Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam, BH PNT đã bắt đầu hình thành từ năm 1965. Từ 1965 đến
1994 là thời kỳ BH PNT hoàn toàn hoạt động độc quyền với một DNBH Nhà
nước duy nhất . Do vậy, ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế rất hạn chế.
Bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành BH Việt
Nam được đánh dấu bằng Nghị định 100/NĐ-CP,ban hành ngày 18 tháng 12 năm
1993 về KDBH. Theo đó, đã ra đời một số công ty BH và TTBH Việt Nam mới
bắt đầu hình thành, hoạt động và bước đầu đáp ứng được một số nhu cầu của các
tổ chức, cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, TTBH nói chung và TTBH phi nhân thọ
nói riêng còn rất nhiều hạn chế cần khắc phục, đổi mới.Mặt khác, trong su thế hội
nhập kinh tế quốc tế và trong điều kiện nước ta ra nhập tổ chức thương mại quốc
tế WTO, các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực tài chính,
bảo hiểm.... Vì vậy, rất cần thiết phải có những đổi mới toàn diện, tạo nên bước
phát triển đột phá trong ngành BH phi nhân thọ.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tác giả đã chọn chủ đề :“Phát triển thị
trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu về đề tài
Ở Việt Nam, TTBH phi nhân thọ mới được hình thành từ năm 1994. Ngành
BHTM nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng còn rất non trẻ, nhìn chung
còn là lĩnh vực mới mẻ. Do đó, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
vấn đề này, mới chỉ dừng lại ở một số chuyên đề, hội thảo ở một lĩnh vực nhất
định của TTBH phi nhân thọ. Một vài luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu về thị
trường bảo hiểm Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ nghiên cứu trên lĩnh vực Maketing,
lịch sử kinh tế… và cũng chỉ trong một vài lĩnh vực cụ thể. Chưa có một công
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể đặc biệt là trên góc độ Kinh tế
chính trị và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTBH PNT.
- Đề xuất những phương án, giải pháp nhằm phát triển TTBH phi nhân thọ
ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận chung về TTBH phi nhân
thọ. Những nhân tố để phát triển TTBH phi nhân thọ.
Phạm vi: Nghiên cứu toàn bộ TTBH PNT Việt Nam từ 1994 đến 2005.
5. Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử
với phương pháp logic, phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp. Ngoài ra,
phương pháp so sánh, hệ thống hóa cũng được sử dụng để thực hiện luận văn.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ những vấn đề chung về BH PNT và TTBH phi nhân thọ.
- Trình bày một số kinh nghiệm về phát triển TTBH PNT ở các nước trên
thế giới, có thể vận dụng vào phát triển TTBH PNT ở Việt Nam.
- Qua phân tích thực trạng và hệ thống các giải pháp nhằm cải thiện môi
trường KDBH PNT ở Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH
PNT, thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực KDBH PNT để phát triển thị TTBH
PNT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo luận văn có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm phi nhân thọ và thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ.
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở
Việt Nam.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ ở Việt Nam.
KẾT LUẬN
đó một bên ( Người bảo hiểm) cam kết sẽ thanh toán cho bên kia ( Người được
bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm), một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây
tổn thất về tài chính cho Người được bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn
thất này được chuyển giao từ Người tham gia bảo hiểm đến Người bảo hiểm. Để
chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, Người bảo hiểm đòi Người được bảo hiểm
một khoản tiền đó là phí bảo hiểm.
- Một cách toàn diện hơn người Pháp cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động,
thông qua đó một cá hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi
trả nếu rủi ro xảy ra, nhờ vào khoản đóng góp cho mình hay cho người khác.
Khoản bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có
trách nhiệm trước các rủi ro và bù trừ chúng theo qui luật thống kê.
