Tổng hợp câu hỏi và đáp án triết học cao học - Pdf 29

Tổng hợp câu hỏi và đáp án triết học cao học
Câu 1 Trình bày khái quát triết học Ấn Độ cổ đại; qua đó, chứng minh rằng nó là sản phẩm tinh thần của
đời sống hiện thực xã hội đó. (STT: 38)
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Triết học Ấn Độ là sự phản ánh xã hội
Ấn Độ cổ đại – xã hội rất coi trọng và đề cao tôn giáo, một xã hội rất mê triết lý với những đặc điểm sau:
- Do chịu ảnh hưởng bởi tinhsadsfSA thần Vêđa mà Triết học Ấn độ Cổ Đại không thể phần chia rõ
ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình, mà chủ yếu chia
thành hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống. Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có
sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình với
nhau, song xu hướng chung là biến đổi từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị
nguyên. Các trường phái triết học thường kế tục mà không gạt bỏ trường phái triết học trước đó
- Do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học Ấn Độ cổ đại thường là một bộ
phận lý luận quan trọng tạo nên nộ dung giáo lý của các tôn giáo lớn. Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ có
xu hướng hướng nội đi sâu tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá
nhân con người. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ - Trung đại mang nặng tính chất duy tâm chủ quan và thần bí.
- Triết học Ấn Độ Cổ - Trung Đại đã đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề. Khi bàn đến vấn đề bản thể
luận, các trường phái xoay quanh vấn đề “tính không”, đem đối lập “không” và “có”, quy cái “có” về cái
“không” thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao. Song, vấn đề quan tâm nhiều nhất lại là vấn đề
thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người) dưới góc
độ tôn giáo với xu hướng “hướng nội” nhằn tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng
sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khắc nghiệt.
- Triết học Ấn Độ vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đa dạng. Thống nhất ở chỗ dù trực tiếp
hay gián tiếp nó đều bị chi phối bởi quan niệm đồng nhất thể của Upanishad; hầu hết các trường phái đều
hướng đến giải thoát; một số nguyên lý chung có ở nhiều trường phái. Đa dạng ở chỗ triết học Ấn Độ chia
thành nhiều khuynh hướng, nhiều nhánh nhỏ; trừ chủ nghĩa duy vật, mỗi trường phái là những con đường
khác nhau để đi đến giải thoát; nhiều vấn đề khác nhau được đặt ra ở những trường phái khác nhau.
Trong thời kỳ này toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ được chia thành 9 trường phái:
• Sáu trường phái “chính thống” là:
+Vedanta: xuất hiện vào thế kỷ II TCN đưa ra các kiến giải siêu hình và duy tâm về nguyên nhân hình
thành thế giới (vũ trụ và vạn vật)
+ Samkhya: xuất hiện vào những năm 350-250 TCN. Lý luận cơ bản của phái này là học thuyết duy

