BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
*** PHẠM THỊ DIỆP PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
TẠI NHÀ THUỐC BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2014 LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS.Nguyễn Thị Thanh Hương – Phó trưởng bộ môn Quản lý và kinh tế
Dược – người đã giành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cám ơn sâu sắc tới:
-Các thầy cô trong Bộ môn quản lý kinh tế Dược và các thầy cô trong
trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt các kinh nghiệm và tận tâm
hướng dẫn những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường.
-Ban giám hiệu nhà trường và phòng sau đại học trường Đại học Dược
Hà Nội đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập.
-Ban giám đốc Bệnh viện Thanh Nhàn, các ban phòng tổ chức của
Bệnh Viện đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập số liệu, thông tin hữu ích cho
luận văn này.
Dược Hà Nội
NỘI DUNG SỬA CHỮA, HOÀN CHỈNH
Những nội dung đã được sửa chữa theo yêu cầu của Hội đồng
-Chỉnh sửa tên đề tài phù hợp với nội dung và mục tiêu nghiên cứu.
-Cụ thể các chỉ tiêu nghiên cứu.
-Làm rõ nội dung nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 14 tháng 7 năm 2014
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn Học viên
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương Phạm Thị Diệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
15 NTBV Nhà thuốc bệnh viện
16 WHO Tổ chức y tế thế giới
17 ĐK Định kỳ
18 ĐX Đột xuất
19 CBCNV Cán bộ công nhân viên
20 DS Dược sỹ
21 DSĐH Dược sỹ đại học
22 DSCĐ Dược sỹ cao đẳng
23 SOP Quy định thao tác chuẩn
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Nhà thuốc bệnh viện…………………………… 3
1.1.1. Vai trò của nhà thuốc bệnh viện và sự quản lý nhà thuốc bệnh
viện …………………………………… ………………………… …3
1.1.2. Cơ sở pháp lý hoạt động quản lý nhà thuốc bệnh viện 3
1.1.3. Tổ chức nhà thuốc bệnh viện 4
1.2. Thực trạng nhà thuốc bệnh viện ở Việt Nam 12
1.2.1. Giai đoạn trước năm 2011…………………………………………12
1.2.2. Từ năm 2011 đến nay ………………………………………….…14
1.3. Một số nét về Bệnh viện Thanh Nhàn 15
1.3.1. Mô hình tổ chức bệnh viện 16
1.3.2. Cơ cấu nhân lực bệnh viện 18
1.3.3. Mô hình bệnh tật của bệnh viện 19
3.5.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 46
3.5.3. Đánh giá một số chỉ tiêu lợi nhuận của nhà thuốc 46
3.5.4. Hiệu quả quản lý thuốc trong kho 47
3.5.5. Một số chỉ tiêu phục vụ bệnh nhân 48
3.5.6. Một số chỉ tiêu nhập thuốc 48
3.5.7. Một số chỉ tiêu dược lâm sàng và thực hiện qui chế dược
chính………………………………………………………………………… 49
3.5.8. Một số chỉ tiêu về mức độ đảm bảo nhu cầu thuốc và chất lượng
thuốc 50
Chương 4: BÀN LUẬN 51
4.1. Về tổ chức 51
4.2. Về nhân lực 51
4.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà thuốc 54
4.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn của nhà thuốc 54
4.3.2. Hiệu quả quản lý thuốc tồn trữ 55
4.3.3. Về phục vụ bệnh nhân 56
4.3.4. Đánh giá về công tác nhập thuốc 56
4.4. Quản lý vốn và trang thiết bị 57
4.5. Hoạt động cung ứng thuốc 58
4.6. Hoạt động quản lý giá 60
Kết luận và kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số
bảng
Tên bảng Trang
1.1 Cơ cấu nhân lực bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013 18
1.2
Mô hình bệnh tật của bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013
19
3.1
Cơ cấu nhân lực tại nhà thuốc bệnh viện Thanh Nhàn năm
2013
26
3.2 Nội dung đào tạo của nhà thuốc bệnh viện Than Nhàn năm
2013
28
3.3 Cơ cấu vốn tại nhà thuốc bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013
30
3.4 Cơ cấu trang thiết bị theo bộ phận quản lý tại nhà thuốc
bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013
32
3.5
Điều kiện bảo quản tại nhà thuốc bệnh viện Thanh Nhàn
36
3.6 Giá hàng hóa tại nhà thuốc bệnh viện Thanh Nhàn 2013 37
3.7 Cơ cấu danh mục thuốc theo tác dụng dược lý 39
3.8 Cơ cấu thuốc theo tên chung quốc tế và tên biệt dược 41
3.9
Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
42
DANH MỤC HÌNH
Số
hình
Tên hình Trang
1.1 Sơ đồ mô hình tổ chức bệnh viện Thanh Nhàn 17
3.1 Vị trí mô hình tổ chức bệnh viện Thanh Nhàn 24
bán thuốc cao, bán thuốc hết hạn dùng. Theo một số nghiên cứu, báo cáo
gần đây, thực trạng nhà thuốc bệnh viện vẫn còn gặp nhiều khó khăn về
trang thiết bị, dụng cụ bảo quản, tồn trữ và đặc biệt là thiếu nhân lực
chuyên trách cho bộ phận nhà thuốc bệnh viện, tình trạng quá tải nhà thuốc.
Bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội là bệnh viện đa khoa hạng I trực
thuộc Sở y tế Hà Nội, hàng năm bệnh viện thu dung điều trị cho hàng trăm
ngàn bệnh nhân với nhu cầu thuốc điều trị là rất lớn. Hệ thống đảm bảo
cung ứng thuốc của Bệnh viện gồm 2 bộ phận cơ bản là khoa dược: cung
ứng thuốc cho bệnh nhân nội trú và nhà thuốc: cung ứng thuốc cho bệnh
nhân ngoại trú tự nguyện. Vì vậy, vai trò cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời,
đảm bảo chất lượng có ý nghĩa rất lớn nhằm góp phần nâng cao chất lượng
khám chữa bệnh của bệnh viện. Cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên
2
cứu về hoạt động quản trị nhà thuốc tại bệnh viện. Chính vì vậy, nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà thuốc Bệnh viện Thanh Nhàn chúng
tôi thực hiện đề tài: “Phân tích kết quả hoạt động tại nhà thuốc bệnh viện
Thanh Nhàn, thành phố Hà Nội năm 2013” với các mục tiêu sau:
1. Phân tích hoạt động nhân lực, vốn, trang thiết bị và cung ứng thuốc
tại nhà thuốc Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013.
2. Bước đầu đánh giá hiệu quả của các hoạt động này.
Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài chúng tôi sẽ đưa ra một số đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị của nhà thuốc bệnh viện.
kiện cho các thành phần kinh tế được tham gia vào quá trình kinh doanh
4
thuốc nói chung và bán lẻ thuốc nói riêng; đồng thời để đảm bảo an toàn
cho người bệnh và hiệu quả của thuốc điều trị. Nhà nước ta đã không
ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong hoạt động kinh doanh bán lẻ
thuốc (nhà thuốc, quầy thuốc) theo hướng công khai, minh bạch và thông
thoáng hơn. Mặc dù vậy, các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của
hệ thống phân phối bán lẻ thuốc là tương đối ổn định[5].
Hiện nay, hoạt động nhà thuốc được qui định trong các văn bản pháp
lý sau: Luật dược Số 34/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 14
tháng 6 năm 2005[23]; Nghị định 79/2006/NĐ-CP (2006)[16], Nghị định
89/2012/NĐ-CP (2012) của Chính phủ[17]; Và các thông tư của BYT gồm:
Thông tư Số: 02/2007/TT-BYT (2007)[7], Thông tư số 10/2013/TT-BYT
[15], Quyết định 11/2007/QĐ-BYT (2007)[8]. Đây là các cơ sở pháp lý
quan trọng tạo môi trường kinh doanh nhà thuốc, quầy thuốc được rõ ràng,
minh bạch và bình đẳng. Với nhà thuốc bệnh viện do đặc điểm đóng trong
khuôn viên bệnh viện với hoạt động phần nào được sự hỗ trợ của nhà nước
(địa điểm, lương) và đặc thù là gắn với quá trình điều trị của bệnh viện,
mục tiêu phục vụ người bệnh nên ngoài những qui định như các nhà thuốc
thông thường nhà thuốc bệnh viện còn được qui định chi tiết tại Thông tư
Số: 15/2011/TT-BYT ngày 19 tháng 4 năm 2011 của BYT [13].
