LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nhiệm vụ thực tập, thực hiện quan sát, thu thập thông
tin và viết báo cáo, chúng em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy cô
giáo khoa Vật lý trường đại học Vinh, sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị
Tuyết Hạnh- giảng viên khoa Quản lý Học viện quản lý Giáo dục. Chúng em xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tời các Thầy các Cô.
Chúng em cũng xin gửi tới các thầy cô giáo của Học viện Quản lý giáo dục
lời cảm ơn chân thành về sự nhiệt tình trong giảng dạy, đã cung cấp cho chúng
em những kiến thức cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục, làm cơ sở cho chúng
em trong hoạt động thực tập tại cơ sở.
Vì thời gian thực tập ngắn, vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn
chưa nhiều nên mặc dù các thành viên trong nhóm đã có nhiều cố gắng nhưng
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em mong muốn nhận được
từ các Thầy Cô và các bạn những chỉ dẫn và góp ý để định hướng cho chúng em
trong thời gian học tập tiếp theo.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội,
Nhóm thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập cơ sở là hoạt động giúp SV bước đầu quan sát, tìm hiểu hoạt
động quản lý của một CV ở một vị trí công tác cụ thể, sử dụng kiến thức KHQL
đã được trang bị để phân tích, đánh giá về các hoạt động đó, từ đó rút ra bài học
cho nghề nghiệp của SV trong tương lai
Đối với những sinh viên theo học hệ đào tạo cử nhân chuyên ngành Cử
nhân Quản lý giáo dục, qua đợt thực tập sẽ giúp sinh viên tìm hiểu các hoạt
động quản lý giáo dục trong thực tế, hoạt động của một cơ quan quản lý giáo
dục, của nhà trường và các cơ sở giáo dục khác, hoạt động của một cá nhân cụ
thể trong hệ thống quản lý. Từ đó, sinh viên có điều kiện được khẳng định và bổ
sung thêm những kiến thức cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục cũng như ý
thức nghề nghiệp trong tương lai. Sinh viên biết vận dụng các kiến thức về quản
lý và quản lý giáo dục để tìm hiểu, phát triển và đánh giá các hoạt động của một
Năm thành lập:1959
Thể loại:Đại học công lập
Hiệu trưởng:PGS,TS Nguyễn Ngọc Hợi
Sinh viên đại học:khoảng 20.000
Học viên sau đại học:khoảng 280 học viên cao học và 47 nghiên
cứu sinh
Khoa:17 khoa đào tạo
Địa chỉ:182 đường Lê Duẩn,thành phố Vinh,Nghệ An
Điện thoại:038.866452
Website:
b. Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngày 16/07/1959, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ký Nghị Định số 375/NĐ
thành lập Phân hiệu Đại học sư phạm Vinh, đánh dấu một sự kiện đáng ghi nhớ
trong nền Giáo dục Việt Nam hiện đại. Ba năm sau đó, ngày 28/08/1962, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục ký quyết định số 637/QĐ chuyển Phân hiệu Đại học sư
phạm Vinh thành Trường Đại học Vinh. Ngày 25/04/2001, Thủ tướng Chính
phủ ký quyết định số 621/2001/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học sư phạm Vinh
thành Trường Đại học Vinh, khẳng định sự trưởng thành của nhà trường trong
xu thế hội nhập và phát triển nền Giáo dục đại học nước nhà.
Quá trình xây dựng và phát triển từ Đại học sư phạm Vinh đến trường Đại
học Vinh luôn là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, công chức, học sinh, sinh
viên và học viên của trường. Năm học 2009 – 2010 khắc ghi dấu ấn sâu đậm
đối với lịch sử trường – là năm học nhà trường tròn nửa thế kỷ xây dựng và
trưởng thành. Qua 50 năm xây dựng và phát triển, Trường đã trải qua bốn chặng
đường cơ bản sau:
- Từ Phân hiệu Đại học sư phạm Vinh đến Trường Đại học sư phạm Vinh,
chặng đương đầu tiên (1959 – 1965)
- Trường Đại học sư phạm Vinh trong những năm sơ tán (1965 – 1973
- Trường Đại học sư phạm Vinh vượt qua khó khăn, từng bước mở rộng
theo hướng đa ngành (1973 – 2001)
- Hoạt động nghiên cứu khoa học có những tiến bộ vượt bậc. Từ năm 2001
đến năm 2009, Trường Đại học Vinh đã thực hiện 38 đề tài cấp Nhà nước,
164 đề tài cấp Bộ và 1.001 để tài cấp sơ sở(trường).