cổ xưa, về sau chỉ phát triển, bổ sung, hoàn thiện.
- Biện chứng trong triết học Ấn Độ mang tính chất ngây thơ, duy tâm; sự phát triển đi theo vòng tròn,
tuần hoàn. Điều này do công xã nông thôn biệt lập, khép kín ở Ấn Độ quy định. Khác với triết học Trung
Quốc, tư duy trong triết học Ấn Độ không trọng cái cụ thể, hữu hạn; họ muốn vượt cái này để đi đến cái
tuyệt đối. Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu hóa ruộng đất là hai đặc điểm
lớn nhất, chi phối và ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt lịch sử của Ấn Độ, nhất là ảnh hưởng đến sự phát của
văn hóa và triết học. Trên cơ sở “phương thức sản xuất châu Á”, xã hội Ấn Độ được kết cấuvới ba nhóm
cơ bản: nhóm (thực chất là quan hệ gia đình, dòng họ), cộng đồng tự trị làng – xã và bang (tiểu quốc) với
chế độ đẳng cấp ngặt nghèo. Xét trong điều kiện tồn tại xã hội như vậy thì triết học của Ấn Độ gắn chặt
với vấn đề tôn giáo và tâm linh cũng là yếu tố khách quan
- Quan hệ đẳng cấp ở Ấn Độ đã đã làm cho kết cấu xã hội - giai cấp thêm phức tạp. Theo kinh điển
Bàlamôn và Bộ luật Manu của Ấn Độ, trong xã hội có bốn đặc cấp lớn: Tăng lữ; các đạo sỹ (Brahman);
quý tộc; vương công, tướng sĩ, võ sư (Ksatriya); tự do: thương nhân, điền chủ, thường dân (Vaisya); nô lệ
và tiện dân (Ksudra). Ngoài ra còn có hạng “cùng đinh” được coi là ngoài lề xã hội (Paria).Sự phân biệt
về đẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội
nhưng bị kiềm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước - tôn giáo.
- Điều kiện địa lý của môi trường của Ấn Độ rất đa dạng, phức tạp như núi non hiểm trở, sa mạc khô
cằn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán liên miên; thêm vào đó, chiến tranh liên tục xảy ra đã làm cho
2
dân cư và các bộ tộc ở Ấn Độ bị phân hóa hết sức phức tạp. Đây là những yếu tố tác động, ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân Ấn Độ; điều đó đã buộc họ phải tìm đến, cầu xin các
lực lượng siêu nhiên, bên ngoài là Thượng đế cứu giúp. Các vấn đề tôn giáo, tâm linh nảy sinh, tồn tại và
phát triển trên mảnh đất hiện thực này.
- Triết học Ấn Độ không chỉ nảy sinh từ những cơ sở nêu trên mà còn gắn với các thành tựu của khoa
học, kỹ thuật và văn hóa của Ấn Độ. Các biến động lớn các điều kiện về tự nhiên, về con người, về xã
hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh làm xuất hiện các trường phái trong hai hệ thống
triết học nêu trên.
Câu 23: Anh / Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là
học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép chứng, nhưng
điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm” (STT: 14)

kiện, tiền đề cho sự tồn tại của mình; là các MĐL đồng nhất nhau tức trong chúng chứa những yếu tố
giống nhau cho phép chúng đồng tồn tại trong SV; là các MĐL tác động ngang nhau, tức sự thay đổi
trong MĐL này tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong MĐL kia, và ngược lại.
- Đấu tranh của các MĐL: Dù tồn tại trong sự thống nhất, song các MĐL luôn đấu tranh với
nhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định hay loại bỏ lẫn nhau. Hình thức và
mức độ đấu tranh của các MĐL rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn nhau là một hình thức đặc biệt của các
MĐL.
- Mâu thuẫn BC, tức sự thống nhất và đấu tranh của các MĐL, tồn tại k.quan phổ biến và đa
dạng (MT bên trong – MT bên ngoài; MT cơ bản – MT kg cơ bản; MT chủ yếu – MT thứ yếu; MT trong
tự nhiên – MT trong xã hội – MT trong tư duy). Sự tác động lên bản thân sự vật là nguồn gốc, động lực
của mọi sự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới.
- Chuyển hóa của các MĐL (giải quyết MTBC): sự thống nhất mang tính tương đối gắn liền
với sự ổn định của SV; sự đấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sự VĐ, thay đổi của SV. MTBC phát
triển tương ứng với quá trình thống nhất các MĐL chuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự đấu
tranh các MĐL chuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt từ đó làm xuất hiện các khả năng chuyển hóa của
các MĐL. Khi đk k.quan hội đủ, một trong khả năng đó biến thành hiện thực, các MĐL tự thực hiện quá
trình chuyển hóa. MTBC sẽ được giải quyết khi các MĐL tự phủ định chính mình để biến thành cái khác.
Với hai phương thức chuyển hóa như sau: MĐL này chuyển hóa thành MĐL kia ở trình độ mới và cả hai
MĐL cùng chuyển hóa thành một cái thứ 3 nào đó.
- Nd quy luật: Các MTBC khác nhau tác động kg giống nhau đến quá trình vận động và
phát triển của sự vật. Mỗi MTBC đều trải qua các giai đoạn từ sinh thành (sự xuất hiện của các MĐL)
sanh hiện hữu (sự thống nhất và đấu tranh của các MĐL), rồi giải quyết (sự chuyển hóa của các MĐL).
MTBC được giải quyết, cái cũ mất đi cái mới ra đời với những MTBC mới hay thay đổi vai trò tác động
của MTBC cũ. MTBC là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển. Do đó, VĐ và PT trong thế giới
vật chất là tự bản thân nó.
-> Phép biện chứng đòi hỏi xem xét sự thống nhất của các mặt đối lập một cách cụ thể, xem xét những
mối quan hệ cụ thể. Đây cũng là bản chất của sự đồng nhất mang tính biện chứng, sự đồng nhất có chứa
đựng các yếu tố khác biệt.
-> Nhấn mạnh tính chất quan trọng của sự thống nhất của các mặt đối lập, V.I.Lênin đưa ra
một định nghĩa nữa về phép biện chứng: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự

được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao
động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà
họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập
đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
Từ định nghĩa giai cấp của V.I. Lênin có thể rút ra những đặc trưng cơ bản về quan hệ giai cấp:
- Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định.
Giai cấp không phải là phạm trù xã hội thông thường mà là phạm trù kinh tế- xã hội có tính lịch sử. Giai
cấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của những hệ thống sản xuất xã hội
nhất định trong lịch sử. Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất là
thể thống nhất của các mặt đối lập. Do đó không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu
không đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó. Nói đến giai cấp là nói
5
đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế- xã hội nhất định. Trong
hệ thống kinh tế xã hội đó, tập đoàn người này là tập đoàn thống trị, tập đoàn người kia là tập đoàn bị trị.
Đó là các giai cấp. Đây là đặc trưng chung nhất.
- Các giai cấp có quan hệ khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất.
Đây là sự khác nhau cơ bản nhất và cũng là đặc trưng cơ bản nhất. Giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến,
tư bản là những tập đoàn giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, do các tập
đoàn này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội để chi phối lao động của các tập đoàn người khác, không có tư
liệu hoặc có ít tư liệu sản xuất. Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất: nô lệ, nông nô, vô sản buộc
phải phụ thuộc vào các tập đoàn thống trị.
- Các giai cấp khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, tổ chức quản lý sản xuất.
Tập đoàn người nào (giai cấp) chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt
động sản xuất và lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế.
- Các giai cấp khác nhau về phương thức và qui mô thu nhập của cải xã hội.
Giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức và lãnh đạo sản xuất, tập đoàn đó có đủ điều kiện để thực
hiện mục đích là chiếm đoạt lao động thặng dư của các giai cấp lao động. Trong xã hội nô lệ, giai cấp nô
lệ phải sống như súc vật. Trong xã hội phong kiến giai cấp nông nô chỉ được hưởng 20% của cải do mình
làm ra 80% phải cống nộp cho địa chủ và nhà nước phong kiến. Trong xã hội tư bản giai cấp công nhân
và tầng lớp trí thức làm thuê nhận được một phần sản phẩm lao động của mình dưới hình thức tiền lương.

đường lối, chiến lược của Đảng và đã được Nghị quyết Hội nghị TW 5 Khóa VIII khẳng định: “Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đầy sự phát triển KT-XH

