ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
NGUYỄN TUẤN ANH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ CỦA HỘ NÔNG
DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ SƠN HÙNG, HUYỆN THANH SƠN, TỈNH
PHÚ THỌ” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Lớp : K41 - KTNN
Khoa : KT&PTNT
Khóa học : 2009 - 2013
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Nguyễn Tuấn Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nghĩa
1 BVTV Bảo vệ thực vật
2 BQ Bình quân
4 ĐVT Đơn vị tính
5 GO Tổng giá trị sản xuất
6 GO/IC Tổng giá trị sản xuất/Chi phí trung gian
7 HQKT Hiệu quả kinh tế
8 HQXH Hiệu quả xã hội
9 HQMT Hiệu quả môi trường Tài sản cố định
10 IC
11 KHKT Khoa học kỹ thuật
12 MI Thu nhập hỗn hợp
13 MI/IC Thu nhập hỗn hợp/ Chi phí trung gian
14 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
15 TSCĐ Tài sản cố định
16 UBND Uỷ ban nhân dân
17 VA Giá trị gia tăng
18 VA/IC Giá trị gia tăng/ Chi phí trung gian
cây mũi nhọn để phát triển kinh tế của địa phương. Kinh tế của nhiều hộ nông
dân đi nên từ cây chè, cây chè góp phần xóa đói giảm nghèo [2].
Tuy nhiên, sản xuất chè ở Sơn Hùng vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, sản
phẩm chè làm ra không có tính cạnh tranh cao, chủ yếu là kinh tế hộ. Người
dân chỉ biết trồng, chăm sóc, thu hái và sản phẩm làm ra có giá bấp bênh, phụ
thuộc vào thị trường, bị tư thương ép giá. Đặc biệt, Sơn Hùng chưa có bức
tranh tổng quát về hiệu quả kinh tế của cây chè so với cây trồng khác. Xuất
phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:" Đánh giá hiệu
quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn xã Sơn Hùng,
huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ".
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa
bàn xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Để có thể hiểu được
phương thức sản xuất của người dân và đưa ra một số giải pháp giúp người
dân năng cao hiệu quả kinh tế, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Sơn Hùng trong 3
năm từ năm 2011 – 2013.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng chè tại địa phương.
- Đề xuất được một số giải pháp trong việc sản xuất chè, để góp phần
năng cao hiệu quả kinh tế giúp người dân cải thiện cuộc sống.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố những kiến thức đã được học để áp dụng vào thực tế và nâng
cao hiểu biết của bản thân về địa phương, về phương thức sản xuất của họ. 3
- Biết được cách thu thập và xử lí thông tin của sinh viên trong quá
dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu.
- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn
bản và những hộ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được.
1.1.2. Các loại đánh giá
* Đánh giá tiền khả thi/khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh tính khả thi của hoạt động hay dự án, để
xem xét liệu dự án hay hoạt động có thể thực hiện được hay không trong từng
điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện,
những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động để
làm căn cứ duyệt hay không duyệt để đưa dự án vào thực hiện.
* Đánh giá định kỳ: là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá
toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng
công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp
dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài. Tùy theo dự án mà người ta
có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6
tháng, hay 1 năm một lần. Mục đích của đánh giá định kỳ để tìm ra điểm mạnh,
điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có thể thay
đổi hay điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với những gì đã đề ra và cho
những giai đoạn kế tiếp.
1.1.3. Hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự
vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường. 5
1.1.3.1. Hiệu quả kinh tế (HQKT)
* Một số lý luận chung về HQKT
- HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình khai
thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người để phục vụ cho lợi
đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể và được đánh giá theo những
góc độ khác nhau.
1.1.3.2. Hiệu quả xã hội (HQXH)
HQXH của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, của bất kỳ mô
hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo có hội để
mọi người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập,
không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó
thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội.
1.1.3.3. Hiệu quả môi trường (HQMT)
HQMT trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi trường sinh
thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông thôn
theo hướng phát triển bền vững. Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai
thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho
các thế hệ tương lai.
HQMT còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi
trường vừa ít hoặc không sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như các loại
thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vì đây là nguyên nhân chính gây nên sự
ô nhiễm đối với môi trường sống hiện nay. 7
1.1.4. Cơ sở lý thuyết về sản xuất chè
1.1.4.1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật
khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản. Vì thế
để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú
trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại
bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những
sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu
tư sản xuất trong và ngoài nước. Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì
+ Điều kiện khí hậu
Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau. Nhưng qua số
liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng
mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 – 2000
mm. Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90%. Độ ẩm đất từ 70 - 80%. Lượng
mưa bình quân tháng trên 1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè
có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng
10 trong năm [1].
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát
triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới 10
o
C hay
trên 40
o
C. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22 – 28
o
C. Mùa đông cây chè tạm
ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài,
ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống
chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau [1].