2 Khoa Vật lý
a.Giới thiệu chung:
Năm thành lập:1961
Trưởng khoa:TS Đoàn Hoài Sơn
Tổng số cán bộ:30
Địa chỉ:Khoa vật lý,đại học Vinh,182 lê Duẩn,thành phố
Vinh,Nghệ An
Điện thoại:038.3855777
Website:
b. Lịch sử hình thành và phát triển:
Khoa Vật lý – Trường Đại học Vinh ngày nay mà tiền thân là bộ
môn Vật lý chỉ gồm 11 cán bộ, được Bộ Giáo dục ra quyết định thành
lập vào tháng 8/1961 và do thầy Võ Văn Thu làm Trưởng bộ môn. Đến
tháng 8/1962 Bộ Giáo dục ra quyết định thành lập ba khoa: khoa Văn,
khoa Toán và khoa Lý – Hóa – Sinh, đồng thời chuyển phân hiệu
Trường Đại học sư phạm Vinh thành Trường Đại học sư phạm Vinh.
Khoa Lý – Hóa – Sinh đầu tiên do thầy Hoàng Quý làm chủ nhiệm khoa.
Năm 1963 Bộ Giáo dục quyết định thành lập khoa Vật lý thuộc Trường
Đại học sư phạm Vinh, do thầy giáo Hoàng Quý làm chủ nhiệm khoa,
Thời kỳ đầu khoa có hai tổ bộ môn:
- Bộ môn Cơ nhiệt – Thiên văn do Thầy Nguyễn Đình Doãn làm tổ
trưởng.
- Bộ môn Điện quang – Vật lý nguyên tử do Thầy Nguyễn Quyên làm tổ
trưởng.
Đến những năm 1969 – 1970, khoa bắt đầu đào tạo hệ sư phạm 4
năm, khóa đào tạo đông nhất năm 1970 của khoa Vật lý đã lên tới 700
sinh viên. Trải qua hơn 8 năm trường kỳ gian khổ, khoa Vật lý đã cùng
học Vật liệu – viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Viện khoa học kỹ
thuật quân sự và Viện hàn lâm khoa học Ba Lan để tổ chức các hội thảo
khoa học cấp quốc gia và đào tạo sau đại học.
II. Chức năng,nhiệm vụ của khoa vật lý
Đào tạo hệ đại học: cử nhân sư phạm ngành vật lý,cử nhân khoa
học ngành vật lý và cử nhân vật lý- Tin học ứng dụng.
Đào tạo thạc sĩ: chuyên ngành quang học và chuyên ngành phương
pháp.
Đào tạo tiến sĩ: chuyên ngành quang học và chuyên ngành phương
pháp giảng dạy vật lý.
Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ: các hướng nghiên
cứu chính của khoa là: quang học- quang phổ, vật lý lý thuyết, công
nghê nano, vật lý hạt nhân nguyên tử, nghiên cứu ứng dụng công
nghệ điện tử…
Phần 2:Mô tả,phân tích hoạt động của Trợ lý đào tạo khoa.
I.Đặc điểm tình hình hoạt động của khoa Vật lý_Đại học Vinh
Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển,khoa vật lý đã ngày càng lớn
mạnh,khẳng định thương hiệu của mình trên khắp cả nước.Hiện nay,công tác
giảng dạy của khoa bao gồm nhiều bộ phận,trong đó có 5 bộ môn chính đó là:Bộ
môn phương pháp giảng dạy,bộ môn vật lý lý thuyết,bộ môn quang học_quang
phổ,bộ môn vật lý đại cương và bộ môn vật lý kỹ thuật.
Công tác đào tạo của khoa phân thành 3 mảng chính:
Một là:Đào tạo đại học hệ chính quy:Với bề dày 50 năm,khoa vật lý đã đào
tạo hơn 5000 giáo viên vật lý có trình độ đại học cung caaos cho hệ thống giáo
dục nước nhà.Nhiều cán bộ đào tạo từ khoa vật lý đang giữ các vị trí quan trọng
trong bộ máy quản lý các cấp ngành giáo dục và trong toàn xã hội.Thương hiêu
“giáo viên vật lý đào tạo từ đại học sư phạm vinh” đã được khẳng định trên toàn
quốc.
Từ năm 2003 đến nay,khoa vật lý có 2 mã ngành đào tạo chính quy là cử
nhân sư phạm(hệ A)và cử nhân khoa học(hệ B).Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm là
Ba là:Đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm(hệ tại chức).