Khái niệm, bản chất của văn hóa :
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và cho đến nay văn hóa là
một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. Song, có thể định nghĩa văn hóa như sau: văn
hóa là hoạt động tinh thần nhằm phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người
để sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần dựa trên các chuẩn mực : chân, thiện, mỹ nhằm
duy trì sự tồn tài và phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội. Văn hóa cũng là hoạt động
nhằm tạo ra những giá trị những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ 2, cái nôi nuôi dưỡng sự
hình thành nhân cách con người. Theo định nghĩa của Tổng thư ký UNESCO thì văn hóa là tổng
thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong
hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
7
Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần nhằm giáo
dục con người khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện,
mỹ trong đời sống. Với ý nghĩa đó thì văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, dù
đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp, ứng xử xã hội
trong thái độ ứng xử với thiên nhiên.
Văn hóa có 7 thuộc tính : một là văn hóa mang tính lịch sử, hai là văn hóa mang tính truyền thống do
những giá trị văn hóa được lưu giữ, phát triển và truyền bá qua các giai đoạn lịch sử từ thế hệ này sang
thế hệ khác, ba là văn hóa mang tính dân tộc thể hiện rõ ở bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa nói lên đặc
điểm của một dân tộc, biểu hiện bản lĩnh, tâm hồn, cốt cách của 1 dân tộc, bốn là văn hóa mang tính giá
trị (vật thể, phi vật thể, vật chất hoặc tinh thần), năm là văn hóa bao giờ mang tính nhân sinh, chỉ có con
người mới sáng tạo văn hóa và hoàn thiện mình thông qua môi trường văn hóa, sáu là văn hóa mang tính
phát sinh và bảy là trong xã hội có giai cấp, văn hóa bao giờ cũng mang tính giai cấp.

- Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển: Văn hóa khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo
của con người. Trong thời đại ngày nay, việc phát huy tiềm năng sáng tạo của con người có tầm quan

hội.
+ Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
chính là mục tiêu văn hóa.
+ Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển là vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia. Nhất là
các nước vốn trước đây là thuộc địa thì việc giải quyết vấn đề này lai có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy
nhiên, trong nhân thức và hành động, mục tiêu kinh tế thường lấn át mục tiêu văn hóa và được đặt ở vị trí
ưu tiên trong các kế hoạch, chương trình, chính sách phát triển.

- Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng
xã hội mới.
Việc phát triển kinh tế - xã hội cần đến những nguồn lực khác nhau: tài nguyên thiên nhiện, vốn,… nhưng
các tài nguyên thiên nhiên này đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt. Chỉ có tri thức con người mới là
nguồn lực vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh không bao giờ cãn kiệt. các nguồn lực khác sẽ được sử
dụng có hiệu quả khi nguồn lực co người có chất lượng cao.
Câu 41: PHÂN TÍCH NHỮNG DẤU HIỆU NHẬN BIẾT CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VỚI TƯ CÁCH LÀ GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN. (STT 54)
I/ Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở đó có sự ngự trị cao nhất
của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân.
II/ Dấu hiệu nhận biết cơ bản của nhà nước pháp quyền.
1. Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó có sự ngự trị tối cao của pháp
luật.
Với hình thức tổ chức xã hội theo mô hình nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải trở thành tiêu
chuẩn và căn cứ căn bản nhất, cao nhất trong mọi hoạt động của bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và
mỗi công dân.
9
Đây là dấu hiệu biểu nhất về phương diện pháp lý để xác định một nhà nước nào đó có phải là nhà
nước pháp quyền hay không và là nhà nước pháp quyền ở trình độ nào.
Tính pháp quyền của hình thức tổ chức nhà nước pháp quyền phải là cao nhất ngay cả đối với chủ thể
quyền lực mặc dù chủ thể quyền lực đặt ra pháp luật.

