đònh danh
các kháng nguyên quen và lạ (mô ghép)
bằng hệ thống miễn dòch qua khả năng
nối kết với peptid của lymphôâ bào cơ
thể.
HLA loại I trên các lymphôâ bào B đáp
ứng miễn dòch với các kháng thể đặc
hiệu, đó là cơ chế miễn dòch dòch thể khi
cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên
(protein lạ) như vi trùng, virút, bướu.
Kháng nguyên tương hợp mô thứ yếu
(Minor Histocompatibility Antigens).
Kháng nguyên tương hợp mô thứ yếu
rất khác với kháng nguyên tương hợp
mô chủ yếu. Đó là các chuỗi peptides
gắn vào chính các MHC. Các kháng
nguyên này vì vậy có thể được nhận
biết bởi lympho bào T (CD4, CD8) như
là một kháng thể MCH, thường là với
loại HLA loại I. Kháng nguyên tương
trở thành người nhận ghép,các kháng thể
kháng HLA này (còn được gọi là “tiền
mẫn cảm” hay thể kháng bạch cầu)
trong cơ thể họ sẽ là “cái bẫy diệt tạng
ghép” chờ sẵn. Vì thế tiền mẫn cảm
dương tính là chống chỉ đònh ghép hàng
đầu, vì thải ghép tối cấp sẽ xảy ra ngay
khi tháo kẹp mạch máu khi vừa nối xong
mạch máu. Ngày nay, dưới sự trợ giúp
của những tiến bộ về lọc kháng thể trong
huyết thanh và thuốc ức chế miễn dòch
người ta có thể lọai trừ kháng thể kháng
HLA và biến những trường hợp chống
chỉ đònh ghép thành những trường hợp có
thể hòa hợp miễn dòch để có thể ghép .
3. Đơn bội, kiểu gen, và kiểu hình
Khảo sát một cá thể có dạng HLA hay
kiểu hình sau: A1, A24, B8, B44 , DR4,
DR15. Chỉ có duy nhất thông tin về
kiều hình này ta không thể đònh danh
đơn bội vì không thể biết kháng
nguyên nào liên kết nhau trên mỗi
nhiễm sắc thể.
7
7
Hình 3: Các gen của HLA loại I và
loại II trên nhánh ngắn của
nhiễm sắc thể số 6. Nửa
hình trên là sơ đồ của các
phân tử, các gen HLA, cấu
chúng được nhân bội từ cùng một đơn
bội, nói một cách chuyên nghiệp hơn đó
là cuộc ghép có sự hòa hợp mô một đơn
bội.
Nếu giữa 2 cá thể không có liên hệ di
truyền gia đình như trên, họ có thể là
người cho sống không cùng huyết thống,
hay người cho chết não khôngcùng
huyết thống. Khi đó ta không thể đònh
danh đơn bội như cách vừa làm trên.
Người ta sẽ tìm sự hòa hợp từng kháng
thể HLA (tức hòa hợp từng kiểu hình
gen) giữa những người chờ ghép và
những người ứng cử viên hiến tạng. Nếu
ghép có sự hòa hợp 1, 2, 3…/6 kháng
nguyên ta gọi là ghép hòa hợp
(1,2,3…/6 match); một cách diễn tả khác
nếu ghép không hòa hợp 1, 2, 3…/6
kháng nguyên ta gọi là ghép bất hòa
hợp (1,2,3…/6 missmatch).
Với các kháng thể hòa hợp mô thứ yếâu,
sự phân chia mang tính tình cờ
4. Liên hệ giữa HLA và các hoạt chất
trung gian (cytokines) trong đáp ứng
miễn dòch ghép.
Bạch cầu dạng đại thực bào của người
nhận khi tiếp xúc với tế bào ghép sẽ làm
bộc lộ hệ MHC loại II để kết nối với
phức hợp CD4 của tế bào T giúp đỡ;
MHC loại I sẽ kết nối với phức hợp CD8
quy luật về đáp ứng miễn dòch học
ghép. Gồm 2 cơ chế chính là:
-Sự nhận biết miễn dòch ghép: là sự
nhận biết mô lạ của tạng ghép trong
ghép đồng loài (hình 5) .
-Bật mở (triggering) quá trình thải ghép:
Khởi đầu thải ghép đến kết thúc khi tế
bào ghép bò hủy diệt.
