MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1. Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam 4
1.1. Những đặc điểm tự nhiên tác động đến quá trình hình thành
nền văn hóa Việt Nam
4
1.2. Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
5
1.2.1. Đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
5
1.2.2. Những biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu trong loại hình văn
hóa gốc nông nghiệp
6
Chương 2. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam 10
2.1. Bản chất của tín ngưỡng thờ thờ Mẫu trong văn hóa Việt
Nam
10
2.2. Nội dung cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt
Nam
10
Chương 3. Vận dụng tín ngưỡng thờ Mẫu trong việc dạy học môn Cơ sở Văn
hóa Việt Nam
14
3.1. Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
14
3.2. Vận dụng tín ngưỡng thờ Mẫu trong việc dạy học môn Cơ sở
Văn hóa Việt Nam
14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang
nước phát huy và bảo tồn. Ngoài ra chuyên đề cũng là một tài liệu để giáo viên
tham khảo trong quá trình giảng dạy môn học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Làm tài liệu để học tập, nghiên cứu, tham khảo cho học viên trong quá
2
trình học tập môn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tìm hiều về Văn hóa Việt Nam,
phục vụ trong quá trình về các vùng miền công tác và giữ gìn bản sắc Văn hóa
Việt Nam.
3. Nội dung nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu về những đặc điểm chính trong tín
ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Từ việc nghiên cứu đưa ra những nhận
xét đánh giá khách quan về giá trị văn hóa này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
- Nhìn nhận khách quan về tín ngưỡng thờ Mẫu
- Tác dụng của tín ngưỡng thờ Mẫu
5. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu từ những tài liệu đã được kiểm duyệt
- Hệ thống những vấn đề nghiên cứu
- Trình bày những kiến thức cơ bản, đưa ra đánh giá, kết luận
6. Những đóng góp mới của chuyên đề
Nhìn nhận một cách đúng đắn về tín ngưỡng thờ Mẫu cho học viên khi
nghiên cứu học tập bộ môn Cơ sở văn hóa Việt Nam trong trường Sĩ quan Pháo
binh.
7. Cấu trúc của chuyên đề
Chuyên đề gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận, tài liệu tham khảo.
Chương 1: Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Yếu tố tự nhiên cuối cũng chúng ta xét đến đó là môi trường sông nước.
Môi trường sông nước là một hằng số quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Do
lượng mưa nhiều đã tạo ra cho Việt Nam rất nhiều hệ thống sông ngòi lớn nhỏ.
Yếu tố sông nước chi phối rất lớn tới tư duy, lối sống người Việt và tất nhiên
cũng tác động đến văn hóa Việt Nam.
4
Như vậy chúng ta thấy rằng điều kiện tự nhiên (trong giới hạn chuyên đề
chỉ xét những điều kiện tự nhiên có liên quan đến chuyên đề) đã tác động đến
quá trình hình thành nên nền văn hóa Việt Nam, những đặc điểm này được quy
định trong loại hình văn hóa của Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông
làm nông nghiệp nói riêng đó là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp.
1.2 Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
1.2.1 Đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
Trên thế giới có hai loại hình văn hóa là loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp và loại hình văn hóa gốc du mục.
Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên : Dân nông nghiệp sống phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên, ở cố định một chỗ với cái nhà, cái cây của mình
nên có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên. Sống hòa hợp với
thiên nhiên - đó là mong muốn của cư dân các nền văn hóa trọng tĩnh phương
Đông. Người Việt Nam mở miệng là nói "lạy trời", "nhờ trời", "ơn trời": "Lạy
trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy đầy bát cơm, Lấy
rơm đun bếp"; "Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày
sâu" (ca dao).