những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình. Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật,
vào các mối quan hệ xã hội.
Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm tư tưởng (chính
trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo) là kết quả của sự khái quát hoá những kinh nghiệm xã
hội. Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, nghĩa là nó được hình thành tự giác bởi các
nhà khoa học và được truyền bá trong xã hội.
Khi nghiên cứu về hệ tư tưởng cần có sự phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không
khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã
hội. Còn hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất xã hội nhưng
dưới một hình thức sai lầm, hư ảo, xuyên tạc khách quan.
Là một bộ phận của ý thức xã hội, hệ tư tưởng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của khoa học.
Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác động rất quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là vai
trò của tư tưởng triết học trong quá trình khái quát tài liệu.
Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và tâm lý xã hội.
Hệ tư tưởng và tâm lý xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức
xã hội, nhưng chúng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Cả hai đều có nguồn gốc tự tồn tại
xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Nhưng trong đó, tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây
trở ngại cho sự hình thành, sự truyền bá, sự tiếp thu của con người đối với một hệ tư tưởng nhất
định (tâm lý, tình cảm giai cấp là điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư
tưởng của giai cấp). Mối liên hệ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học, tiến bộ) với tâm lý
xã hội, với sự sinh động phong phú của đời sống thực tiễn sẽ giúp cho hệ tư tưởng bớt xơ cứng,
giảm sai lầm.
Ngược lại, hệ tư tưởng, lý luận xã hội sẽ làm gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng
khoa học sẽ thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo hướng đúng đắn, lành mạnh. Hệ tư tưởng phản
khoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.
11
Hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội, không là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã
hội.
Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng thừa kế các học
thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó. Thí dụ, tư tưởng tôn giáo ở thời

một cá thể sinh vật – xã hội.
37.Định nghĩa về giai cấp của Lênin và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa (STT:16 )
C. Mác đã từng xác nhận, tình trạng phân chia xã hội thành các giai cấp không phải do ông phát hiện
mà do nhiều nhà sử học tư sản như Chie, Ghidô, Minhê phát hiện ra. Hai phát minh của C. Mác: Chủ
nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư là cơ sở lý luận khoa học, làm sáng tỏ bản chất của
quan hệ giai cấp.
Năm 1919, trong tác phẩm sáng kiến vĩ đại, V.I. Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp: “Người ta
gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản
xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này
được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao
động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà
họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập
đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
Từ định nghĩa giai cấp của V.I. Lênin có thể rút ra những đặc trưng cơ bản về quan hệ giai cấp:
- Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định.
Giai cấp không phải là phạm trù xã hội thông thường mà là phạm trù kinh tế- xã hội có tính lịch sử. Giai
cấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung màlà sản phẩm của những hệ thống sản xuất xã hội
nhất định trong lịch sử. Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất là
thể thống nhất của các mặt đối lập. Do đó không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu
không đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó. Nói đến giai cấp là nói
đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế- xã hội nhất định. Trong
13
hệ thống kinh tế xã hội đó, tập đoàn người này là tập đoàn thống trị, tập đoàn người kia là tập đoàn bị trị.
Đó là các giai cấp. Đây là đặc trưng chung nhất.
- Các giai cấp có quan hệ khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất.
Đây là sự khác nhau cơ bản nhất và cũng là đặc trưng cơ bản nhất. Giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến,
tư bản là những tập đoàn giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, do các tập
đoàn này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội để chi phối lao động của các tập đoàn người khác, không có tư
liệu hoặc có ít tư liệu sản xuất. Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất: nô lệ, nông nô, vô sản buộc

