Sự điểu chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong nhiệm kỳ của Tổng thống R.Nixon ( 1969-1973) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HƢƠNG

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ
CỦA TỔNG THỐNG R.NIXON (1969 – 1973)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội-2014

Hà Nội-2014

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này em đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý rất tận tình và
nghiêm túc từ TS Trần Thiện Thanh, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô vì tất cả những
hướng dẫn và sự giúp đỡ của Cô trong suốt thời gian em học tập và hoàn thành luận văn này.
Em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn.
Cuối cùng là lời cảm ơn sâu sắc của tôi tới gia đình và bạn bè, những người luôn quan tâm,
động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu. Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Hương MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 2
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. 10
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. 10
5. Đóng góp của luận văn. 11
6. Bố cục luận văn. 12
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƢƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH

Concerning the Ryukyu Islands and the Daito Islands
Washington and Tokyo (simultaneously), 17th June,1971 138
Phụ lục 4: Address to the Nation Outlining a New Economic Policy:
"The Challenge of Peace." August 15, 1971 143
Phụ lục 5: Joint Statement of Japanese Prime Minister Sato and
U.S. President Nixon 150
Phụ lục 6: Joint Statement of Japanese Prime Minister Tanaka and 152
Phụ lục 7: Joint Communique of Japanese Prime Minister Tanaka and
U.S. President Nixon 155
Phụ lục 8: Một số hình ảnh 160 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TỪ
KÍ HIỆU
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Đơn vị đo trong dệt may: Square Yard Equal: yd
2
SYE
Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
ODA
Organization for EconomicCooperation and Development (Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế )
OECD
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ ( National Security Council)
NSC

1
PHẦN MỞ ĐẦU

Giai đoạn 1969 – 1973 trong nhiệm kì của Tổng thống R. Nixon là một giai
đoạn nhƣ vậy. Mỹ đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại với Nhật Bản thể
hiện chủ yếu trên hai phƣơng diện là an ninh – chính trị và kinh tế. Vì sao Mỹ
phải điều chỉnh chính sách đối ngoại với Nhật Bản? Sự điều chỉnh đó có phá
vỡ hay vẫn nằm trong liên minh Mỹ - Nhật Bản? Sự điều chỉnh đó tác động
nhƣ thế nào tới chính nƣớc Mỹ, với Nhật Bản và với khu vực châu Á trong đó
có Việt Nam? Những vấn đề đó hầu nhƣ chƣa đƣợc các học giả trong nƣớc
đi sâu nghiên cứu. Do vậy, vấn đề này đòi hỏi có sự phân tích tổng thể và sâu
sắc để đi đến những giải đáp thỏa đáng.
Đó cũng chính là những lí do khiến tôi lựa chọn vấn đề “Sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong nhiệm kì của Tổng thống
R. Nixon (1969 – 1973)” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trong phạm vi nguồn tài liệu mà cá nhân tiếp cận đƣợc, xin tóm tắt lịch
sử nghiên cứu vấn đề này ở trong và ngoài nƣớc nhƣ sau:
Ở nước ngoài, có thể thấy số lƣợng các công trình nghiên cứu về chính
sách đối ngoại của Mỹ là rất nhiều, chứng tỏ đây là một chủ đề nghiên cứu rất
đƣợc các học giả quan tâm. Trong số đó, có thể phân chia thành hai nhóm nhƣ
sau: Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu tổng quan về nƣớc Mỹ và những
lĩnh vực cụ thể trong đó có các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của
Mỹ nói chung; nhóm thứ hai là nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại
của Mỹ với Nhật Bản nói chung và trong nhiệm kì của Tổng thống R. Nixon
(1969 – 1973) nói riêng.
Với nhóm thứ nhất, một số sách về tiến trình lịch sử nƣớc Mỹ và văn
hóa Mỹ nhƣ “An outline of American History” (Khái lƣợc lịch sử nƣớc Mỹ,
1994) của Howard đã đƣợc xuất bản bằng tiếng Việt năm 2000, hay cuốn
“America” (Nƣớc Mỹ, 2000) của George Brown Tindall và David
Emory…nghiên cứu lịch sử và văn hóa Mỹ trên phạm vi thời gian và không