Về mặt nhận thức, loại hình văn hóa này tạo kiểu tư duy: Nghề nông, nhất là
nghề nông nghiệp lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều - không
chỉ phụ thuộc vào một hai hiện tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc
vào tất cả: Trời, đất, nắng, mưa Cho nên người Việt nói: Trông trời, trông đất,
trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân
cứng đá mềm, Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng (ca dao). Đó chính là đầu mối
của lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái mà người nông
về ta một cách rõ ràng, chỉ cần dấn thêm một trận nữa là toàn thắng, cha ông ta
đều luôn biết dừng lại và chủ động "cầu hòa", trải chiếu hoa cho giặc về, mở
đường cho giặc rút lui trong danh dự.
Như vậy, đặt trong nội dung của chuyên đề loại hình văn hóa gốc nông nghiệp là
cơ sở để hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.
1.2.2 Những biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu trong loại hình văn hóa gốc nông
nghiệp
6
TIÊU CHÍ
VH TRỌNG TĨNH
(gốc nông nghiệp)
VH TRỌNG ĐỘNG
(gốc du mục)
Đặc
trưng
gốc
Địa hình Đồng bằng (ẩm, thấp) Đồng cỏ (khô, cao)
Nghề chính Trồng trọt Chăn nuôi
Cách sống Định cư Du cư
Ứng xử với môi
trường tự nhiên
Tôn trọng, sống hòa hợp
với thiên nhiên
Coi thường, tham vọng
chế ngự thiên nhiên
Lối nhận thức, tư
duy
Thiên về tổng hợp và
biện chứng (trong quan
hệ); chủ quan, cảm tính
một nét văn hóa rất đặc trưng trong nền văn hóa nước ta.
Nhiều người Việt Nam không dễ gì chấp nhận ngay được điểm cuối cùng (trọng
phụ nữ). Điều đó không có gì là khó hiểu, bởi lẽ do quá trình phát triển liên tục
và giao thoa lẫn nhau, không có nền văn hóa nào là du mục hoàn toàn hoặc nông
nghiệp hoàn toàn. Nền văn hóa Việt Nam thời kỳ sau này, đặc biệt là từ khi nhà
Lê lấy Nho giáo làm quốc giáo, chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa Trung
Hoa; nó đã du nhập nhiều tư tưởng trọng động (bị "du mục hóa"), trong đó có tư
tưởng "nam tôn nữ ty" được đề ra từ thời Hán. Nhiều người chỉ biết tới những
quan niệm của Nho giáo Trung Hoa "nhập cảng" sau này (kiểu như Nhất nam
viết hữu thập nữ viết vô, thuyết Tam tòng), rồi "tưởng" rằng tình trạng đó vốn có
ở Việt Nam từ ngàn xưa là hết sức sai lầm.
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần của người nông nghiệp định cư
coi trọng ngôi nhà, coi trọng cái bếp, coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất
7
So sánh đặc trưng của hai loại hình văn hóa
quán và rõ nét. Tục ngữ Việt Nam chứa đựng không ít những câu thể hiện
nguyên lý này: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà; Ruộng sâu trâu
nái không bằng con gái đầu lòng Phụ nữ Việt Nam là người có trách nhiệm
quản lý kinh tế, tài chính trong gia đình, dân gian gọi họ là người tay hòm chìa
khóa. Phụ nữ Việt Nam được xem là người có vai trò quyết định trong việc giáo
dục con cái: Phúc đức tại mẫu; con hư tại mẹ; cháu hư tại bà; con dại cái
mang (thành ngữ). Vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt,
từ cái vốn có nghĩa là "mẹ" (con dại cái mang) được chuyển nghĩa thành "lớn,
quan trọng, chủ yếu" (sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, trống cái, ngón tay
cái, máy cái, chữ cái, tên cái ). Sau này, khi chế độ phụ quyền được xác lập do
ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, người dân đã phản ứng dữ dội qua bài ca
dao:
“Ba đồng một mớ đàn ông,
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha;
Ba trăm một mụ đàn bà,
những người đàn ông phương Tây xưa giải quyết bằng cách đấu gươm và sau
này thì đấu súng với nhau mà không hề quan tâm đến ý kiến của chị ta. Trong
các ngôn ngữ phương Tây, nhiều danh từ chỉ nghề nghiệp hoặc chức vụ quan
trọng đều mang giống đực hoặc cấu tạo với từ căn mang nghĩa "người đàn ông".