Từ năm 1997 đến nay khoa Vật lý phối hợp với khoa Toán trường Đại học
Vinh đào tạo Cử nhân sư phạm Toán Lý hệ vừa học vừa làm; đối tượng tuyển
sinh là giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư
phạm Toán Lý, Lý – Kỹ thuật công nghiệp, Lý – Tin. Các lớp được mở thường
xuyên ở các tỉnh thành trong cả nước, kế hoạch cụ thể do Trung tâm giáo dục
thường xuyên nhà trường thông báo. Hình thức đào tạo linh hoạt đã tạo cơ hội
học tập cho mọi người trong đối tượng tuyển sinh.
Trong 10 năm qua Khoa đã nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn (từ
Cao đẳng sư phạm lên Cử nhân sư phạm) cho hàng ngàn giáo viên Toán, Lý và
cán bộ quản lý giáo dục ở các tỉnh phía Bắc miền Trung, góp phần xây dựng đội
ngũ nhà giáo vững mạnh trong công cuộc chấn hưng giáo dục nước nhà.
Hiện nay (2008) khoa đang đào tạo 20 lớp (khoảng 1400 học viên) hệ vừa học
vừa làm ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình.
II Phân tích hoạt động của trợ lý đào tạo(TLĐT).
1.Sơ đồ cơ cấu tổ chức của khoa vật lý
Nhìn vào sơ đồ cơ cấu tổ chức của khoa,ta thấy ban chủ nhiệm khoa bao gồm 3
thành viên:
.Trưởng khoa:Ts Đoàn Hoài Sơn_Phụ trách chung.
TRƯỞNG KHOA
Phó trưởng khoa Phó trưởng khoa
I
Hội đồng khoa học
Khoa
Trợ lý khoa
.Phó khoa I:TS Lưu Tiến Hưng_phụ trách công tác đào tại
chức,liên kết.
trình công tác đào tạo và quản lý sinh viên.
-Yêu cầu về đào tạo,kỹ năng:
+Thành thạo vi tính văn phòng
+Có kỹ năng ,nắm vững cách thức soạn thảo các loại văn bản.
+Có kỹ năng giao tiếp tốt.
+Có khả năng phối hợp làm việc.
b.Chức năng của TLĐT:
Trợ lý khoa là người giúp việc cho ban chủ nhiệm khoa,trực tiếp là phó
khoa phụ trách đào tạo đại học hệ chính quy trong việc quản lý,điều hành khoa
về mặt hành chính.
c.Nhiệm vụ của TLĐT:
-Quản lý các loại văn bản đến và đi có liên quan đến khoa,tổ bộ môn và
giảng viên thuộc hkoa quản lý.
-Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ năm học(hội nghị học tập,thực tập sư
phạm…)
-Nhận đánh,rọc phách và giao bài cho cán bộ chấm thi,chỉ đạo tổ chức chấm
thi…
-Soạn thảo các loại văn bản phục vụ hoạt động đào tạo của khoa.
-Liên lạc,thông báo các công tác cụ thể của khoa đến các tổ trưởng bộ môn
hoặc trực tiếp với các giảng viên đảm nhiệm.
-Thực hiện các nhiệm vụ khác do ban chủ nhiệm khoa giao.
3.Mô tả,phân tích hoạt động công việc cụ thể của TLĐT
Thầy Nguyễn Tiến Dũng - giảng viên, thạc sĩ thuộc bộ môn Vật lý lý
thuyết được giao trọng trách là trợ lý đào tạo của khoa Vật lý- Đại học Vinh.
Sau 3 tuần thực tập,quan sát,nhóm chúng tôi đã tìm hiểu được 1 số những
công việc,nhiệm vụ cụ thể của TLĐT khoa vật lý_Đại học Vinh như sau:
3.1.Lập kế hoạch đầu năm
3.1.1.Quy trình:
-TLĐT lập kế hoạch năm học(thời khóa biểu dự kiến)cho từng học kỳ và cho
cả năm học.
triển của nhà trường nói chung và khoa Vật lý nói riêng, xem xét mục tiêu trong
từng giai đoạn và cụ thể trong năm nay phải hoàn thành mục tiêu gì, mặt khác
cũng phải dưạ trên nguồn lực của khoa để đưa ra mục tiêu mang tính khả thi.
( Đảm bảo nguyên tắc smarter).Cụ thể:
Thống kê tổng số giờ dạy của các hệ,số giờ lao động của mỗi cán bộ,giảng viên
cần đạt…
+Trên cơ sở đó lập kế hoạch dự kiến.