4
biết tổng quát về bối cảnh lịch sử của việc hoạch định và điều chỉnh chính
sách đối ngoại của Mỹ. Những hiểu biết đó giúp tôi nhìn nhận vấn đề một
cách bao quát và đa chiều hơn.
Với nhóm thứ hai, nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ
với Nhật Bản cũng có khá nhiều công trình dƣới dạng sách tham khảo, bài
viết. Trƣớc hết là một cuốn sách đáng tin cậy của cựu Đại sứ Mỹ tại Nhật Bản
Edwin O.Reischeur xuất bản năm 1965 và tái bản năm 1969 tại Mỹ với nhan
đề “The United States and Japan”. Cuốn sách viết về mối quan hệ Mỹ - Nhật
Bản từ 1945 – 1952 đến giữa những năm 1960, bên cạnh đó là những mối
quan hệ trƣớc chiến tranh Mỹ - Nhật Bản và một số vấn đề khác trong quan
hệ hai nƣớc. Năm 1974, cuốn sách “United States – Japanese relations: The
1970’s” của tác giả Priscilla Clapp viết về mối quan hệ của Mỹ - Nhật Bản
trong thập niên 1970 trên các phƣơng diện quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa
Mỹ và Nhật Bản, triển vọng của mối quan hệ này. Năm 1976, cuốn
“Managing an Alliance: The politics of U.S. – Japanese relations” cũng của
Priscilla Clapp cùng nhóm tác giả I.M. Destler, Sato Hideo, đƣợc xuất bản tại
Washington. Cuốn sách này đã phân tích những vấn đề tồn tại trong quan hệ
hai nƣớc trong hơn hai thập niên sau Thế chiến II và quá trình hoạch định
chính sách đối ngoại giữa hai nƣớc trong giai đoạn này. Đặc biệt, cuốn sách
“U.S. – Japanese relations throughout History: The Clash” đƣợc phát hành
năm 1998 của tác giả Walter Lafeber đƣợc xem là một cách tiếp cận mới
trong các nghiên cứu về quan hệ Mỹ - Nhật Bản. Tác giả đã phân tích mối
quan hệ hai nƣớc dƣới góc nhìn của sự va chạm, xung đột của các lợi ích giữa
hai nƣớc trong tiến trình lịch sử từ cuối thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XX. Năm
2001, một tác phẩm khá hệ thống về mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản là
“Partnership The United States and Japan 1951 – 2001” do nhà nghiên cứu
Akira Iriye của trƣờng Đại học Havard chủ biên. Trong cuốn sách này, một số
bài viết của các tác giả khác đƣợc tập hợp đem đến cái nhìn tổng thể về mối

phát hành năm 1972. Tác giả đã tập hợp nhiều bài viết của các tác giả khác
khái quát về mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản từ khi xác lập liên minh năm 1952

6
cho tới thập niên 1960 qua đó dự báo về mối quan hệ an ninh – chính trị Mỹ
- Nhật Bản trong thập niên 1970. Hay cuốn “Japan, the United States and
prospects for the Asia – Pacific century: three scenariors for the future”
của Richard P.Cronin xuất bản năm 1992 phân tích tác động của hành động
bành trƣớng của Nhật ở Châu Á – Thái Bình Dƣơng đến chính sách đối
ngoại của Mỹ. Năm 1994, cuốn “Japan among the powers 1890 – 1990”
của Sydney Giffard đƣợc Nhà xuất bản New Haven and London phát hành
trong đó có chƣơng đề cập một số khía cạnh trong mối quan hệ Mỹ - Nhật
Bản trong giai đoạn 1952 – 1972…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trực tiếp về sự điều chỉnh chính
sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản giai đoạn 1969 – 1973 khá hạn chế, chủ
yếu đề cập tới học thuyết Nixon hoặc chính sách đối ngoại nói chung của
Tổng thống Nixon nhƣ: “A new trategy for peace: A report to the Congress
by Richard Nixon President of the United States February 18, 1970” do Nhà
Trắng phát hành năm 1970 hay chỉ là những bài tiểu luận tập hợp trong cuốn
“U.S. foreign Policy in a changing world: The Nixon Administration, 1969 –
1973” của Alan M. Jones, Jr xuất bản năm 1973, trong đó chính sách của Mỹ
với Nhật Bản củng chỉ đƣợc điểm qua trong tổng thể chính sách đối ngoại của
Mỹ. Cuốn hồi kí của Henry Kissinger đƣợc Lê Ngọc Tú dịch, Nhà xuất bản
Công an nhân dân phát hành năm 2004 với nhan đề “Cuộc chạy đua vào Nhà
Trắng: Vào nhà trắng những tháng năm từ 1968 đến 1973” cũng ghi lại
những năm tháng từ 1969 – 1973 Kissinger cùng Tổng thống R. Nixon hoạch
định chính sách đối ngoại của Mỹ với các nƣớc khác trên thế giới…
Một nguồn khai thác nữa là các công trình viết về Nhật Bản trong đó đề
cập chính sách của Mỹ nhƣ “Postwar Japan: 1945 to the Present” của John
Livingston, Joe Moore, Felica Olfather đƣợc xuất bản tại New York năm