2. Hai cơ chế chính của thải ghép trong
ghép tạng (hình 2)
- Thải ghép dòch thể: do kháng thể
kháng mô hiện diện sẵn trong cơ thể
người nhận, sau một lần tiếp xúc với
8
8
kháng nguyên (sau mang thai, sau
ghép một lần, sau truyền máu…).
- Thải ghép tế bào: Các kháng nguyên
lạ này hiện diện trên màng của các tế
bào của tạng ghépï. Theo Didier A.
Mandelbrot và Mohamed H. Sayegh,
quá trình có thể chia làm 3 giai đoạn:
+ Lymphô T nhận biết kháng nguyên
lạ.
+ Lymphô-kháng nguyên đặc hiệu được
hoạt hóa.
+ Thải ghép: lympho T hủy diệt tấn
công tế bào ghép (APC).
Tác động giữa các điểm nối tiếp và
polypeptide của lymphô T giúp đỡ làm
thải ghép được trình bày trong hình 1 và
hình 2. Có thể phòng ngừa bằng cách
chọn đúng nhóm máu cho nhận, đònh
lượng kháng thể kháng mô (chọn đúng
nhóm máu cho và nhận, xét nghiệm
tiền miễn dòch, tiền mẫn cảm, làm phản
ứng chéo ngay trước ghép); cuối cùng
phải làm phản ứng chéo như trong
truyền máu ngay trước ghép. Phản ứng
chéo dương tính là chống chỉ đònh tuyệt
đối.
- Thải ghép cấp: Có thể xảy ra bất cứ
lúc nào, thường xảy ra trong vòng 6
tháng đầu sau ghép dù có thuốc ức chế
miễn dòch chống lymphô T. Tế bào T
thụ cảm tiếp xúc với tế bào mô ghép,
làm bộc lộ MHC của mô ghép, làm
hoạt hóa các lymphô T, khiến cho một
lượng lớn lymphô bào xâm nhập và tẩm
nhuận đầy mô ghép và phá hủy nó
(hình 5) (Hình 1,2,5).
Về phân lọai thải ghép cấp, có thể có
nhiều lọai, tùy theo tạng ghép, người ta
phân loại thải ghép cấp theo lâm sàng,
theo giải phẫu bệnh qua mẫu sinh thiết.
Sự bất tương hợp MHC càng nhiều càng
có nguy cơ thải ghép cao. Thải ghép
cấp hồi phục 90-95% trường hợp, dưới
tác dụng của thuốc ức chế miễn dòch
đặc hiệu; nếu điều trò thất bại, người
quan đến miễn dòch ghép và thải ghép,
nhưng cũng liên quan đến độc tính của
thuốc ức chế miễn dòch.
D. CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA
THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
DÙNG SAU GHÉP.
1. Nguyên tắc dùng ức chế miễn
dòch:
- Thuốc ức chế miễm dòch tấn công
vào một trong các chuỗi đáp ứng miễn
dòch: làm chết bớt các tế bào lympho
(trước đây là chiếu tia, nay là các
kháng thể diệt bạch cầu), làm tê liệt
khả năng diễn dòch của gen (các thuốc
loại ức chế DNA); làm giảm sự tăng
sinh tế bào T hoạt hóa; ức chế một chất
trung gian kích hoạt lympho B và T
(CNI) là cơ chế tác dụng của các lọai
thuốc ức chế miễn dòch. Nói chung là
làm giảm miễn dòch của cơ thể.
-Dùng thuốc thuốc ức chế miễn dòch
trong điều trò chống thải ghép theo
nguyên tắc giảm vừa đủ để chống thải
ghép: nhưng luôn phải đối mặt với
nguy cơ biến chứng do quá liều thuốc
và nguy cơ thải ghép do thiếu liều
thuốc. Vì vậy, giống như người di trên
dây, nếu giữ tốt thăng bằng thì tạng
ghép hoạt động tốt và thuốc cũng
không gây biến chứng đáng kể. Nhưng
song sinh cùng trứng (tương hợp miễn
dòch 100%, như ghép tự thân), không
cần thuốc ức chế miễn dòch.
Biện pháp làm giảm miễn dòch đầu tiên
là chiếu tia xạ toàn thân để hủy diệt
bạch cầu, nhưng nguy hiểm vì biến
chứng nặng nề. Azathioprine được dùng
vào những năm đầu 1960 và nhanh
chóng kết hợp thường quy với
Prednisone. Kháng thể đa dòng, là
globulin chống lympnho bào (ATG) và
Globulin chống bạch cầu (ALG) được
dùng vào giữa những năm 1970.