thế, tính chất của sự vận động xã hội.
Câu 20: Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống
(/phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; /phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích). Việc tuân
thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức khoa học? Lấy một ví
dụ minh họa việc vận dụng phương pháp này trong hoạt động nghiên cứu khoa học. (Quỳnh: STT 51)
1. Cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống:
+ Cơ sở lý luận:
- Mọi khách thể (sự vật, hiện tượng, quá trình) tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệ thống;
mỗi khách thể hệ thống là một tập hợp gồm nhiều yếu tố có mối liên hệ với nhau và với môi trường xung
quanh tạo nên một trật tự - tổ chức nhất định, có cấu trúc ổn định và luôn thực hiện những chức năng xác
định nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của chính mình; sự tác động qua lại giữa các yếu tố của hệ
thống tạo nên những thuộc tính tổng hợp - tính chỉnh thể - đặc trưng cho hệ thống; trong hệ thống chỉnh
thể, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số học các bộ phận hay các yếu tố hợp thành.
- Bản thân mỗi khách thể hệ thống vừa là một hệ thống vừa là một yếu tố hay bộ phận của một hệ thống
khác lớn hơn; trong thế giới tồn tại tính xếp cấp của hệ thống; khách thể là hệ thống hay là yếu tố chỉ
mang tính tương đối.
- Khi khách thể là hệ thống đã được xác định, sự tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau hay với môi
trường là nguyên nhân của mọi sự biến dạng, thay đổi của khách thể hệ thống theo một xu hướng nhất
định - tính hướng đích của hệ thống; tính hướng đích của hệ thống làm cho trật tự - tổ chức của hệ thống
không ngừng được đổi mới; khách thể hệ thống vì vậy không ngừng phát triển.
+ Những yêu cầu cơ bản của phương pháp hệ thống: Trong nhận thức khoa học phải:
- Phân chia khách thể hệ thống (đối tượng mà hoạt động nhận thức hay thực tiển tác động đến) ra thành
các yếu tố, xác định môi trường mà khách thể tồn tại;
- Phát hiện được những mối quan hệ, liên hệ tất yếu, ổn định giữa các yếu tố; xác định cấu trúc, vạch rõ
chức năng, làm sáng tỏ trật tự - tổ chức của khách thể.
15
- Xác định các thuộc tính tổng hợp; phát hiện ra tính chỉnh thể của hệ thống; vạch rõ các mối liên hệ,
tương tác giữa hệ thống và môi trường.
- Phát hiện ra tính hướng đích của hệ thống và xu hướng phát triển của khách thể hệ thống.
Mặc dù mọi khách thể tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệ thống nhưng phương pháp hệ

16
nhận thức khoa học dường như quay về với ban đầu, về với cái cụ thể, nhưng không phải là quay về với
cái biểu tượng của cái toàn thể cảm tính mà là quay về với cái tổng hòa nhiều cái quy định, nhiều mối
quan hệ của tư duy.
+ Những yêu cầu cơ bản của phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể:
Nhận thức khoa học phải thống nhất hai quá trình nhận thức vận động đối lập: từ cụ thể (cảm tính) đến
trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể (trong tư duy).
- Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng đòi hỏi phải dựa vào những tài liệu cảm tính thông qua phân tích
xây dựng các khái niệm, những định nghĩa, định lý, định luật, ….đơn giản, trừu tượng phản ánh từng
mặt, từng thuộc tính của đối tượng đang nghiên cứu. Từ những cái trừu tượng ban đầu xây dựng những
cái trừu tượng tiếp theo…
- Từ trừu tượng đến cụ thể (trong tư duy) đòi hỏi phải dựa trên những khái niệm, những định nghĩa,…
đơn giản, trừu tượng thông qua tổng hợp biện chứng xây dựng cái cụ thể (trong tư duy) – lý thuyết (hệ
thống những hiểu biết sâu sắc về đối tượng đang nghiên cứu).
3. Cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp thống nhất cái lịch sử và
cái lôgích:
+ Cơ sở lý luận:
- Cái lịch sử là phạm trù dùng để chỉ quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong của sự vật trong tính đa
dạng, sinh động của nó. Cái lôgích là phạm trù dùng để chỉ tính tất yêu, quy luật, bản chất của sự vật
(lôgích khách quan) hay mối liên hệ tất yếu giữa các tư tưởng (lôgích chủ quan). Cái lôgích là cái phản
ánh cái lịch sử, do đó, nó phải phụ thuộc vào cái lịch sử; nhưng nó không phải là sự sao chép máy móc,
giản đơn cái lịch sử mà là phản ánh cái lịch sử dưới dạng rút gọn, sáng tạo. Cái lôgích chẳng qua là cái
lịch sử nhưng đã thoát ra khỏi hình thái ngẫu nhiên, vụn vặt của cái lịch sử. Nhận thức khoa học là sự
thống nhất của hai phương pháp nhận thức đối lập bổ sung nhau: phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgích.
- Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải tái hiện lại trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể với những chi tiết của
nó, nghĩa là phải nắm lấy sự vận động, phát triển lịch sử của sự vật trong toàn bộ tính phong phú của nó.
Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng trong các khoa học lịch sử. Không có phương pháp
lịch sử sẽ không có khoa học lịch sử. Tuy nhiên, không phải với mọi đối tượng việc áp dụng phương
pháp lịch sử đều mang lại hiệu quả.