1.1.3. Tổ chức nhà thuốc bệnh viện
Mỗi bệnh viện có một đặc điểm khác nhau và nhu cầu thuốc của
người bệnh là khác nhau, nên khi tổ chức nhà thuốc các bệnh viện cần căn
cứ vào nhu cầu thực tế của mình để thành lập. Theo qui định của BYT, với
các bệnh viện hạng I trực thuộc tỉnh, Giám đốc bệnh viện phải tự tổ chức
nhà thuốc bệnh viện và chịu trách nhiệm về hoạt động (bao gồm cả đảm
bảo kinh phí) của nhà thuốc. Trường hợp không tự tổ chức được nhà thuốc,
tạo các kỹ năng cho phù hợp với yêu cầu công việc[13]. Theo tiêu chuẩn
GPP thì phụ trách nhà thuốc phải viết các qui trình thao tác chuẩn cho các
hoạt động mua thuốc, kiểm nhập; theo dõi bảo quản, ghi chép nhiệt độ, độ
6
ẩm; vệ sinh nhà thuốc và qui trình đào tạo cho các nhân viên trong nhà
thuốc[14]
-Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Đặc điểm nhà thuốc bệnh viện là kinh doanh dược phẩm với mục
tiêu quan trọng nhất là phục vụ bệnh nhân trong bệnh viện khi có yêu cầu.
Do đó cơ sở vật chất, các trang thiết bị của nhà thuốc BV là tương đối ít.
Cơ sở vật chất của các nhà thuốc bệnh viện hiện nay đa số được bố trí trong
một khu vực gồm một phòng xây kiên cố có thể có vách ngăn tạm thời
hoặc không để phân chia thành các khu vực. Trang thiết bị chỉ phục vụ bảo
quản, bán hàng, trưng bầy: tủ quầy, giá kệ, điều hoà nhiệt độ, tủ mát, tủ
lạnh, dụng cụ gia lẻ thuốc, máy vi tính. Mặc dù các cơ sở vật chất của nhà
thuốc BV chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong bệnh viện nhưng trước khi thành lập
và trong quá trình hoạt động cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Trước khi thành lập BV phải xác định qui mô của nhà thuốc, dự kiến
số lượng bệnh nhân mua trong ngày, số lượng thuốc tồn trữ trong nhà thuốc
để từ đó xác định diện tích, số trang thiết bị đặt trong nhà thuốc cho phù
hợp. Theo qui định của GPP nhà thuốc bệnh viện tối thiểu phải có 10 m
2
cho khu vực trưng bày bảo quản[14], trang thiết bị phải có đầy đủ để phục
vụ bảo quản thuốc. Trong nhà thuốc phải có khu bảo quản cho các thuốc có
yêu cầu đặc biệt như thuốc tránh ánh sáng, thuốc bảo quản mát, bảo quản
lạnh, thuốc gây nghiện hướng tâm thần và tiền chất; phải thực hiện chia
khu vực riêng: thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, dụng cụ, vật tư y tế.
bệnh viện, đối tượng phục vụ chủ yếu là các bệnh nhân điều trị trong bệnh
viện, vì vậy Nhà thuốc BV rất thuận lợi trong việc xác định số lượng từng
mặt hàng của mình. Số lượng thuốc tiêu thụ phụ thuộc vào MHBT của
bệnh viện, khả năng chi trả của bệnh nhân, trình độ điều trị của bác sỹ và
trang thiết bị của bệnh viện. Nhà thuốc BV căn cứ vào các yếu tố này kết
8
hợp với DMT đã được phê duyệt của lãnh đạo bệnh viện thiết lập bản dự
trù thuốc trình lãnh đạo bệnh viện.