Azathioprine và Prednisone trở thành
nền tảng trò liệu chống thải ghép, ATG
và ALG dùng làm thuốc dẫn nhập trong
giai đoạn đầu mới ghép. Khi đó tỉ lệ ghép
thành công với người cho không cùng
huyết thống là khoảng 50% trong năm
đầu tiên và tỉ lệ tử vong từø 10% đến 20%
[6] (lúc này chưa có HLA).
Tình hình cải thiện hẳn khi Cysclosporine
A ra đời vào đầu những năm 1980. Khi đó
kết quả ghép thận kém, và Cysclosporine
A làm tăng kết quả một cách ý nghóa lên
đến 80% cho năm đầu tiên. Tỉ lệ tử vong
giảm hẳn, liều Prednisone giảm giúp cho
việc chăm sóc và biến chứng của người
giảm miễn dòch nhẹ nhàng hẳn đi.
Sau đó là làn sóng ra đời của nhiều lọai
hiệu quả ức chế miễn dòch và làm
giảm độc tính của thuốc.
- FK506 có cùng cơ chế, cũng có nhiều
độc tính đặc biệt là độc thần kinh và
gây đái tháo đường. FK 506 được
dùng để thay thế CsA trong công thức
“hợp trò 3 loại thuốc”, trong những
trường hợp có bất lợi nếu dùng CsA.
Kết quả lâu dài (5-10 năm) giữa CsA
và FK506 không có sự khác biệt (Hội
nghò thế giới ghép tạng 2006 Boston,
Hội Nghò Châu Âu Ghép tạng Pragha
2007).
CSA và FK506 là hai chất thuộc dòng
thuốc “ chen calcineurin” gần đây
nguoi72 ta nêu rõ độc tính của chúng
là gây ra viêm xơ thận ghép. Vì vậy
hiện có khuynh huong71 giảm thấp
liều dùng trong giai đoạn duy trì ( Sau
1 năm ghép); Không dùng liều cao
như trước đây
- Hai thuốc mới là MMF và Sirolimus,
thay thế các thuốc kinh điển trong
công thức chuẩn giúp giảm tình trạng
thải ghép một cách ý nghóa.Vì vậy
hiện có nhiều công thức và ta có thể
chọn công thức thích hợp. Nhưng các
thuốc mới cũng làm tăng các biến
chứng như gây bùng phát tình trạng
nhiễm virus: viêm gan virus A, B ,C ;
quốc gia lên án và khuyến cáo các chính
phủ cơ bản phỉa ngăn ngừa tình trạng
buôn bán tạng phủ và ép buộc người để
lấy tạng.
2. Cần thực hiện song song y học (với y
đức của giới y học) và đạo đức
trong xã hội giữa người với người
trong việc cho và nhận tạng:
Người thầy thuốc là người hướng dẫn cho
người cho và người nhận không thực hiện
tốt điều đó vô tình hay cố ý, người bác só
ghép tạng sẽ phạm tội. Người cho và
nhận không vì nhu cầu ghép mà nhận
thận với bất cứ giá nào (giá trò đạo đức và
cả giá trò kinh tế); người cho không vì lý
do nhân đạo mà vì tiền mà chấp nhận
nguy hiểm bán đi cơ thể mình. Tệ hơn nữa
khi có tình trạng mua bán tạng (hoặc công
13
13
khai hoặc lén lút), thậm chí buôn lậu và
giết người… để có tạng.
3. Mâu thuẩn giữa sự khan hiếm tạng
(organ shortage) và nhu cầu ghép
tạng
Tạng hiến tặng ngày càng hiếm hoi,
người chờ ghép thì quá nhiều là nguyên
nhân của các tệ nạn trong việc cho và
nhận tạng.
Mặt khác, ngày nay do sự tiến bộ trong
Giữ bí mật về các thông tin có liên
quan đến người hiến, người được
ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật có quy
đònh khác.
B. Một số quy đònh khác về mặt xà
hội và đạo đạo đức xã hội với người
cho, người hiến tạng:
Người cho sống: phải tôn trọng nguyên
tắc tự nguyện. Nhưng tự nguyện cho
thận không vì nhân đạo, vì mục đích
kinh tế không được chấp nhận. Mua
bán tạng có thể gặp rắc rối nhiều vấn
đề như nhân đạo, nhân quyền, pháp
luật, đạo đức, tôn giáo… Lấy tạng phi
pháp là tội ác hình sự.