tâm rất lớn của các học giả. Điều đó thể hiện ở số lƣợng các công trình và
phạm vi nghiên cứu từ phạm vi không gian rộng, thời gian dài đến những
nghiên cứu chuyên sâu trên phạm vi hẹp hơn.

8
Nhiều công trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử thế giới, quan hệ
quốc tế và chính sách đối ngoại của các nƣớc lớn…đã đƣợc xuất bản và đƣợc
đánh giá là những công trình đáng tin cậy nhƣ “Lịch sử thế giới hiện đại từ
1945 – 1995” của tác giả Nguyễn Anh Thái chủ biên, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia phát hành năm 1998; “Quan hệ quốc tế thế kỉ XX” của Nguyễn
Quốc Hùng do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2000;…Đây là những
công trình nghiên cứu khái quát, trong đó có một phần nhỏ đề cập chính sách
đối ngoại của các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản
Với nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của
Mỹ với Nhật Bản, năm 1994 học giả Lê Bá Thuyên hoàn thành Luận án
PTSKH “Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động của nó trong quan hệ quốc
tế hiện nay”. Luận án nghiên cứu bản chất chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ và
quá trình vận động của nó trong thời kì chiến tranh lạnh, nội dung và quá trình
điều chỉnh chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ. Về chính sách đối ngoại của Mỹ với
Nhật Bản sau chiến tranh lạnh nổi bật có cuốn “Quan hệ Mỹ - Nhật Bản sau
chiến tranh lạnh” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1995. Tác
giả Ngô Xuân Bình đã đi sâu phân tích logic các sự kiện xảy ra và những biến
đổi của tình hình quốc tế cũng nhƣ các vấn đề nội bộ của Nhật Bản. Bên cạnh
đó, công trình này cũng đề cập khía cạnh hợp tác về an ninh – quân sự, quan
hệ kinh tế giữa Mỹ và Nhật Bản và tác động của mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản
với châu Á – Thái Bình Dƣơng trong thời kì sau chiến tranh lạnh. Nằm trong
giới hạn thời gian tƣơng tự, năm 2007 Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của Hoàng
Thị Yến đƣợc hoàn thành với đề tài “Quan hệ an ninh Mỹ - Nhật Bản thời kì
sau chiến tranh lạnh và tác động tới khu vực Đông Á”.
Đặc biệt, năm 2008, nhà nghiên cứu Trần Thiện Thanh của Trƣờng Đại

của tác giả Nguyễn Duy Dũng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số
10 – 2006; “Mỹ và Đông Á: nhìn từ lịch sử và hiện tại” (2006) của Nguyễn
Quốc Hùng…
Nhƣ vậy, trong thời gian gần đây, số lƣợng các công trình nghiên cứu
về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, các