Dù BHTM được khái niệm bằng cách nào nhưng nó đều thể hiện bản chất
của BH nói chung đó là sự san sẻ rủi ro trên cơ sở số lớn của các cá nhân và tổ
chức xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức BH. Nói cách khác BH là
phương sách xử lý tủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng
nhóm người được thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh của các DNBH.
b) Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
*) Nguyên tắc số đông bù số ít: KDBH là việc người BH tìm kiếm lợi ích kinh
tế dựa trên cơ sở hợp đồng BH, mà theo đó đổi lấy phí BH, người BH cam kết
thực hiện bồi thường, hoặc trả tiền BH cho người được BH khi có sự kiện BH xảy
ra. Khoản tiền bồi thường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với
khoản phí BH mà các DNBH nhận được. Để làm được điều này, hoạt động của
BHTM phải dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít. Đây là nguyên tắc xuyên suốt
không thể thiếu được trong bất kỳ một nghiệp vụ BHTM nào.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các DNBH thông qua việc huy động bằng hình thức phí BH, thành lập nên
quỹ bồi thường để chi trả cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những
người tham gia BH. Các DNBH đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo qui luật số
lớn. Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BH thì quỹ BH tích tụ được
một hoặc nhiều DNBH khác.
*) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Nguyên tắc này đòi hỏi các DNBH phải có
trách nhiệm cân nhắc các điều kiện điều khoản để soạn thảo hợp đồng đảm bảo
cho quyền lợi của hai bên. Sản phẩm cung cấp của nhà BH là sản phẩm dịch vụ và
là sản phẩm “vô hình”. Người mua chỉ có trong tay một hợp đồng, một cam kết
chứ không hề có một sản phẩm cụ thể. Vì vậy, chất lượng sản phẩm có được đảm
bảo hay không, quyền lợi của người mua có được đầy đủ công bằng hay không…
đều chủ yếu dựa vào sự trung thực từ phía các DNBH. Ngược lại, nguyên tắc này
cũng đòi hỏi người tham gia BH phải trung thực khi kê khai về những đối tượng
trước khi tham gia BH, để xác định mức phí phù hợp, cũng như phải trung thực
khi khai báo rủi ro trong khi đòi bồi thường. Mọi hành vi gian lận, không trung
thực, nhằm trục lợi BH sẽ bị pháp luật xử lý.
*) Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Nguyên tắc này yêu cầu người
tham gia BH phải có một số quan hệ với đối tượng tham gia BH và được pháp luật
công nhận. Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền tài sản và quyền nghĩa vụ nuôi,cấp dưỡng đối với đối tượng
được BH. Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác,
hoặc cố tình gây thiệt hại nhằm thu lợi từ một hợp đồng BH.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, còn có một số nguyên tắc đó là nguyên
tắc bồi thường, nguyên tắc khoán…áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.
1.1.1.2 Bảo hiểm phi nhân thọ và phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
a) Bảo hiểm phi nhân thọ: Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào đưa ra một
khái niệm riêng cho BH phi nhân thọ. Song có thể hiểu khái niệm về BH phi nhân
thọ chính là khái niệm BH thương mại, bởi lẽ:
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguyên tắc hoạt động, đối tượng và lĩnh vực hoạt động của BHTM cũng
chính là những nguyên tắc, đối tượng và lĩnh vực hoạt động của BH PNT . Đối
tượng bao gồm các loại tài sản (hữu hình và vô hình), con người và một số trách
nhiệm phát sinh do mối quan hệ giữa con người với con người. Vì vậy, theo tiêu
NGƯƠÌ
BH CON
NGƯỜI PNT
BHIỂM
NHÂN THỌ
BHIỂM
PHI
NHÂN
THỌ
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của DN đó. Trong khi đó, BH bắt buộc
bao gồm các sản phẩm BH mà pháp luật qui định các tổ chức cá nhân phải tham
gia BH và các DNBH phải phục vụ theo một số điều khoản, mức phí và mức trách
nhiệm BH theo qui định của nhà nước. Hiện nay ở Việt Nam có một số loại BH
bắt buộc như: BH bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành
khách trên xe, BH trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật,
BH trách nhiệm nghề nghiệp của DN môi giới BH, một số loại BH cháy nổ.
*) Nếu căn cứ theo đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ có ba loại: BH tài sản, BH
trách nhiệm dân sự và BH con người phi nhân thọ.
- Bảo hiểm tài sản: Là loại BH có đối tượng là tài sản ( có thể là hữu hình hoặc
vô hình). Những tài sản hữu hình tồn tại dưới hình thể vật chất ( nhà cửa, phương
tiện vận chuyển, đường xá, cầu cống bến cảng, cây trồng vật nuôi…) và tài sản vô
hình là phát minh, sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hóa…Với sự đa dạng đó,
cho đến nay không phải tất cả các loại tài sản đều đã có thể được BH, song cũng
đã hình thành nhiều loại BH tài sản khác nhau.