- Mua thuốc: Sau khi có dự trù thuốc đã được phụ trách nhà thuốc
phê duyệt nhà thuốc thực hiện đánh giá các nhà cung cấp, thương thảo giá,
điều kiện giao nhận hàng với các nhà cung cấp, xin ý kiến lãnh đạo bệnh
viện và soạn thảo hợp đồng nếu cần thiết. Về nguyên tắc, do nhà thuốc là
bệnh viện tự hạch toán nên các nhà cung cấp và giá cả tự bệnh viện quyết
định và giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, theo qui định của
BYT, với các thuốc có trong danh mục thuốc trúng thầu vào bệnh viện thì
giá mua thuốc của nhà thuốc không được cao hơn giá trúng thầu vào bệnh
viện cùng thời điểm; với các thuốc không có trong danh mục này hoặc do
nhà cung cấp không đảm bảo được do giá hàng hóa biến động các nhà cung
cấp không đảm bảo thì giá mua không được cao hơn giá kê khai. Thuốc
mua phải có nguồn gốc rõ ràng về: nguồn gốc xuất sứ, có số đăng ký của
BYT, có đầy đủ giấy tờ, hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Theo qui định về GPP
của BYT, bắt buộc nhà thuốc phải có hồ sơ đánh giá nhà cung cấp và qui
trình mua thuốc phải được xây dựng thành một qui trình thao tác chuẩn
được phê duyệt ban hành chính thức bằng văn bản. Nhìn chung, qui trình
mua thuốc của các bệnh viện công lập được thực hiện mua thuốc theo qui
định của Bộ tài chính cho các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu[13].
- Nhận hàng và Kiểm nhập: sau khi đặt hàng, nhà thuốc theo dõi đơn
hàng căn cứ vào điều kiện giao nhận trong hợp đồng mua bán nhà thuốc
nguyên tắc kê đơn thuốc điều trị ngoại trú được qui định tại Quyết định số
04/2008/ QĐ- BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế[9]. Về mặt
nguyên tắc, các bệnh nhân điều trị nội trú thuốc được khoa dược đảm bảo
tuy nhiên, thực tế hiện nay tại các nhà thuốc cũng có một số lượng không
nhỏ bệnh nhân điều trị nội trú cũng tự nguyện mua thuốc sử dụng; với các
bệnh nhân này đòi hỏi khi mua thuốc thuộc nhóm thuốc kê đơn nhà thuốc
cũng thực hiện bán thuốc theo như một đơn thuốc điều trị ngoại trú.
10
Sau khi kiểm tra kiểm tra đơn thuốc nhân viên nhà thuốc thực hiện
lấy thuốc, chuẩn bị thuốc để giao cho bệnh nhân, tư vấn sử dụng thuốc, thu
tiền và giao cho bệnh nhân. Với các thuốc ra lẻ không còn bao bì ngoài,
nhà thuốc thực hiện ghi nhãn thuốc theo đúng qui chế nhãn thuốc theo
thông tư Số: 04 /2008/TT-BYT [10], các thuốc này cũng cần phải được để
vào trong các bao bì thích hợp, giao thuốc cho bệnh nhân thực hiện kiểm
tra đối chiếu: đối chiếu tên thuốc, số lượng thuốc thực tế với đơn thuốc, hóa
đơn thanh toán (nếu có)[11].
Hiện nay, tại một số nhà thuốc BV hoạt động bán thuốc được thực
hiện bởi hai bộ phận độc lập: nhân viên nhà thuốc và bộ phận tài chính thu
tiền. Với phương pháp quản lý này sẽ tránh được thất thoát tài chính và
giảm ngánh nặng cho nhân viên bán thuốc và giảm thiểu được tình trạng
thừa thiếu thuốc, tiền khi bán thuốc. Nhưng với phương pháp này cũng làm
tăng tính phức tạp khi mua thuốc, tăng thời gian mua thuốc của bệnh nhân
và phải bố trí thêm nhân viên thu ngân cũng như cơ sở vật chất trang bị cho
bộ phận thu ngân làm việc.
- Bảo quản và theo dõi chất lượng hàng hóa: hàng hóa trong nhà
thuốc phải được sắp xếp bảo quản đúng qui chế. Với thuốc do đặc thù có
tiêu chuẩn đòi hỏi độ an toàn cao và dễ ảnh hưởng bởi các yếu tố môi
trường: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng nên thuốc phải được bảo quản trong đúng
định, chi phí mặt bằng. Với các nhà thuốc do bệnh viện tự tổ chức thì một
số chi phí như: chi phí mặt bằng, nhân công, khấu hao tài sản cố định có
thể được đảm bảo từ ngân sách nhà nước do thành lập để phục vụ phúc lợi
xã hội. Tuy nhiên, để tiết kiệm nguồn lực cho ngành y tế và ngân sách nhà
nước thì nhà thuốc BV cũng cần phải thực hiện quản lý chặt chẽ các chi
phí, cân đối các chi phí một cách phù hợp để sao cho số chi phí này là thấp
nhất mà vẫn đảm bảo được cho các hoạt động của nhà thuốc. Ngoài ra việc
tiết kiệm chi phí sẽ làm tăng một số nguồn thu nhất định cho nhà thuốc, nhà
12
thuốc có thể sử dụng để khuyến khích nhân viên. Cho đến nay, ở nước ta
chưa có qui định nào yêu cầu các bệnh viện phải tự cân đối chi trả tiền
lương cho các nhân viên trong nhà thuốc, trừ các nhân viên hợp đồng ngoài
biên chế như các nhân viên ở các bộ phận khác trong bệnh viện.