Như vậy tư tưởng trọng phụ nữ đã trở thành một biểu hiện nổi bật trong
văn hóa Việt Nam.
9
Chương II
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
2.1 Bản chất của tín ngưỡng thờ thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Trong nội dung của đề tài tác giả không đi sâu vào hình thức của tín
ngưỡng mà chỉ đánh giá về sự ảnh hưởng của tín ngưỡng đối với môn học cũng
như đối tượng tiếp cận môn học.
Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (thường
gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là một phần quan trọng trong hệ thống tín
ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của Việt Nam. Đạo Mẫu là một tín ngưỡng
dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (thường gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là
một phần quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của
Việt Nam. Thờ cúng Nữ thần, Mẫu thần chính là phương thức ứng xử của con
người nhân cách hóa tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Từ nguồn cội con người tôn
sùng các hiện tượng tự nhiên, và họ đã sớm nhân cách hóa các hiện tượng tự
nhiên ấy thành các vị thần mang tính nữ. Tâm thức sùng bái tự nhiên được ẩn
giấu dưới vỏ bọc của các hình thái tín ngưỡng, làm cho thế lực tự nhiên trở
thành siêu nhiên, được nhân cách hóa thành các hoạt động siêu phàm, thể hiện
sự ngưỡng vọng và ước muốn của con người trong đời sống hàng ngày.
Nguồn gốc lịch sử của đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở.
Có người cho rằng nó có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần
linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu
hay Nữ thần Mẹ. Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng để bao
hàm cả các nữ anh hùng trong dân gian - những người phụ nữ có thật nổi lên
Như vậy, cách bài trí trong điện thờ Mẫu của Tứ Phủ, đền được mô tả theo tự
nhiên của bốn hình thái cơ bản của địa lý và thiên văn có mối quan hệ gắn bó
mật thiết với cuộc sống con người.
Cũng giống như các tin ngưỡng khác ở Việt Nam, đạo Mẫu cũng vẫn chịu
ảnh hưởng của đạo Phật cho nên trên cùng của điện thờ Mẫu có tượng phật để
thờ thêm. Cũng cần phải nhấn mạnh thêm sự ảnh hưởng sâu rộng của tín ngưỡng
thờ Mẫu - tín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng khác du nhập từ bên ngoài vào
theo con đường khởi nguyên từ dân gian như Phật giáo - một tín ngưỡng đã
được nhân dân lao động hồ hởi đón nhận ngay từ khi mới được truyền bá vào
nước ta (khoảng thế kỷ thứ VI) để thấy được vai trò của người phụ nữ trong xã
hội, đặc biệt là trong nền nghệ thuật của nước nhà. Trong quá trình tín ngưỡng
thờ Phật du nhập vào nước ta, các bộ phận quan trọng của tín ngưỡng này đã
phát triển theo khuynh hướng dân gian hóa giữa tín ngưỡng thờ Phật và tín
ngưỡng thờ Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau. Điều dễ nhận
biết nhất là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu.
11
Trong đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu”. Người ta đi chùa vừa để lễ
Phật, vừa để cúng Mẫu. Nhiều khi điện Mẫu đã tạo nên không khí ấm cúng, gần
gũi nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng. Ở Bắc Giang, phần lớn các ngôi chùa
đều có ban thờ Mẫu, tiêu biểu là khu thắng cảnh Suối Mỡ, huyện Lục Nam trong
đó có các di tích nổi tiếng như đền Hạ, đền Trung, đền Thượng lại thờ Mẫu là
chính, trong đền có những tượng Mẫu rất đẹp cả về mỹ thuật và nghệ thuật tạo
hình.