Người cho chết não: phải tôn trọng
nguyên tắc tự nguyện, cần phải có luật
cho phép lấy tạng và cũng phải tôn
trọng các nguyên tắc như truyền
thống, tôn giáo. Nâng cao kiến thức và
lòng nhân đạo cứu người trong công
chúng là việc làm mang tính văn hóa,
văn minh và khoa học. Người ta thốâng
kê thấy thành công của việc hiến tạng
chết não có vai trò của ngành truyền
thông khoảng 30%.
Người cho bò bệnh nan y: người cho bò
bệnh nan y có thể lấy tạng để ghép là
bướu não giai đoạn nặng không hy vọng
đònh về số lượng người được ghép thận.
Nhưng ở các nước có luật và tập tục cho
phép hiến thận, vẫn không đáp ứng số
người cần ghép, danh sách chờ ghép lúc
nào cũng dài.
Tại các nước có tổ chức hiến thận tốt,
thận từ người cho tử thi (chết não)
chiếm 75%, phần còn lại là thận từ
người cho còn sống trong gia đình và
một phần nhỏ còn lại từ người cho
không quan hệ huyết thống. Hiện có sự
khan hiếm trầm trọng nguồn cho thận,
danh sách chờ luôn đông và thời gian
chờ thường lâu, vì thế ở đasố các nước
có quy tắc phân phối nguồn thận hiến
tặng rất chặt chẽ.
Tại Hoa Kỳ hàng năm có khoảng 4000-
5000 hiến thận (dân số 200 triệu), tại
Pháp có khoảng 3000 (dân số 60 triệu),
tại các nước Châu Á tỉ lệ này thấp hơn.
Hiện đang có tình trạng chờ đợi kéo dài
vì danh sách người chờ quá nhiều và số
người hiến thận ngày càng giảm do các
biện pháp phòng ngừa tai nạn lưu thông
tốt hơn.
Tại Việt Nam, trường hợp ghép thận đầu
tiên từ người cho sống cùng huyết thống
vào tháng 6-1992 tại Học viện Quân Y,
Hà Đông; tháng 12-1992 tại BV Chợ Rẫy
thành phố Hồ Chí Minh do GS Chu-Shue
15
chậu, bệnh hồng cầu liềm (cần ghép
gan và thận cùng lúc).
3. Hòa hợp miễn dòch ghép giữa người
cho và nhận
- Người cho tử thi
+ Người cho chết não (tim còn
đập): Đối với người cho chết não, nếu
thận còn chức năng tốt, không bò bệnh
truyền nhiễm có thể lấy thận để ghép
(không hạn đònh tuổi tác), nhưng phải
đúng luật và đạo đức.
Tiêu chuẩn chết não phải theo đúng luật
do quốc hội ban hành. Nhưng số người
cho tùy thuộc rất nhiều vào ý thức của
công chúng, ngoài ra truyền thống và tục
lệ của các dân tộc cũng ảnh hưởng đến số
người đồng ý cho tạng khi chết não.
Luật hiến thận từ người chết não đã
thông qua ở hầu hết các nước trên thế
giới, tuy thời gian có sớm hay chậm
(Pháp: 1967, Nhật: 1998). Ở nước ta các
nhà chuyên môn, sau hơn 10 năm chuẩn
bò, lấy ý kiến cả nước và tiếp thu kinh
nghiệm thế giới, đã ban hành luật
“Hiến, Lấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể
người và Hiến, Lấy xác”, có hiệu lực
từ tháng 7-2007. Người đầu tiên hưởng
điều luật này là mẹ của một nạn nhân
bò tai nạn giao thông vào tháng 4 năm
tính, bệnh tim mạch có ý nghóa.
Ghép thận từ người cho sống có nhiều
điều lợi, vì không phải đợi chờ, người
thân có thể có tương hợp MHC cao,
nếu đồng gen có thể giảm liều thuốc ức
chế miễn dòch. Nhưng loại ghép tạng từ
người cho sống, có thể sa vào tệ nạn
buôn bán tạng nếu không tôn trọng luật
pháp và đạo đức.
Một số nguyên tắc cơ bản của người cho
thận:
+ Người cho sống phải an tòan tính
mạng khi phẫu thuật và có thể sống bình
thường với 1 thận.
+ Người cho phải hòa hợp các nguyên
tắc cơ bản về miễn dòch ghép: Tiền mẫn
cảm, phản ứng chéo, nhóm máu, HLA.
