Công trình này được hoàn thành tại Viện Kinh tế và Chính trò thế giới Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Lưu Ngọc Trònh
2. TS. Tô Thò Thanh Toàn Phản biện 1: PGS. TS. Trònh Thò Mai Hoa
Phản biện 2: PGS. TS. Bùi Tất Thắng
Phản biện 3: TS. Nguyễn Kim Bảo Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại
Viện Kinh tế và Chính trò thế giới
vào hồi………giờ ……..ngày…....tháng…....năm 2007
không những đã chọn đúng thời điểm, mà còn tìm cách tạo ra thời điểm
thuận lợi cho chính sách mở cửa của mình.
Ý thức và hiểu rõ tiềm năng và tiềm lực của mình, Trung Quốc đã
quyết đònh đưa đơn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngay từ
năm 1985 (lúc đó còn mang tên Hiệp đònh chung về Thuế quan và Mậu
dòch - GATT) và đến cuối năm 2001, Trung Quốc đã trở thành thành viên
chính thức của WTO.
Việc Trung Quốc gia nhập WTO có ý nghóa rất quan trọng đối với
Việt Nam, vì đây là hai quốc gia láng giềng “núi liền núi, sông liền
sông”, có nhiều mối quan hệ, trước hết là quan hệ kinh tế, với thể chế và
trình độ phát triển có nhiều nét tương đồng. Việc Trung Quốc gia nhập
WTO sẽ góp phần thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và làm nảy
sinh nhiều thách thức và cơ hội trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Thứ
nhất, sức ép cạnh tranh về thương mại hàng hóa sẽ tăng lên ở cả thò
trường nội đòa lẫn thò trường xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, cạnh tranh
về thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài sẽ trở nên gay gắt hơn. Thứ
ba, là tác động đến việc chuyển đổi và điều chỉnh cơ cấu các ngành công
nghiệp Việt Nam… Trong bối cảnh đó, rất cần có một sự nghiên cứu về
những thành tựu kinh tế nói chung, công nghiệp Trung Quốc nói riêng, kể
2
từ sau khi nước này gia nhập WTO nhằm mục đích nhận diện rõ thách
thức và dự báo được khó khăn nảy sinh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế nói chung cũng như công nghiệp Việt Nam nói riêng. Đồng thời, đưa ra
những đối sách để biến những thách thức, khó khăn đó thành những cơ
hội để công nghiệp Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thò trường trong nước
lẫn nước ngoài, sẵn sàng hội nhập quốc tế. Hơn nữa, việc nghiên cứu này
phần nào giúp chúng ta hiểu sâu hơn và có hệ thống về những vấn đề liên
quan đến cải cách kinh tế của Trung Quốc trong quá trình gia nhập WTO,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình đổi
mới để hội nhập kinh tế quốc tế cũng như để thực thi những cam kết sau
điều tra đánh giá về năng lực cạnh tranh một số ngành công nghiệp Việt
Nam. Một số cơ quan như Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương,
Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách Công nghiệp (Bộ Công nghiệp),
Viện Kinh tế Việt Nam, Trường đại học Ngoại thương Hà Nội, Trường
đại học Kinh tế quốc dân, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam... đã có nhiều báo cáo khoa học, sách và tạp chí đánh giá thực trạng
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, như “Hoàn
thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” của GS.TS. Kenichi
Ohno và GS.TS. Nguyễn Văn Thường, “Nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và UNDP,
“Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa: Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm
của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á” của TS. Đỗ Đức Đònh...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều khía cạnh
quan trọng, làm thế nào để công nghiệp Việt Nam có thể “đứng vững”
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, các tài liệu trên (i)
chưa đưa ra được một cách cụ thể những lợi thế so sánh tónh cũng như lợi
thế so sánh động của một số ngành công nghiệp tiêu biểu của Việt Nam
so với Trung Quốc; (ii) đặc biệt, chưa làm rõ những tác động của việc
Trung Quốc gia nhập WTO đối với năng lực cạnh tranh của một số ngành
công nghiệp Trung Quốc và Việt Nam; (iii) mới tập trung phân tích chính
4
sách vó mô mà chưa đi sâu vào từng ngành nghề, từng sản phẩm công
nghiệp cụ thể; và (iv) giải pháp đưa ra còn mang tính “đònh hướng”
chung mà chưa chi tiết đến từng cấp, ngành, doanh nghiệp.