+Trình cấp trên phê duyệt:Trình Ban chủ nhiệm khoa xử lý,bổ sung.
+Gửi phòng chức năng hoàn thiện:gửi phòng đào tạo xử lý,hoàn chỉnh.
+Tổ chức triển khai thực hiện công việc cụ thể.
Quy trình này phù hợp với nội dung chuyên môn của cách thức lập kế hoạch.
Đồng thời,trong quá trình lập kế hoạch năm học,TLĐT triển khai tìm hiểu
các điều kiện,hoàn cảnh,nguyện vọng của mỗi cán bộ,giảng viên trong
khoa.Việc này vừa giúp TLĐT xây dựng 1 kế hoạch hợp lý,tránh tình trạng
chồng chéo,giúp cho việc thực hiện các nhiệm vụ của cán bộ,giảng viên được
thuận lợi,thông suốt,vừa thể hiện sự gần gũi,quan tâm tới hoàn cảnh các đồng
nghiệp trong khoa,tạo bầu không khí thoải mái,góp phần nâng cao hiệu quả làm
việc.
Việc lập kế hoạch đầu năm được trình lên Ban chủ nhiệm khoa phê duyệt
thể hiện mối quan hệ tương tác qua lại 2 chiều giữa lãnh đạo khoa và
TLĐT.Điều này thể hiện rõ nét vai trò của TLĐT là người trợ giúp cho ban chủ
nhiệm khoa trong công tác quản lý khoa nói chung về mặt hành chính.
3.2.Phối hợp với phòng đào tạo xây dựng thời khóa biểu cho sinh viên.
3.2.1.Quy trình:
Đối với sinh viên khóa 47_đào tạo theo niên chế_thời khóa biểu được phòng
đào tạo xếp dựa trên số lượng các lớp cố định và các môn học dự kiến.
_Đối với khóa 48,49,50_đào tạo theo tín chỉ,thời khóa biểu được sắp xếp theo
hình thức cho sinh viên đăng ký các môn học.Cụ thể như sau:
+ đầu năm học,phòng đào tạo thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương
trình học trong từng học kỳ,danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến
nhiệm và thái độ cầu tiến trong công việc
3.3.Tham gia vào công tác tổ chức thi kết thúc học phần cho sinh viên
3.3.1.Quy trình:
-Cuối kỳ,nhà trường có lịch thi chung cho các sinh viên trong trường.
_TLĐT có nhiệm vụ tổ chức thi cho các bộ môn trong khoa mình.Các công
việc cụ thể của TLĐT trong công tác tổ chức thi bao gồm như sau:
+Công tác chuẩn bị:
.Đôn đốc các tổ trưởng chuyên môn ở khâu ra đề thi.
.Chuẩn bị phòng thi cùng các điều kiện thiết bị vật chất đảm bảo cho ca
thi diễn ra thuận lợi(bàn ghế,điện…)
.Chuẩn bị giấy thi,giấy nháp…
.Bố trí cán bộ coi thi hợp lý
.Thông báo lịch thi cụ thể cho sinh viên biết trước ít nhất 1 tuần.
.Nhận đề thi từ cán bộ,giảng viên phụ trách mỗi môn thi.
.Giao đề thi cho cán bộ coi thi.
+Trong quá trình thi:TLĐT thường xuyên theo dõi,kiểm tra hoạt động của
giảng viên và sinh viên có nghiêm túc hay không để kịp thời xử lý;Kiểm tra các
điều kiện vật chất có đảm bảo cho hoạt động thi diễn ra bình thường hay
không?
+Sau khi kết thúc buổi thi:
.TLĐT nhận bài thi từ cán bộ coi thi.
.Lên phòng kiểm định đánh số phách,cắt phách.
.Giao bài cho cán bộ chấm thi và phổ biến về quy định,nguyên tắc chấm thi cho cán bộ
chấm thi thực hiện nghiêm túc,đúng quy định và thời gian.
Sau khi cán bộ văn phòng phụ trách về điểm thông báo kết quả thi của sinh
viên,TLĐT lập danh sách sinh viên phải thi lại và tiếp tục quy trình tổ chức thi
lại cho sinh viên như quy trình tổ chức thi két thúc học phần ban đầu.Tuy
nhiên,việc tổ chức thi lại do phòng kiểm định phụ trách.TLĐT có nhiệm vụ phối
hợp với phòng kiểm định phân công cán bộ coi thi,chuẩn bị lịch thi,phòng thi cụ
thể.