16
16
+ Người cho không lây nhiễm: Bệnh
nhiễm vi trùng thường (lao, giang mai,
các ổ nhiễm trùng…); virus viêm gan A B
C, CMV, HIV…
+ Nếu 2 thận có chức năng bình
thường và tương đương, người ta sẽ chọn
thận dễ mổ; Nếu 2 thận có chức năng
bình thường nhưng chênh lệch, thận lấy
ghép là thận kém hơn, để lại thận tốt
hơn cho người cho.
4. Phẫu thuật lấy và bảo quản thận
cơ thể bằng dung dòch Euro-Collins 4
0
C.
Cắt thận nguyên khối bao gồm tónh mạch
chủ, động mạch chủ, niệu quản và mỡ
quanh thận.
Hình 8 : Thận ghép lấy từ tử thi (người
chết não), a: động mạch thận có
“pacht”, b: tónh mạch thận, c: mỡ quanh
thận, d: mô mỡ quanh niệu quản, e: niệu
quản đủ dài (15 cm), g: mạch máu nuôi
niệu quản, h: tuyến tuyến thượng thận.
với các nhà niệu khoa, một số đường
mổ khác qua ngả bụng, qua nội soi
cũng được áp dụng. Cắt thận được thực
hiện tỉ mỉ hơn, động và tónh mạch thận
được cắt và cột cẩn thận sát miệng
(ostium), thời gian thiếu máu nóng
không nên quá 5 phút. Một bàn rửa
thận được chuẩn bò chu đáo gồm dung
dòch Euro-Collins, kim và dây truyền
chuyên dùng, ngăn lạnh 4
0
C. Trường
hợp thận bò tổn thương lúc lấy, trường
hợp mạch máu có nhiều cuống sẽ tiến
hành phẫu thuật ngoài cơ thể để tạo
hình trước ghép (hình 9).
5. Kỹ thuật ghép thận: đặt thận ghép
vào vùng hốc chậu Phải (nếu hốc chậu
18
- Thải ghép cấp: có nhiều dạng lâm
sàng, đa số thải ghép cấp xảy ra vào 3
tháng đầu tiên và trong thời gian này,
thường vào cuối 2 tuần đầu. Kinh
nghiệm của GS Chu-Shue Lee (người
thực hiện trường hợp ghép đầu tiên ở
Việt Nam), có 7 triệu chứng của thải
ghép cấp: tăng creatinin huyết thanh
đột ngột (+0.3mg%), tăng huyết áp đột
ngột, tăng trọng đột ngột, kích thước
thận to ra trên siêu âm, sốt, thiểu niệu,
sưng vùng thận ghép, đau vùng thận
ghép. Đây là các triệu chứng lâm sàng
và cận lâm sàng sắp theo thứ tự từ sớm
đến muộn và không phải lúc nào cũng
đầy đủ. Ngòai ra còn nhiều xét nghiệm
cận lâm sàng khác để xác đònh thải
ghép cấp như siêu âm doppler, đồng vò
phóng xạ thận, xét nghiệm tìm kháng
thể kháng bạch cầu, các cytokines…,
quan trọng nhất là sinh thiết thận xem
dưới kính hiển vi thường (theo tiêu
chuẩn Banff); hoặc xét nghiệm giải
phẫu bệnh-miễn dòch cho phép nhìn
thấy lọai lympho bào T (CD4, CD8,
CD25…) bên cạnh mô thận ghép, nhưng
các xét nghiệm này chậm có kết quả,
cần điều trò khẩn cấp người ta dựa vào
lâm sàng là chính.
a: động mạch thận,
a’: động mạch chậu chung,
b: tónh mạch thận,
b’: tónh mạch chậu chung,
c: niệu quản,
d: thành bàng quang,
e: thận bệnh,
e’: thận ghép,
g: động mạch chủ bụng,
h: tónh mạch chủ bụng.
A
B
C
dòch cả về dòch thể lẫn tế bào và cả
những nguyên nhân do ngộ độc thuốc
ức chế miễn dòch. Vì thế nay người ta
thống nhất gọi là CAN. CAN thường
được chẩn đóan kết hợp lâm sàng và
giải phẫu bệnh (sinh thiết).
- Biến chứng do thuốc ức chế miễn
dòch: ngộ độc thuốc và nhiễm trùng (tóm
tắt theo hình 6).