10
nghiên cứu đa số tập trung vào thời gian nửa đầu thế kỉ XX và sau chiến tranh
lạnh. Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX đến trƣớc khi chiến tranh lạnh kết thúc
chƣa đƣợc nghiên cứu toàn diện, phần lớn là nghiên cứu khái quát. Đặc biệt,
vấn đề sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong giai
đoạn 1969 – 1973 hầu nhƣ chƣa đƣợc nghiên cứu cụ thể và hệ thống. Đây vừa
là thuận lợi song cũng là khó khăn cho ngƣời nghiên cứu trong quá trình thực
hiện Luận văn này.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Những nhân tố chủ yếu tác động tới sự điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973.
- Nội dung và những điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật
Bản từ 1969 – 1973.
- Tác động của sự điều chỉnh chính sách đó đối với hai chủ thể nghiên
cứu và một số đối tƣợng khác có liên quan.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Không gian: Nhật Bản thuộc khu vực Đông Á nên luận văn sẽ đề cập
tới cả chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực này vào những thời điểm có
liên quan.
- Thời gian: từ 1969 – 1973: trong nhiệm kì của Tổng thống R.Nixon.
- Về vấn đề nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách
đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong giai đoạn từ 1969 – 1973 cũng nhƣ tác
động qua lại trong quan hệ hai nƣớc. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu,

Nhật Bản giai đoạn 1969-1973 một cách khách quan, trung thực.
- Tập trung lí giải, phân tích các yếu tố tác động, nội dung cơ bản của
chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản từ đó rút ra nhận xét về những tác
động của chính sách đó.
- Luận văn đƣợc xây dựng theo hƣớng một chuyên đề nên sẽ góp phần
vào nghiên cứu chung về Mỹ và lịch sử quan hệ quốc tế, sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập của những ngƣời quan tâm đến

12
quan hệ Mỹ - Nhật Bản, chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản và lịch sử
Nhật Bản trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6. Bố cục luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục theo quy định của một luận văn thạc sĩ, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng:
CHƢƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN CUỐI THẬP
NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970
Chƣơng này nêu và phân tích những yếu tố tác động đến sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm cuối thập niên
1960 đầu thập niên 1970 nhƣ: Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái
Bình Dƣơng với thế cân bằng quân sự giữa Mỹ và Liên Xô, nhân tố Trung
Quốc và mâu thuẫn Trung Quốc – Liên Xô; Thực trạng nƣớc Mỹ với sự suy
giảm địa vị kinh tế, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ đặc biệt là Học thuyết Nixon; Tình hình Nhật Bản
cuối thập niên 1960 – đầu thập niên 1970 với đặc điểm nổi bật là tốc độ phát
triển ―thần kì‖ về kinh tế và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến
thâm hụt mậu dịch của Mỹ…Qua đó thấy đƣợc những tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp của từng yếu tố đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với
Nhật Bản từ 1969 – 1973.
CHƢƠNG II: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN

bởi các vấn đề về kinh tế. Bên cạnh đó, sự điều chỉnh này đã thúc đẩy sự trở
lại bằng con đƣờng ―phi quân sự‖ của Nhật Bản ở Đông Nam Á, ngƣợc lại,
Mỹ rút dần sự hiện diện trong khu vực. Theo đó, mối quan hệ giữa Việt Nam
với Nhật Bản bƣớc vào một thời kì mới.
KẾT LUẬN 14
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU
CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN
CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970
1.1. Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng.
1.1.1. Thế cân bằng quân sự Mỹ - Liên Xô.
―Hiện giờ, trên thế giới có hai dân tộc lớn, họ có những điểm xuất phát
không giống nhau nhƣng dƣờng nhƣ sẽ tiến tới cùng một mục đích, đó là
ngƣời Nga và ngƣời Mỹ. Theo một sự sắp đặt thần bí nào đó của thƣợng đế,
một ngày nào đó mỗi dân tộc sẽ nắm trong tay một nửa nhân loại.‖ [6, tr.11]
Lời tiên tri đó của Alexis Tocqueville từ năm 1835 hoàn toàn chính xác. Một
thế kỉ sau đó, Mỹ và Liên Xô đã đóng vai trò trụ cột, quyết định thắng lợi của
phe Đồng minh trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). Bƣớc
ra khỏi cuộc chiến, Mỹ và Liên Xô trở thành hai cƣờng quốc có ảnh hƣởng
lớn nhất trên thế giới, chi phối sự phát triển của lịch sử thế giới gần nửa thế kỉ
trong cuộc chiến tranh lạnh.
Một trong những căn nguyên đầu tiên của cuộc chiến tranh lạnh bắt
nguồn từ những hiện tƣợng tâm lí khá đặc biệt. Chiến tranh thế giới thứ hai
kết thúc, phát xít Đức, Ý, Nhật Bản đã đầu hàng. Tuy nhiên, với chính quyền
Mỹ, một mối đe dọa tiếp theo tới lợi ích quốc gia của Mỹ theo cách suy nghĩ
của ngƣời Mỹ mối đe dọa này không kém phần nguy hiểm so với mối đe dọa
từ chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện: đó là chủ nghĩa Cộng sản mà đại diện là

khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ là nƣớc duy nhất trên thế giới
nắm trong tay vũ khí nguyên tử. Rõ ràng, sức mạnh kinh tế và quân sự của
Mỹ là số 1 thế giới. Nhiều ngƣời cho rằng thời kì sau chiến tranh thứ hai là
―thời đại của Mỹ‖. Tuy nhiên, bằng quyết tâm của mình, nhân dân Liên Xô đã
hoàn thành trƣớc thời hạn kế hoạch 5 năm (1946-1950) trong 4 năm 3 tháng,
căn bản khôi phục sản xuất đạt mức trƣớc chiến tranh. Và trong những năm
50 đến những năm 70, Liên Xô vƣơn lên thành cƣờng quốc công nghiệp thứ
hai thế giới, đi đầu trong những ngành công nghiệp vũ trụ và điện hạt nhân.

16
Đặc biệt, từ năm 1949, khi Liên Xô cũng thử thành công bom nguyên tử, thế
độc quyền vũ khí hạt nhân trƣớc đó của Mỹ đã bị phá vỡ. Có thể thấy, khác
với các thể chế cân bằng quyền lực trƣớc đó, thời kì này vũ khí hạt nhân có
vai trò quyết định trong cuộc chạy đua Mỹ – Xô. Từ sự đối lập về tƣ tƣởng,
chính trị đã dần dẫn đến sự đối đầu về quân sự, chạy đua vũ trang với nhau.
Sự đối đầu về quân sự tăng cả về chất và lƣợng trong hai thập niên
1950 và 1960. Số đầu đạn hạt nhân của Mỹ năm 1950 là trên dƣới 1000
nhƣng đến 1960 là 20000. Năm 1955, Liên Xô hầu nhƣ không có đầu đạn hạt
nhân thì đến 1960 đã có trên 3000. Tổng số vũ khí hạt nhân năm 1960 của Mỹ
là 19 triệu megaton,của Liên Xô lên tới 18 triệu megaton. Ngân sách dành cho
việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Liên Xô tăng vƣợt bậc: năm 1950 bằng nửa
của Mỹ thì đến 1963 tốc độ tăng phi mã lên tới 54,7 tỉ USD so với Mỹ 52,2 tỉ
USD.[14, tr.118]. Tiếp đó, năm 1957 Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân
tạo. Năm 1961 Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ có ngƣời lái… Thêm vào
đó, sự mở rộng ảnh hƣởng của Mỹ (thông qua ―Kế hoạch Marshall‖ và khối
NATO) và Liên Xô (thông qua tổ chức SEV và VACSAVA) đã làm cho tình
trạng đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô không còn là phạm vi quốc gia mà trở
thành cuộc đối đầu giữa hai hệ thống thế giới. Tuy nhiên việc quân sự hóa thế
giới với vũ khí hạt nhân một cách vô vọng nhƣ vậy bắt đầu làm nảy sinh câu
hỏi về mục đích và kết quả của nó. Đặc biệt, vào tháng 5-1960, máy bay do