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm,
ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các
giống chè lá nhỏ ưa sáng hơn các giống chè lá to.
b. Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật
+ Giống chè 9
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè
nguyên liệu và chè thành phẩm. Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất
phân bố từ 330 vĩ Bắc đến 490 vĩ Nam, trong đó vùng thích hợp nhất là 160 vĩ
Nam đến 200 vĩ Bắc, ở vùng này cây chè sinh trưởng quanh năm còn trên 200 vĩ
Bắc cây chè có thời gian ngủ nghỉ và tính chất mùa rõ rệt [8].
- Thị trường thế giới: Giá chè thế giới trong thời gian tới có thể tăng
sau khi các nhà sản xuất chè lớn nhất thế giới (Ấn Độ, Kenya, Indonesia,
Malauy, Ruanda và Xri Lanca), những quốc gia sản xuất hơn 50% sản lượng
chè toàn cầu nhất trí hợp tác nhằm tăng lợi nhuận [9].
1.2.2. Các nước sản xuất chè lớn nhất thế giới
a. Ấn Độ: Theo số liệu của uỷ ban chè vừa công bố, sản lượng chè
trong quý I năm 2012 của Ấn Độ giảm 13% xuống còn 82,29 nghìn tấn, sản
lượng ở cả phía bắc và phía Nam Ấn Độ đều giảm. Trong tháng 3 năm 2012
sản lượng chè đạt 47,06 ngìn tấn, giảm 16% so với mức 56,73 nghìn tấn cùng
kỳ năm ngoái. Số liệu này cho thấy sản lượng chè giảm ngay từ đầu năm nay,
tháng 1 năm 2012 sản lượng chè chỉ đạt 18,69 triệu tấn giảm 11% so với mức
20,93 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái, trong tháng 2 sản lượng chè giảm 4% đạt
16 triệu tấn so với 16,73 triệu tấn cùng kỳ năm 2011 [7].
b. Kenya: Kenya - một quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn trên thế
giới, hiện đang đứng thứ 4, ngay trên Việt Nam trong tốp 5 quốc gia sản xuất
và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới. Kenya có diện tích trồng chè tương đương
với diện tích trồng chè tại Việt Nam và có 1 xuất phát điểm tương đồng. Tuy
nhiên ngành chè Kenya đang là sản phẩm nông nghiệp chủ lực (bên cạnh
cafe) đã và đang đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của quốc gia Đông Phi này
với kim ngạch xuất khẩu cao hơn rất nhiều so với Việt Nam mặc dù sản lượng
xuất khẩu còn thua kém (ngành chè đóng góp trung bình từ 17 tới 20% tổng 11
giá trị xuất khẩu của Kenya) [19]. So với tháng trước giá chè Kenya tăng đáng
kể. Nếu mức giá trong tháng trước dao động từ mức 4,07- 4,12 thì sang đến
tháng 12/2012, mức giá của mặt hàng này đã tăng đáng kể lên mức 4.3 - 4.4
+ Kim ngạch xuất khẩu: Xuất khẩu chè của nước ta trong tháng 12/2012
đạt xấp xỉ 12 nghìn tấn với kim ngạch 18,85 triệu USD, so với tháng 11/2012
giảm nhẹ 2,1% về lượng nhưng tăng 0,3% về kim ngạch. Tính chung trong cả
năm 2012, tổng lượng chè xuất khẩu của nước ta đã đạt 146,7 nghìn tấn, kim
ngạch 224,6 triệu USD, tăng 9,6% về lượng và 10,1% về kim ngạch so với
năm 2011.
+ Về giá xuất khẩu: Giá xuất khẩu chè của nước ta trong tháng 12/2012
tăng 39 USD/tấn (tương đương tăng 2,54%) so với tháng 11/2012, đạt mức
1.576 USD/tấn và tăng 1,9% so với tháng 12/2011.
+ Thị trường xuất khẩu: Tính chung trong cả năm 2012, kim ngạch xuất
khẩu chè của nước ta sang các thị trường chủ chốt như: Pakistan, Đài Loan,
Indonesia đều đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng. Trong đó, kim ngạch xuất
khẩu tới Pakistan trong năm qua đã tăng mạnh gần 40% so với cùng kỳ năm
2011, thị trường Đài Loan tăng 13,04%, Indonesia tăng 26,39%, Trung Quốc
tăng 30,35%, đặc biệt Hoa Kỳ tăng tới 81,67%, Philippine tăng 104,45% ở 13
chiều ngược lại, kim ngạch chè xuất khẩu tới thị trường Nga giảm nhẹ 2,45%,
Arập Xêút giảm 2,71% [3].