- Biến chứng phẫu thuật: biến chứng
phẫu thuật chủ yếu là rò nước tiểu, tại
chỗ nối niệu quản –bàng quang (khoảng
10-15%); ngược dòng bàng quang-niệu
quản ghép; biến chứng mạch máu ít hơn
(hẹp động mạch thận ghép).
Hình 13: Biến chứng hẹp động mạch
sau ghép thận và phương pháp phẫu
0), có thời gian sống trung bình là 19,4
năm; tương hợp 2 đơn bội trên người cho
trực hệ là 20 năm; ghép tử thi không phù
hợp HLA hoàn toàn là 8,1 năm.
Kinh nghiệm 10 năm qua tại Hoa kỳ cho
thấy trong ghép thận hiện tượng thải
ghép cấp và mạn còn là vấn đề chính.
Nhưng những hiểu biết mới về miễn dòch
ghép và các thuốc ức chế miễn dòch mới
có khuynh hướng cải thiện tốt hơn kết
quả ghép và cho phép người ta ghép
thận có độ hòa hợp ít hoặc thậm chí
không hòa hợp HLA, và chỉ cần hòa hợp
22
22
nhóm máu ABO. Chưa kể đến những
tiến bộ mới về miễn dòch liệu pháp đã có
thể biến những trường hợp có chống
chđònh trong miễn dòch ghép thành ra
miễn dòch ghép (không hòa hợp ABO,
tiền mẫn cảm dươngtính).
B. GHÉP GAN
1. Dòch tễ học:
Xơ gan do rượu chiếm 75% suy chức
năng gan tại các nước công nghiệp phát
triển.
2. Chỉ đònh
- Người lớn
Viêm gan tối cấp, cấp tính:
nguyên nhân do virus viêm gan, bệnh
(bất tương hợp ABO có thể làm thải
ghép tối cấp), trong ghép gan có
những trường hợp bất tương hợp ABO
nhưng dung nạp được.
- HLA: không cần thiết trong ghép gan.
23
23
5. Kỹ thuật lấy gan : (hình 15 và 16)
Hình 15: Ghép gan theo kỹ thuật chuẩn.
Hình 15: Kỹ thuật chuẩn ghép gan « piggy back procedure »
24
24
- Cắt và lấy gan toàn phần:
Quy trình như trong trường hợp lấy thận
trên người chết não, các cuống mạch
máu gan được kiểm soát khi tim còn
đập, một canule cỡ 18 Fr được đặt vào
tónh mạch cửa, cắm sẵn sàng vào dung
dòch UW (Belger UV) ở 4
0
C. Cặp các
cuống mạch máu truyền nhanh dung
dòch UW lạnh cho đến khi gan có màu
trắng. Cắt gan toàn phần, chú ý các
cuống mạch máu và ống mật chủ.
- Cắt và lấy gan bán phần:
Làm giảm khối lượng gan sau khi lấy
gan tử thi toàn phần; cắt thùy gan trên
người cho sống để ghép với quy trình
tương tự nhưng kỹ thuật cắt thùy gan
Ghép gan do bệnh gan mạn có tiên
lượng tốt hơn viêm gan cấp và tối cấp
do nhiều biến chứng hơn vì tình trạng
không ổn đònh. Tỉ lệ sống của gan ghép
trong viêm gan tối cấp là 70% sau 1
năm. Ghép trên viêm gan do virus B,C
hay thấy tình trạng tái nhiễm virus và
xơ gan.
C. GHÉP TIM
1. Dòch tễ học
Tại các nước phát triển danh sách đợi
ghép tim thường dày đặc. Tại Hoa kỳ là
2.800 bệnh nhân, mỗi tháng có thêm
300 người đăng ký chờ ghép, trong khi
mỗi tháng chỉ có 150-160 trường hợp
được ghép tim. Thời gian chờ trung
bình là 300 ngày, có 20% người chờ
ghép tử vong trong thời gian đó.
2. Chỉ đònh
- Suy tim nặng mà điều trò nội khoa
không hiệu quả: tiền căn nhập viện
nhiều lần do suy tim ứ huyết loại III-
IV (New York Heart Association),
đỉnh tiêu thụ oxygen dưới 15%.
- Thiếu máu cơ tim nặng đề kháng lại
các trò liệu qui ước: đau ngực thất
thường, không khả năng nối tắt
mạch vành, không khả năng tạo
hình lòng mạch qua da, EF thất trái
< 30%; loạn nhòp thất tái phát.