-Sau khi điểm của sinh viên đã được hoàn chỉnh,TLĐT sẽ thống kê những sinh
viên thuộc diện ngừng học,thôi học.
_TLĐT tìm hiểu về hoàn cảnh của mỗi đối tượng để xem xet lý do.
_TLĐT trình ban chủ nhiệm khoa xem xét,đối chiếu để xét độ minh bạch của
thông tin.
_Sau khi Ban chủ nhiệm khoa đã phê duyệt,TLĐT gửi phòng đào tạo xem xét tùy
trường hợp mỗi đối tượng.
_Tiếp đó,TLĐT sẽ nhận bản xử lý hoàn chỉnh từ phòng đào tạo và phối hợp với cố
vấn học tập để lập kế hoạch học lại cho những đối tượng thuộc diện ngừng học và thực
hiện chấm dứt việc học với những sinh viên thuộc diện thôi học.
3.4.2.Nhận xét:
Đây là một hoạt động công việc quan trọng của TLĐT bởi nó liên quan đến công tác
đào tạo sinh viên.Để thực hiện tốt nhiệm vụ này,TLĐT phải nắm rõ nội dung Điều 15,16
chương II của quy chế đào tạo Đại học,cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ.Mặt
khác,TLĐT phải tìm hiểu,thu thập thông tin,nắm rõ điều kiện từng đối tượng cụ thể giúp
Ban chủ nhiệm khoa,Hiệu trưởng đưa ra các quyết định phù hợp.
Thông qua hoạt động trên của TLĐT cũng như của lãnh đạo khoa,ta thấy việc thực
hiện xét ngừng học,thôi học như trên là đúng quy trình,hợp lý,khoa học.Trước hết,về mặt
chuyên môn,quy trình này đảm bảo việc thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng
quản lý.Đối chiếu với quy chế đào tạo Đại học,cao đẳng theo học chế tín chỉ,quy trình này
hoàn toàn phù hợp.
Mặt khác,TLĐT là người trực tiếp tìm hiểu điều kiện của mỗi đối tượng,cho thấy tinh
thần trách nhiệm,nhiệt tình với công việc của TLĐT.Nhờ đó đã giúp Ban chủ nhiệm khoa
đưa ra những quyết định đúng dắn,phù hợp.
3.5.Liên lạc,thông báo cụ thể công tác của khoa đến cán bộ,giảng viên trong khoa.
3.5.1.Quy trình:
-TLĐT là người trực tiếp nhận thông tin,thông báo từ các phòng ban khác,từ ban chủ
nhiệm khoa.
_Sau đó,TLĐT chuyển tải thông tin đến từng cán bộ,giảng viên thông qua nhiều kênh
thông tin:
nhanh chóng,kịp thời,thực hiện đúng với chức năng,nhiệm vụ của mình cũng như đúng
với quy định của tưng lĩnh vực cụ thể.Ví dụ:Lịch thi kết thúc học phần,lịch thi lại của sinh
viên,phân công cán bộ coi thi,kiểm tra thường xuyên điều kiện cơ sở vật chât,kỹ thuật…
Nhờ đó,công việc đào tạo luôn diễn ra một cách thuận lợi,đúng tiến độ,đảm bảo mục tiêu
đề ra.
Phần 3:Đánh giá chung.
(cơ bản đã biết viết báo cáo, nhưng lưu ý những điểm sau đây để cùng nhau
sửa và hoàn thiện:
- Xem lại kĩ thuật đánh máy văn bản, nhiều lỗi chính tả, cách bỏ dâu
chấm, phẩy, căn dòng, căn lề; một số lỗi diễn đạt và dùng từ chưa chuẩn.
Không dùng số thay cho chữ trong câu văn
- Xem lại cách đánh số thứ tự đề mục phải logic thể hiện các ý nhỏ trong ý
lớn để dễ theo dõi và đảm bảo tính khoa học, chẳng hạn:
1.
1.1.
1.1.1
1.1.1.1.
a)
b)
1.1.1.2
1.1.2.
1.2.
1 2.1
1.2.2
- Phần mô tả các hoạt động của thầy Dũng cũng dùng mô tả ngắn gọn
nhưng rõ các mảng công việc thầy thực hiện trong 3 tuần quan sát được
Để báo cáo tốt thì nhật kí phải tốt
Lựa chọn các phụ lục hợp lý và đánh số thự tự để đóng quyển và lập mục
lục