tập một nhóm quan chức cấp cao thƣờng gọi là Ủy ban điều hành (Excom) để
thảo luận về các chính sách giải quyết cuộc khủng hoảng. Cuối cùng Excom
cũng đƣa ra 4 giải pháp: Một là, giải quyết vấn đề bằng con đƣờng ngoại giao
và không phản ứng bằng quân sự. Hai là, rút các tên lửa của Mỹ ở Thổ Nhĩ
Kỳ, đổi lại, Liên Xô sẽ rút các tên lửa khỏi Cuba. Ba là, Mỹ sẽ tấn công các
mục tiêu tên lửa bằng không quân, nếu cần sẽ kèm theo một cuộc xâm lƣợc
của Mỹ. Bốn là, hình thành một thế bao vây để cô lập Cuba và buộc
Khruschev và Castro rút các tên lửa. Sau khi cân nhắc, Tổng thống Kenedy
lựa chọn giải pháp thứ tƣ, nếu giải pháp này thất bại thì mới có thể tính đến
việc phản ứng bằng quân sự. Trong một bài phát biểu trên truyền hình ngày

18
22/10, Tổng thống tuyên bố đã thiết lập một vành đai bao vây Cuba trên biển,
yêu cầu gỡ bỏ các tên lửa và cảnh báo: Nếu bất kì vũ khí nào hƣớng vào Mỹ,
ông sẽ đáp trả đầy đủ bằng một cuộc tấn công nhằm vào chính Liên Xô. Cơ
quan Chiến lƣợc hàng không của Mỹ tiếp tục thực hiện lệnh không vận lớn
nhất trong đó có lực lƣợng ném bom B52 và bom hạt nhân, 5 quân đoàn khác
chuẩn bị tiến vào Cuba. Ngày 27/10, 12 trong tổng số 25 tàu Liên Xô đang
trên đƣờng tới Cuba đã buộc phải thay đổi hành trình trở về Liên Xô, số còn
lại không mang theo tên lửa. Cùng ngày, Moscow yêu cầu 15 tên lửa của Mỹ
buộc phải rút khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ phải cam kết không xâm lƣợc Cuba,
đổi lại các tên lửa ở Cuba sẽ đƣợc vô hiệu hóa.
Câu hỏi ai đã thắng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba có lẽ không
phải là quan trọng nhất. Hơn hết, loài ngƣời đã tránh đƣợc một thảm họa vô
cùng lớn. Từ đây, cả Liên Xô và Mỹ đều học đƣợc một bài học quan trọng về
việc có nên hay không nên sử dụng vũ khí hạt nhân. Hai nƣớc đã đạt đƣợc các
thỏa thuận về vũ khí hạt nhân: Hiệp ƣớc ngừng thử hạt nhân từng phần năm
1963 và Hiệp ƣớc không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968 từ đó tiến tới
mong muốn các nƣớc khác không trở thành cƣờng quốc hạt nhân.
Đến đây, có thể nói quan hệ Mỹ - Xô đã dần đi vào ổn định, khả năng

lực lƣợng của hai đảng ngày càng trở nên ráo riết, công khai. Một số Đảng
cộng sản ở một số nƣớc cũng bị chia rẽ về tổ chức thành hai đảng theo hai
khuynh hƣớng nói trên. Hơn nữa, Liên Xô và Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn
về vấn đề lãnh thổ và biên giới. Một trong số đó là về Cộng hòa Nhân dân
Mông Cổ. Lãnh đạo Trung Quốc luôn có ý định sáp nhập Mông Cổ vào Trung
Quốc. Điều này vấp phải sự phản đối của Liên Xô và chính Mông Cổ. Tháng
9-1964, Trung Quốc yêu cầu xét lại các vùng lãnh thổ Châu Á mà các hoàng
đế Trung Hoa đã để mất vào tay Nga Hoàng ở thế kỷ XIX. Tháng 8-1968, sau
sự kiện quân đội khối Vácxava do Liên Xô lãnh đạo vào thủ đô Praha và cứu
chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc, Chu Ân Lai lần đầu tiên đã gọi Liên Xô là ―đế

Trích đoạn Trờn phƣơng diện kinh tế: Điều chỉnh tỷ giỏ đồng Yen/USD và hạn chế Với mối quan hệ Mỹ Nhật Bản Với quan hệ quốc tế và Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status