Không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa, mà còn có con đường
ngược lại Phật đi vào đền, phủ thờ Mẫu. Trong điện thần cũng như cách thức
phối tự ở các ngôi đền, phủ ta đều thấy sự hiện diện của Phật, mà đại diện cao
nhất là Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Cũng cần phải nhấn
mạnh rằng: Quan Âm trong Phật giáo Ấn Độ vốn là một nam thần, nhưng khi
vào nước ta đã bị “nữ thần hóa”, thậm chí “Mẫu hóa” để trở thành Quan Âm
Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Trong các ngày giỗ Mẫu, giỗ
thấy giá trị cơ bản nhất trong tranh tượng thờ Mẫu chính là ở sự dân gian hóa
các bức tranh thờ, tượng thờ ở mức độ khái quát nhất, tiêu biểu nhất để trở thành
sức mạnh tâm linh, sức mạnh tinh thần cho con người. Bởi thế bất kỳ ai khi đến
với các đền phủ thờ Mẫu, được chiêm bái trước tranh thờ, tượng thờ, các cảnh
vật và hương sắc trong đền, phủ đều thấy rất gần gũi, ấm áp, thanh bình.
13
Chương 3
VẬN DỤNG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
3.1 Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Trong 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tục thờ Mẫu chỉ có ở
Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đó là các phong tục tập
quán có từ lâu đời, từng hun đúc lên sức mạnh của nhân dân trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc; là nền tảng đạo đức trong cách thức ứng xử giữa
con người với con người, được thể hiện ở sự kính trọng với những người đã sinh
thành ra mình, những người có công với dân, với nước. Tất cả những nghi lễ, tập
tục cổ truyền tốt đẹp cần phải được giữ gìn và phát huy trong xu thế toàn cầu
hóa trên mọi lĩnh vực đang phát triển nhanh, mạnh và rộng khắp nhưng không
làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống.
Đến ngày nay đạo Mẫu vẫn luôn tồn tại và phát triển bởi đạo Mẫu không
đóng khung trong những giáo điều luật lệ mà luôn thay đổi thích nghi phù hợp
với cộng đồng để có thể tiếp nhận nó. Đạo Mẫu hướng về thế giới hiện tại chứ
không phải mai sau hay thế giới bên kia, đây là điểm khác biệt của đạo Mẫu với
các tôn giáo khác.
3.2 Vận dụng tín ngưỡng thờ Mẫu trong việc dạy học môn Cơ sở Văn hóa Việt
Nam
Trong điều kiện hiện nay người ta lợi dụng đạo Mẫu và lên đồng vì tiền
tài làm biến dạng nhiều nghi lễ sinh ra nhiều hủ tục, vì vậy chúng ta phải chấn
chỉnh đạo Mẫu để trả lại cho đạo Mẫu những giá trị đích thực của nó. Ngoài ra
hóa Việt Nam. Ý thức rõ điều đó, trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
IX) cũng như Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới, khi đề cập đến mục tiêu chiến lược, Đảng ta thể hiện
rõ quan điểm bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và
chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
Cũng trên tinh thần đó, mỗi học viên Trường Sĩ quan Pháo binh phải
không ngừng học tập để bảo vệ và phát huy nhưng giá trị của nền văn hóa Việt
Nam. Nghiên cứu và tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam để
chúng ta có thêm kiến thức xã hội và ngày càng tự hào hơn về những nét đẹp
trong văn hóa của dân tộc ta, đất nước ta, cùng chung tay xây dựng một nước
Việt Nam không những giàu mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng mà
còn làm cho bạn bè thế giới biết đến Việt Nam với một đất nước có một nên văn
hóa tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dân tộc.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội
[2]. Trần Ngọc Thêm (2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. Hồ
Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh
[3]. Trần Quốc Vượng (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội
[4]. Website của Ban Tuyên giáo chính phủ: www.tuyengiao.vn
[5]. Website của Trung tâm Văn hóa học và lý luận ứng dụng:
www.vanhoahoc.vn
17