Bảng 1.1: Tham khảo thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam tháng 12
và cả năm 2012
(ĐVT: Lượng: tấn; Kim ngạch: nghìn USD)
Thị
trường
T12/12
So T11/12
(%)
So 12/11
-15,72
-16,97
-12,57
-12,61
22.453
29.590 10,45
13,04
Nga
1.265
1.962
82,54
65,57
-3,66
0,26 13.896
21.615 -6,38
3.772
7.788
18,21
22,40
Trung
Quốc
546 712
-49,11
-49,82
-28,81
-21,41
14.632
19.307 16,35
30,35
Arập
Xêút
532 1.321
81,67
Ba Lan 403 560
4,68 5,66 -18,91
-9,82
4.083
4.850
43,26
45,25
Đức 276 464
109,09
91,74
-20,46
-17,58
2.987
5.136
717 1.885
98,07
104,45
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan [3])
- Nhận định và dự báo
Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, dự kiến đến năm 2020 sản lượng chè toàn
ngành đạt 250.000 tấn (tăng 43%). Trong đó xuất khẩu đạt 182.000 tấn 14
(chiếm 73% tổng sản lượng) với tỷ trọng: Chè xanh và chè đặc sản 60.000
tấn, chè đen OTD 73.000 tấn và chè CTC 49.000 tấn. Đơn giá xuất khẩu bình
quân đến năm 2020 đạt 1,99USD/kg.
1.2.3.1. Những lợi thế và khó khăn trong sản xuất chè của Việt Nam
a- Những lợi thế
- Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tiềm năng về đất đai và sự phân bố đất
đai trên nhiều miền khí hậu khác nhau.
- Nước ta là một nước có nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, 70% lao
động tham gia vào sản xuất nông nghiệp.
- Nước ta có hệ thống cảng biển, cảng sông, giao thông đường sắt, đường
bộ và hàng không có thể giao lưu thuận lợi với các Châu lục và các nước
trong khu vực tạo điều kiện cho việc vận chuyển.
- Đường lối chính sách đổi mới kinh tế của nước ta đã được mở rộng,
tự do hoá thương mại, hoà nhập thị trường Quốc tế.
- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng ngày càng được Nhà
nước quan tâm và ngày càng được nâng cao, thông qua nhiều kênh để đến với
người sản xuất nhằm năng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ sản xuất.
Phú Đa đầu tư vào hai huyện Thanh sơn, Tân Sơn.
Trong những năm gần đây, tỉnh có đưa thêm một số giống chè mới vào
trồng như LDP1, LDP2, đã làm thay đổi hẳn cơ cấu giống chè của mình: tỷ lệ
diện tích các giống chè Trung du giảm chỉ còn khoảng 36% ( năm 2005 là
45%), tỷ lệ diên tích trồng chè LDP1, LDP2 tăng lên 42% ( năm 2005 là
33%). Một số huyện đã đưa vào trồng thử nghiệm một số giống chè nhập nội
chất lượng cao phù hợp cho chế biến chè xanh ( Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên,
Bát Tiên), huyện Thanh Ba tiếp tục trồng thử nghiệm một số giống chè Ấn Độ
thích hợp cho chế biến chè đen. 16
Ngành chè đã góp phần rất quan trọng tạo việc làm, thu nhập cho
người dân ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ngoại trừ các hộ tham gia với quy
mô nhỏ, mới sản xuất, còn lại hầu hết các gia đình trồng chè đều có thu nhập
ổn định. Với mức thu mua từ 3.000 - 4.000đồng/kg búp tươi, hàng tháng
trong vụ chè các hộ có diện tích từ 1.000 đến 5.000m
2
đều có thu nhập hàng
trục triệu đồng, nhiều hộ trở nên giàu có nhờ cây chè. Trong những năm qua,
cây chè phát triển thuận lợi ít bị tác động thiên tai, sâu bệnh, giá bán ổn định
từ 4.000 đến 5.000 đồng/kg búp tươi nên cơ bản đảm bảo đời sống người dân
vững chắc hơn sản xuất lương thực.
Hiện nay, chè là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Năm 2010, toàn
tỉnh xuất được lượng chè hàng hóa trị giá 7,3 triệu USD, năm 2011 nâng lên
trên 13 triệu USD, năm nay phấn đấu đạt 14,5 -15 triệu USD [6].
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng chè tỉnh Phú Thọ 2010 - 2012
Năm Diện tích(ha) Năng suất( tạ/ha) Sản lượng chè búp
tươi( tấn)
2010 15625.1 80.78 111.6015
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng chè tại địa phương.
- Đề xuất được một số giải pháp trong việc sản xuất chè, để góp phần
năng cao hiệu quả kinh tế giúp người dân cải thiện cuộc sống.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất và tiêu thụ chè chè của xã Sơn Hùng trong nhưng
năm gần đây như thế nào?
- Hiệu quả kinh tế của cây chè? Nó chiếm vị trí như thế nào trong thu
nhập của hộ nông dân?