Hiện nay, ở Việt nam có những nghiệp vụ BH tài sản cơ bản sau:
+ Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu; BH hàng hóa vận chuyển nội địa.
+ BH thân tàu ( tàu biển, tàu hoạt động nội thủy, sông hồ,thuyền đánh cá)
Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm TNDS: Đối tượng BH trong BH TNDS
mang tính trìu tượng: Khi thiết lập hợp đồng thì đối tượng BH chưa xuất hiện. Nó
chỉ biểu hiện cụ thể khi có sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
Phương thức BH có thể là có giới hạn (được ấn định trong hợp đồng), hoặc không
giới hạn (không ấn định trước mà bồi thường theo phát sinh trách nhiệm)
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Là loại BH có mục đích thanh toán
những khoản trợ cấp hoặc số tiền ấn định cho người được BH hoặc người được
thụ hưởng BH, trong trường hợp xảy ra những sự kiện tác động đến chính bản
thân người được BH. Những rủi ro trong BH con người PNT là tai nạn, bệnh tật,
ốm đau, tử vong. Vì lý do giá trị con người là không thể xác định bằng tiền, nên
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong BH con người không có khái niệm BH trùng, và thuật ngữ “chi trả BH”
hoặc “thanh toán tiền BH” được thay thế cho “bồi thường bảo hiểm”.
- Một số loại BH con người ở Việt Nam hiện nay: BH tai nạn con người,
BH trợ cấp nằm viện và phẫu thuật, BH sinh mạng cá nhân, BH toàn diện học
sinh, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn thuyền viên, BH khách du lịch…..
- Đặc trưng của BH con người PNT: Đối tượng của BH con người PNT là
tính mạng, sức khỏe: Đây là một phạm trù phi giá trị hóa.Số tiền BH, được ấn
định trước trên hợp đồng BH. Khi có sự kiện BH, các khoản tiền BH được thanh
toán mang tính chất khoán chứ không phải là bồi thường thiệt hại.
Việc phân loại như trên sẽ thuận lợi hơn cho công tác nghiên cứu và phát
triển các sản phẩm BH khác nhau. Mặt khác, nó giúp các DNBH quản lý tốt
nghiệp vụ và tiến hành tổ chức kinh doanh khoa học và có hiệu quả cao hơn.
1.1.1.3. Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
a) Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ
- Quá trình hoạt động KDBH phi nhân thọ, là quá trình tạo lập, quản lý và
sử dụng quỹ tiền tệ của các DNBH.
- Trên phương diện xử lý rủi ro, BH là loại biện pháp rất có hiệu quả. Cơ
chế hoạt động là chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Cơ chế đó
thiểu rủi ro cho toàn xã hội. Để thực hiện điều đó, các DNBH PNT thường xuyên
tiến hành các hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất giúp cho cuộc sống con người
an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo của mỗi cá nhân mỗi DN. Điều này
có ý nghĩa rất lớn đối mỗi con người và toàn xã hội.
- Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động KDBH PNT là tạo
lập, quản lý quỹ tài chính đủ lớn, nhằm chủ động đối phó với rủi ro và góp phần
làm giảm “tổng rủi ro” của xã hội. Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, mỗi cá nhân hay tổ chức, DN khó mà xác định được có những
rủi ro gì mà họ sẽ gặp phải và mức độ thiệt hại là như thế nào, bởi lẽ rủi ro luôn là
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngẫu nhiên và bất ngờ. Vì vậy, họ khó có thể định trước được kế hoạch tài chính
để đối phó với những thiệt hại đó. Tuy nhiên, các DNBH có thể tính toán xác suất
rủi ro trên cơ sở quy luật số lớn, từ đó có kế hoạch tài chính tương đối phù hợp với
những hậu quả của các rủi ro có thể gây nên.