Văn hóa Việt Nam của GS.TS. Trần Ngọc Thêm)
- Phương pháp hệ thống áp dụng vào việc tìm hiểu cấu trúc văn hóa cho thấy cấu trúc hệ thống văn hóa
là một chỉnh thể gồm các yếu tố trong mối quan hệ tương tác. Văn hóa nhận thức cũng là một hệ thống
với nhiều yếu tố trong quan hệ với nhau như vậy. Điều đó cho thấy đặc trưng bản sắc văn hóa Việt Nam
qua văn hóa nhận thức từ nguồn gốc từ nguồn gốc, sự hình thành, quá trình vận động từ nhận thức vũ trụ
cho đến nhận thức con người, từ nhận thức không gian đến nhận thức thời gian trong sự đồng nhất bởi
yếu tố chung – tư duy nông nghiệp lưỡng phân, lưỡng hợp qua quá trình vận động: Âm dương – Tam tài
– Ngũ hành. Tính hệ thống của văn hóa nhận thức Việt Nam thể hiện qua mối quan hệ biện chứng: đồng
nhất – đối lập giữa các yếu tố (các triết lí nhận thức) và quá trình vận động, phát triển của chúng. Phương
pháp hệ thống tỏ ra thích hợp và hữu dụng với việc dạy – học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam nói chung và
đặc biệt với bài học Văn hóa nhận thức nói riêng.
18
Nguồn tài liệu tham khảo:
1. Sách Triết học – Tài liệu tham khảo cho học viên cao học. Chủ biên: TS. Bùi Văn Mưa
2. Trang web: />Câu 19: Nguyên lý? Nguyên tắc?Mối quan hệ giữa chúng.Anh/Chị hãy nêu những yêu cầu phương pháp
luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển.Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được
những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.(ÁI MỸ)
1. Nguyên lý là gì?
- Nguyên lý là những luận điểm xuất phát (tư tưởng chủ đạo) của một học thuyết (lý luận) mà tính chân
lý của nó là hiển nhiên, tức không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không mâu thuẫn với thực
tiễn và nhận thức về lĩnh vực mà học thuyết đó phản ánh.
- Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn – nhận thức lâu dài của con người. Nó vừa là
cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải – tiên đoán) và cải tạo thế
giới.
- Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nền tảng) và nguyên lý của
triết học. Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản.Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển.
2. Nguyên tắc là gì?
- Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự nhằm đạt mục đích đề
ra một cách tối ưu.

những quy định về lượng của sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng
chủ đạo trên.
+ “Hai quan điểm cơ bản…về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên,
như lập lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập.Quan điểm thứ nhất thì chết cứng,
nghèo nàn, khô khan.Quan điểm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của
“sự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy
vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái
cũ và sự nảy sinh ra cái mới”.
- Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữa cái cũ và cái mới; giữa cái
riêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kết quả; giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện
tượng; giữa tất nhiên và ngẫu nhiên; giữa khả năng và hiện thực.
- Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng: phát
triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát
triển trong tư duy, tinh thần.
· Nội dung nguyên lý
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển.
- Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một hệ thống vật chất, do việc
giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định.
6. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư
duy) siêu hình trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.