18
- Trong sản xuất và tiêu thụ chè có những thuận lợi và khó khăn gì?
- Cần đưa ra những biện pháp gì để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè ?
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Sơn Hùng là một trong những xã có diện tích trồng chè tương đối lớn
và là nơi cung cấp một sản lượng không nhỏ ra thị trường, mặt khác chè còn
được coi là cây trồng chính của xã.
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho xã về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã
hội và các đặc điểm khác của xã.
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu điều tra
Để có thể đánh giá được HQKT trong việc trồng chè tôi tiến hành chọn 3
xóm đại diện cho điều kiện kinh tế và sản xuất chè của xã Sơn Hùng để tiến hành
nghiên cứu đó là: Ngọc Sơn 1, xóm Ngọc Sơn 2, và xóm Gai. Trong mỗi xóm
chọn ngẫu nhiên 20 hộ để tiến hành nghiên cứu sâu, tổng mẫu điều tra là 60 hộ.
Từ kết quả thu được thông qua xử lý, phân tích số liệu có thể đánh giá
được hiện trạng sản xuất, tình hình sử dụng lao động, vai trò của sản xuất cây
chè trong hoạt động sản xuất kinh tế của hộ nông dân trong xã. Từ đó có thể
đánh giá được HQKT sản xuất cây chè trên địa bàn xã Sơn Hùng.
tính chất tương tự để xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu.
2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Một số chỉ tiêu phân tích
+ (Gros output): Tổng giá trị sản xuất (GO) được xác định là giá trị bằng
tiền của toàn bộ sản phẩm chè được sản xuất ra (thường là một năm) trên một
đơn vị diện tích.
Trong đó:
GO: Tổng giá trị sản xuất 20
Qi: Khối lượng sản phẩm loại i
Pi: Đơn giá sản phẩm loại i
+ Chi phí trung gian (IC): Chi phí trung gian (IC) là toàn bộ các khoản
chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ sản xuất. Trong quá trình sản xuất
chè chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí như: Giống, phân bón,
thuốc trừ sâu, làm đất, bảo vệ thực vật, cung cấp nước
+ Giá trị tăng: VA (Value Aded) là phần giá trị tăng thêm của một quá
trình sản xuất kinh doanh. VA được thể hiện bằng công thức:
VA = GO - IC
+ Thu nhập hỗn hợp (MI): Là thu nhập thuần tuý của người sản xuất,
bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận mà họ có thể nhận được khi
sản xuất một đơn vị diện tích. Thu nhập hỗn hợp được tính theo công thức
sau:
MI = VA - (A + T)
Trong đó: A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ, T
là thuế sản xuất.
+ Thu nhập hỗn hợp/ngày công lao động
Chỉ tiêu này cho biết giá trị thu nhập của một ngày công lao động được
hạch toán trong trồng chè của nông hộ.
Hay H = Q - C
22
Chương 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Sơn Hùng,
tỉnh Phú Thọ
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Sơn Hùng là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nan của huyện Thanh Sơn -
Phú Thọ, là cửa ngõ giao thông giữa huyện Thanh Sơn với Trung Tâm văn
hóa - kinh tế - chính trị của tỉnh tại Thành phố Việt Trì. Xã có diện tích tự
nhiên là 1.899 ha. Toàn xã có 10 khu hành chính với 10 dân tộc chung sống là
Kinh, Mường, Tày, Ragrai, Sán dìu, Nùng, Thái, Thổ và Hmông. Tuy chỉ
cách trung tâm huyện 3km nhưng đường xá đi lại khó khăn do đồi núi, sông,
suối chia cắt.
Phía Bắc giáp xã Tề Lễ - huyện Tam Nông - Phú Thọ.
Phía Nam giáp xã Thục Luyện - huyện Thanh Sơn.
Phía Đông giáp xã Dị Hậu - huyện Tam Nông.
Phía Tây giáp xã Ngọc Đồng - huyện Yên Lập.
Với vị trí gắn liền với huyện thị và nằm trên trục đường quốc lộ 32A dài
6km. Đây là tuyến đường giao lưu kinh tế với các tỉnh tây bắc và các tỉnh
đồng bằng. Vì vậy xã có điều kiện để phát triển hàng hóa, mở rộng giao lưu
kinh tế thị trường với các xã bạn và các tỉnh bên ngoài như tỉnh Yên Bái, Hòa
Bình…
Đặc điểm địa hình của xã có phía Đông và phía Tây có hai dãy núi cao
chạy giữa dòng sông Bứa, địa hình của xã được chia làm 2 vùng rõ rệt. Phía
Đông chiếm 1/3 diện tích toàn xã có địa hình dốc lớn hướng nghiêng từ phía
Đông Nam sang Tây Bắc. Phía Tây có 2/3 diện tích của toàn xã với địa hình ít