- BH PNT là “ tấm lá chắn” hữu hiệu cho các DN, thông qua việc ổn định
giá thành sản phẩm. Thật vậy, khi không may gặp rủi ro bất ngờ, DN sẽ bị thiệt
hại về tài chính và chắc chắn sẽ đẩy chi phí của DN tăng lên. Khi đó nếu giữ
nguyên giá để cạnh tranh, thì sẽ bị giảm lợi nhuận thậm chí bị lỗ. Ngược lại nếu
tăng giá thì sẽ mất cạnh tranh về giá. Tác động này là rất lớn nếu DN gặp những
thiệt hại lớn do rủi ro. Đây là bài toán rất khó hóa giải,nhất là đối với các DN vừa
và nhỏ có số vốn hạn chế dễ bị “ chèn ép” về giá. Bài toán đó sẽ được các DNBH
PNT hóa giải một cách đơn giản nếu các DN tham gia BH.
- BH PNT góp phần ổn định chi tiêu ngân sách Nhà nước. Các tổ chức, đơn
vị hoạt động bằng nguồn ngân sách Nhà nước có thể tham gia BH. Thay vì bỏ ra
số phí BH “ tương đối nhỏ”, mà ngân sách Nhà nước không phải chi ra số tiền có
thể rất lớn để trợ cấp cho các thành viên khi gặp rủi ro. Mặt khác, BH PNT cũng
còn đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế.
- BH PNT có thể cung cấp một số vốn không nhỏ để đầu tư, phát triển kinh
tế - xã hội. Với đặc điểm trong KDBH : phí nộp trước, việc bồi thường, trả tiền
Trên thế giới, BH đã có lịch sử hơn nửa thiên niên kỷ phát triển. Sự ra đời và
quá trình phát triển của nó được ghi nhận bởi những dấu ấn đáng chú ý sau:
- Ai Cập (khoảng 2.500 năm trước công nguyên) những người thợ đẽo đá đã
biết lập quỹ tương trợ để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
- Babylone (khoảng 1700 năm trước công nguyên) và Athènes (khoảng 500
năm trước công nguyên) xuất hiện hệ thống vay mượn với lãi suất rất cao, có khi
lên đến 400% nhằm phục vụ cho việc buôn bán và vận chuyển hàng hóa. Hình
thức cho vay với “mạo hiểm lớn”. Điểm đáng chú ý ở quan hệ cho vay mượn là
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nếu hàng hoá có rủi ro, tổn thất thì người vay không phải trả khoản tiền đã vay.
Thực chất đó là một sự kết hợp giữa hoạt động vay mượn và ý đồ BH.
- Rôme: Hệ thống cho vay dựa trên những điều kiện tương tự đã được thiết
lập, lãi suất tối đa lên đến 50%.
- Tuy nhiên quan hệ vay mượn đó đã bị lạm dụng và sau này bị cấm như một
hình thức cho vay nặng lãi. Từ đó đã dần dần hình thành nên một hệ thống mới:
các nhóm nhà buôn chấp nhận trả một khoản tiến nhất định để được đảm bảo giá
trị tàu thuyền và hàng hoá chuyên chở.
- Thế kỷ 14, những thỏa thuận BH đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động
giao lưu, buôn bán hàng hoá bằng đường biển đã rất phát triển vào thời kỳ đó. Bản
hợp đồng cổ nhất còn được lưu giữ đến ngày nay được phát hành tại Gênes - Italia
vào năm 1347.
- Những thoả thuận BH trong lĩnh vực hàng hải đó có nội dung cơ bản là:
một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng
hoá, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng thì bên kia (nhà bảo hiểm) sẽ trả
cho họ một khoản tiền phù hợp. Những thỏa thuận đó đã đánh dấu chính thức cho
sự khởi đầu của BH phi nhân thọ. Kể từ thời điểm đó trong xã hội đã xuất hiện các
tổ chức BH (công ty BH đầu tiên của ngành vận tải biển và đường bộ được thành
lập năm 1424 tại Gênes).
- Những tổ chức BH bắt đầu đứng ra cung cấp một loại dịch vụ đặc biệt trong
1.1.3.1. Bảo hiểm phi nhân thọ góp phần tạo ra môi trường và kích thích kinh tế
- xã hội phát triển.
- Quỹ BH PNT dùng để bồi thường những thiệt hại cho người tham gia BH,
giúp họ ổn định tài chính và đời sống khi không may gặp rủi ro.Từ đó góp phần
ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển.
- Nhờ có quỹ BH PNT mà ngân sách nhà nước thay vì phải trợ cấp để khắc
phục những hậu quả do rủi do bất ngờ là chi một khoản tiền nhỏ đóng góp vào quỹ
BH. Do đó, có điều kiện để đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội.
16