Câu 36: Trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính trị.
20
Chủ nghĩa Mác -Lênin khẳng định chính trị luôn mang bản chất giai cấp.Bản chất giai cấp của chính trị
được quy định bởi lợi ích ,trước hết là lợi ích kinh tế của giai cấp,nó luôn vận động trong mối quan hệ
giữa kinh tế với chính trị .Lênin cho rằng :"chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế"
Chính trị không chỉ mang bản chất giai cấp mà còn mang bản chất dân tộc ,cho nên trong đấu tranh chính

công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị ,là giành lấy dân chủ".Lênin cũng khẳng
định :"chỉ người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính vô sản
thì mới là người mácxits.Đó là điều khác nhau sâu sắc nhất giữa người mácxit và người tiểu tư sản(và cả
tư sản lớn) tầm thường".
Theo C Mác thì bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào cũng có tính chất chính trị vì nó trực tiếp đụng
chạm tới vấn đề quyền lực chính trị ,trực tiếp tuyen chiến với thể chế cũ.Mặt khác ,bất cứ 1 cuộc cách
mạng chính trị nào cũng có tính chất xã hội vì nó đặt vấn đề cải tạo cácquan hệ xã hội cũ,xây dựng các
quan hệ xã hội mới trên mỗi bước tiến của cách mạng.Chẳng hạn , cuộc cách mạng vô sản giành quyền
lực vào tay giai cấp vô sản,thiết lập quyền lực vô sản,xây dựng cácquan hệ xã hội mới,trước hết là quan
hệ về sở hữu tư liệu sản xuất,xóa bỏ sở hữu tư bản chủ nghĩa ,xác lập quan hệ sở hữu xã hội chủ
nghĩa Cũng cần lưu ý rằng ,chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh chủ thể của cách mạng vô sản,trước hết và
chủ yếu là giai cấp vô sản được sinh ra từ nền sản xuất đại công nghiệp ,chứ không phải bất kỳ vô sản
nào khác(vô sản lưu manh,vô sản nông thôn )
Như vậy ,chủ nghĩa Mác -Lênin chỉ ra 3 hình thức đấu tranh giai cấp cơ bản,và khẳng định rằng ,các
hình thức này có quan hệ mật thiết với nhau,ảnh hưởng và bổ sung cho nhau .Đấu tranh tư tưởng lý luận
và đấu tranh kinh tế phục vụ đấu tranh chính trị .Đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh cao
nhất,quyết định thắng lợi cuối cùng và căn bản của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản.
Câu 6. Chứng minh rằng, triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại thật sự là công cụ tinh thần của
giai cấp tư sản và các tầng lớp tiến bộ trong xã hội đấu tranh với các thế lực cũ nhằm tạo dựng nên một thời
đại mới.
22
Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư
bản (thế kỷ XV - XVI). Tính chất quá độ đó biểu hiện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị -
xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này.
- Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo
luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan rã. Nhiều công trường thủ công xuất hiện, ban đầu ở Italia,
sau đó lan sang Anh, Pháp và các nước khác, thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển.
Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thúc đẩy sự phát triển của khoa học, kĩ thuật.Nhiều công cụ
lao động được cải tiến và hoàn thiện. Với việc sáng chế ra máy kéo sợi và máy in đã làm cho công
nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển, nhất là ở Anh. Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng

duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm
đối lập với những lập luận kinh viện. Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ
nghĩa kinh viện Trung cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết
học duy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp
theo.
Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Đó là sự
phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết
học, nhưng với những đặc điểm mới.
Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kì giai cấp tư
sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến. Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ
ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ XVI ; Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách
mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây cũng là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập
và trở thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu. Nó tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học,
kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình độ là cơ sở cổ điển.
Đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kì này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm. Đặc trưng ấy tất yếu
dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động,
24
không phát triển, nếu có nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc. Đó là nguyên nhân
chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc siêu hình.
1. Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quan niệm về con người trong triết học phương Đông
với quan niệm về con người trong triết học phương Tây và với quan niệm về con người trong triết học Mác –
Lênin.
1.1. Quan niệm về con người trong triết học trước Mác.
a. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông.
Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người
trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận. Trong triết học Phật giáo, con người là
sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần). Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư
vô. Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ. Cuộc sống vĩnh cửu là phải
hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt .
Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suy đến cùng, con người theo quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status