Tuy vậy, những công trình nghiên cứu trên đây rất hữu ích cho chúng
tôi trong việc nghiên cứu đề tài: Trung Quốc sau gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO): Tác động và những giải pháp để nâng
cao năng lực cạnh tranh một số ngành công nghiệp Việt Nam. Điều
quan trọng khi nghiên cứu sâu về đề tài này là ngoài việc kế thừa các
động khác, ngoài công nghiệp, chỉ mang tính tham khảo hoặc liên hệ khi
cần thiết.
c. Phương pháp nghiên cứu: Những phương pháp chính được sử dụng
trong quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lòch sử; phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp dựa trên số liệu sơ
cấp và thứ cấp; phương pháp chuyên gia; phương pháp so sánh và có tính
đến các giai đoạn phát triển cụ thể của mỗi quốc gia.
5. Đóng góp của luận án
a. Hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của cạnh
tranh, tác dụng của năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, doanh nghiệp,
sản phẩm trong nền kinh tế thò trường, đặc biệt khi quốc gia hội nhập kinh
tế quốc tế.
b. Phân tích những tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đến
các các ngành kinh tế chủ chốt của Trung Quốc mà tập trung là các ngành
công nghiệp có ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp Việt Nam như
dệt may, da giày, điện tử...
c. Đưa ra một số chính sách ở tầm vó mô lẫn giải pháp ở cấp vi mô
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đặc biệt từ sau khi Trung Quốc
gia nhập WTO.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài các trang bìa, mục lục, phụ lục, danh mục các từ viết tắt, danh
mục tài liệu tham khảo..., luận án bao gồm các phần: mở đầu, ba chương
6
và kết luận.
Mở đầu:
Trình bày tính cấp thiết, ý nghóa của đề tài nghiên cứu, mục
đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.
Competitiveness Index – Growth CI) và Chỉ số năng lực cạnh tranh hiện
tại (Current Competitiveness Index - CCI) được sử dụng từ năm 2000 đến
năm 2003. Từ năm 2004, Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (Global
Competitiveness index - GCI) lần đầu tiên được công bố trong Báo cáo
năng lực cạnh tranh toàn cầu và hiện nay được Diễn đàn kinh tế thế giới
sử dụng làm chỉ số chính đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia cùng với
Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng
1.3. Năng lực cạnh tranh của ngành
1.3.1. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành
Năm yếu tố cạnh tranh: (i) những công ty mới có khả năng gia nhập
thò trường; (ii) mối đe dọa bò thay thế; (iii) sức mạnh mặc cả của người
mua; (iv) sức mạnh mặc cả của nhà cung ứng; và (v) sự cạnh tranh giữa
những công ty cùng ngành nghề với nhau.
1.3.2. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
(1) Sự chuyên biệt hóa; (2) Sự công nhận thương hiệu; (3) Đẩy và
kéo; (4) Tuyển chọn kênh phân phối; (5) Chất lượng sản phẩm; (6) Sự
dẫn đầu về công nghệ; (7) Sự tích hợp dọc; (8) Vò thế chi phí; (9) Dòch vụ;
(10) Chính sách giá cả; (11) Khả năng tài chính; và (12) Mối liên hệ với
chính quyền sở tại.
1.3.3. Các phương pháp phân tích khả năng cạnh tranh ngành
(1) Phân tích theo cấu trúc của ngành kinh doanh; (2) Phân tích lợi thế
cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh về chi phí hay khả năng
sinh lợi trên một đơn vò sản phẩm; và (3) Phân tích theo quan điểm tổng
thể.
1.3.4. Cơ sở xây dựng chiến lược cạnh tranh ngành
Xây dựng chiến lược cạnh tranh trong một ngành chính là việc xây
dựng một mô hình tổng thể bao gồm chọn lựa các nhóm chiến lược để
8
tham gia cạnh tranh hoặc hình thành một nhóm chiến lược hoàn toàn mới,
và phân tích cấu trúc ngành sẽ chỉ ra được những nhân tố quyết đònh sự