1.2. Thực trạng nhà thuốc bệnh viện ở Việt Nam
1.2.1.Giai đoạn trước năm 2011
Ở nước ta, từ sau năm 1975, nhà thuốc bệnh viện được thành lập trên
cơ sở quyết định số Quyết định 3016/1999/QĐ-BYT ngày 06/10/1999 của
Bộ trưởng BYT [6]. Theo quyết định này thì nhà thuốc bệnh viện chỉ được
thành lập do bệnh viện tự tổ chức hoặc do Doanh nghiệp dược nhà nước
mở trong khuôn viên bệnh viện. Với trường hợp bệnh viện tự tổ chức thì
giám đốc bệnh viện cử 01 DSĐH ra phụ trách và một số nhân viên chuyên
môn dược ra phụ giúp. Không được sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp của
bệnh viện (kể cả nguồn việc trợ và viện phí) để làm vốn hoạt động cho Nhà
thuốc bệnh viện. Sau đó do có sự thay đổi về một số văn bản liên quan:
Luật Dược, Qui định niêm yết giá thì BYT ban hành Quyết định Quyết
định 24/2008/QĐ-BYT ngày 11/7/2008[12]; nội dung của Quyết định nay
không khác nhiều so với Quyết định 3016/1999/QĐ-BYT [12],[6].
* Một số thành quả đạt được của nhà thuốc BV
và việc quản lý thuốc, giá thuốc xuất hiện, có khi cơ quan quản lý phải
đứng ra dàn xếp.
- Với loại NTBV do chính BV lập ra: BV đứng ra tổ chức hay cho
một nhóm CBCNV đấu thầu tổ chức ra NTBV. Vì quyền lợi của tập thể
hay nhóm NTBV này cũng thực hiện việc móc nối với thầy thuốc, bán giá
thuốc cao hơn, tuy rằng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của BV, họ làm đúng với
Quyết định 3016/QĐ-BYT, 24/2008/QĐ-BYT hơn, những vi phạm tuy có
nhưng chỉ ở mức độ nhất định. 14
1.2.2.Từ năm 2011 đến nay
Trước thực trạng còn nhiều khó khăn, bất cập của Nhà thuốc BV
Thanh Nhàn, năm 2011, BYT ban hành thông tư Số: 15/2011/TT-BYT Quy
định về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện.
Thông tư này có một số nội dung thay đổi đáng chú ý so với các qui định
trước đây: Vốn kinh doanh của nhà thuốc không qui định cụ thể về việc tạo
nguồn; Đối với các mặt hàng thuốc có trong danh mục đấu thầu của chính
bệnh viện: Giá thuốc mua vào của cơ sở bán lẻ thuốc không được cao hơn
giá thuốc trúng thầu cùng thời điểm và không được cao hơn giá đăng ký kê
khai hoặc kê khai lại tại Cục quản lý dược.Còn lại các nội dung khác, về cơ
bản giống với các qui định trước đây[13].
Mặc dù đã có những sự chấn chỉnh kịp thời của BYT với hoạt động
của nhà thuốc bệnh viện, tuy nhiên hiện nay nhà thuốc bệnh viện vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập:
- Thông tư 15/2011/TT-BYT vẫn qui định các nhà thuốc BV phải có
DSĐH phụ trách và trong thời gian hoạt động của nhà thuốc bắt buộc phải
có ít nhất 01 DSĐH phụ trách chuyên môn cho nhà thuốc. Qui định này
gây khó khăn cho các bệnh viện khi triển khai nhà thuốc do thiếu DSĐH.